Ý Nghĩ Sai Lầm Về Đức Tin – Đức Tin Thiếu Hành Động
Những năm tháng cuối cùng của đế quốc La Mã được nhớ là thời gian của “giải trí và thức ăn” (circus and bread). Gọi là thời gian của giải trí và thức ăn bởi vì trong thời gian đó dân sự La Mã chỉ biết đến hai điều này, ngoài ra không màng gì đến những việc khác. Đế quốc yếu đuối? Mặc kệ. Chỉ cần thức ăn đầy đủ và được giải trí là đủ rồi. Một cách giải trí phổ thông nhất của dân chúng lúc bấy giờ là giác đấu (gladiator). Người giác đấu thường là những kẻ tù phạm hay nô lệ mạnh khỏe biết xử dụng vũ khí. Họ được huấn luyện để đấu với nhau cho đến chết trước các đấu trường rộng lớn hàng chục ngàn dân sự reo hò, cổ vỏ. Biết bao nhiêu xác chết trong các đấu trường, bao nhiêu máu đã đổ ra để làm thú vui cho một dân sự không còn biết đúng sai, biết đạo lý làm người. Nhưng chớ nghĩ rằng những người dân vô tâm này chỉ là những người ngoại đạo mà còn có biết bao nhiêu người gọi mình là người tin Chúa, người Cơ Đốc (Christian) cũng cổ vỏ cho những cuộc giác đấu dã mang, đẫm máu này. Ngay cả đại đế Honorius, đầu thế kỷ thứ 5, là người tin Chúa cũng tổ chức những cuộc giác đấu này.
Vào khoảng năm 400 có một tu sĩ sống tại vùng Tiểu Á tên Telemachus. Trong thời ông sinh sống, giác đấu là thú giải trí thịnh hành nhất tại thủ đô La Mã. Telemachus đau lòng khi biết đại đế Honorius là người tin Chúa lại tổ chức những cuộc giác đấu và biết bao nhiêu người Cơ Đốc cũng hò reo cỗ võ khi những người giác đấu giết nhau. Ông cố khuyên răn tín hữu nhưng không kết quả. Sau khi cầu nguyện, Telemachus quyết định đi đến thủ đô La Mã. Bấy giờ cả thủ đô ăn mừng chiến thắng trước giặc Goths. Và dĩ nhiên tiệc mừng chiến thắng không thiếu phần giải trí: giác đấu tại đấu trường. Telemachus cũng theo đám đông đến giác đấu trường. Tại đó người tu sĩ nhỏ bé này chứng kiến tận mắt những người giác đấu đến trước đại đế, chào với lời: “Chúng tôi là những người sẽ chết chào đại đế” (We who are about to die salute you). Ông chứng kiến cảnh dã man khi hai người giác đấu giết nhau cách tàn nhẫn nhất trước sự reo hò, cổ võ của dân chúng. “Trong danh của Đấng Christ hãy dừng lại!”, Telemachus kêu lên. Nhưng tiếng kêu của ông bị át mất bởi hàng ngàn tiếng reo la của đám đông. Ông vạch đám đông đi xuống, trèo qua tường nhảy vào giác đấu trường đang khi họ tìm cách giết nhau để được sống. “Trong danh của Đấng Christ hãy dừng lại!” Telemachus lập đi lập lại lời cầu khẩn này. Dân chúng la thét đuổi tên tu sĩ đó ra. Rồi ông bị đâm bởi tên giác đấu và dân chúng ném đá ông cho đến chết giữa giác đấu trường. Bỗng nhiên cả thí trường im lặng để nghe tiếng kêu cuối cùng của Telemachus “Trong danh của Đấng Christ hãy dừng lại!” Sau cái chết của người tu sĩ, đại đế Honorius ra xắc lệnh hũy bỏ trò giác đấu. Trận giác đấu cuối cùng trong xứ La Mã vào ngày 1 tháng 1, 404AD. Đây cũng là ngày người ta cho là ngày tử đạo của vị tu sĩ Telemachus.
Đạo Chúa không phải chỉ có đức tin và cầu nguyện, dù hai điều này vô cùng quan trọng, nhưng còn có hành động. Nếu không có hành động can đảm của Telemachus không biết bao nhiêu máu phải đổ ra nữa vì những cuộc giác đấu man rợ này. Chính hành động can đảm ông đã thể hiện đức tin trong Chúa. Chúng ta đọc trong sách Hê-bơ-rơ về gương đức tin của người xưa. Mỗi anh hùng, liệt nữ của đức tin đều thể hiện qua hành động. {Đọc Hê-bơ-rơ 12:7, 8, 23, 24, 30, 31…}
Trước khi về trời ĐCJC nhắn dạy các môn đồ trong Mathiơ 28:18-20. Chú ý trong hai câu KT này có bao nhiêu động từ: hãy đi, dạy dỗ, làm phép báp-tem, dạy họ điều ta đã truyền cho. Chúa truyền cho các môn đồ Ngài về nước Trời, về cách sống đạo thế nào? Ngôi Hai phải hạ thế xuống trần sống cuộc đời phàm nhân rồi trong ba năm dạy đạo trong khắp xứ Giu-đê. Ngay cả Chúa chúng ta cũng đã hành động, huống chi các môn đồ Ngài, huống chi chúng ta là những người theo Chúa. Chúa dạy các môn đồ phải hành động, đem Tin Lành đến mọi người, dạy dỗ, thực hiện nghi lễ Chúa để lại. Chúng ta có cần cầu nguyện? Dĩ nhiên. Nhưng nếu không có hành động, việc làm thì có giá trị gì?
Trước Telemachus có biết bao nhiêu tín đồ vì đức tin mà hành động. Và sau ông đạo Chúa được thể hiện qua hành động của người tin Chúa. Quý vị có biết ai lập ra các cô nhi viện, trường học, bệnh viện, nơi ở cho người phung cùi, xóa bỏ nạn buôn bán nô lệ? Người tin Chúa. Tại sao? Bởi vì họ tin rằng đức tin cần gắn liền với hành động, đức tin phải đem lại thay đổi cho bản thân, gia đình, hội thánh, xã hội.
BỐN Ý NGHĨ SAI LẦM VỀ ĐỨC TIN
Có bốn ý nghĩ sai lầm về đức tin trong vòng tín đồ.
Đức tin thật sự chỉ thể hiện qua sự cầu nguyện. Khi cầu nguyện ĐCT sẽ hành động cho mình.
Đức tin thật sự khi chúng ta không hành động, kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi biết thật rõ ý Chúa.
Đức tin thật sự không cần thiết phải dự tính, chuẩn bịnh. Chính Chúa sẽ hướng dẫn, chỉ dạy chúng ta trong bước tới.
Đức tin thật sự không cần sự trợ giúp của người khác. Chính Chúa sẽ giúp tôi đứng vững. Tôi không cần ai, chỉ cần Chúa.
ĐỨC TIN & CẦU NGUYỆN
Đức tin thật sự chỉ thể hiện qua sự cầu nguyện. Khi cầu nguyện ĐCT sẽ hành động cho mình. Theo ý nghĩ này đức tin thật sự, đức tin mạnh mẽ nhất, quí báu nhất, cao trọng nhất là đức tin chỉ thể hiện qua sự cầu nguyện. Chẳng phải Chúa dạy trong Mathiơ 9:38 Mùa gặt thì thật trúng song con gặt thì ít. Vậy hãy cầu xin (cầu nguyện cùng) chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình. Hay như Phao Lô viết cho các tín đồ Cô-lô-se 1:9 Cho nên, chúng tôi cũng vậy, từ ngày nhận được tin đó, cứ cầu nguyện cho anh em không thôi, và xin Đức Chúa Trời ban cho anh em được đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Ngài, với mọi thứ khôn ngoan và hiểu biết thiêng liêng nữa. Không phải PL cầu nguyện xin Chúa cho các tín đồ được đầy dẫy mọi sự hiểu biết, khôn ngoan hay sao? Nhưng xin chớ quên rằng Chúa cũng dạy hãy đi khắp nơi rao giảng Tin Lành. PL cũng dạy phải cẩn thận mà sống theo lời Chúa để có thể hiểu biết thêm về Chúa.
Chẳng phải chính ĐCJC dạy các môn đồ: Nếu các ngươi trộng bằng hột cải, các ngươi khiến cho cây dâu này rằng: Hảy nhổ đi mà trồng dưới biển, thì nó sẽ vâng lời (Lu-ca 17:6). Hay như trong Mathiơ 17:20 khi các môn đồ không đuổi quỉ được Chúa trả lời họ: Nếu các ngươi có đức tin bằng một hột cải, sẽ khiến núi này rằng: Hãy dời đây qua đó, thì nó liền dời qua, và không có sự gì mà các ngươi chẳng làm được. Vậy nếu đức tin mạnh đủ thì Chúa sẽ ban cho năng quyền để hành động. Thiếu năng quyền đó là bởi vì thiếu đức tin, chớ không phải thiếu hành động.
Nhiều tín đồ nghĩ rằng đức tin thật sự là đức tin để Chúa hành động. Như khi Chúa giáng 10 tai họa đến xứ Ai Cập hay như khi Chúa tẻ nước biển đỏ để dân sự đi qua hay như khi Ngài làm cho thành Giê-ri-cô kiên kế phải xụp đổ. Tuy nhiên họ quên rằng trước khi Chúa giáng 10 tai họa, Ngài sai Mô-se và A-rôn đến để đòi vua Ai Cấp cho dân sự đi thờ phượng Chúa trong đồng vắng. Và khi Pharaôn cứng lòng Chúa hành động. Họ có thể quên rằng trước khi Chúa khiến thành Giêricô xụp đổ thì dân sự đi vòng quan thành 7 ngày.
KT dạy chúng ta phải cầu nguyện. Ngay chính ĐCJC cũng đã cầu nguyện rất nhiều khi Ngài hành sự. Trước khi chọn 12 sứ đồ Chúa cầu nguyện suốt đêm. Mục đích của cầu nguyện không phải chỉ để cầu nguyện. Nhưng mục đích của sự cầu nguyện là để xin Chúa thêm sức, nghị lực để hành động, xin cho sự thông sáng để quyết định, để biết cư xử đẹp lòng Chúa với mọi người. Tín đồ có thể cầu nguyện từ ngày này qua tháng nọ nhưng nếu không hành động HT cũng không bao giờ thêm người mới hay cơ sở được sạch sẽ, khang trang. Vâng chúng ta cần cầu nguyện, phải cầu nguyện nhưng cầu nguyện rồi để hành động hay cầu nguyện trong khi đang hành động. Chứ không phải dùng sự cầu nguyện như là cái cớ để không hành động!
ĐỨC TIN & CHỜ ĐỢI
Đức tin thật sự khi chúng ta không hành động, kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi biết thật rõ ý Chúa. Lại có nhiều tín đồ tin rằng chúng ta không nên hành động cho đến khi nghe thật rõ tiếng của Chúa. Hành động trước khi nghe được tiếng Chúa là thiếu đức tin.
Một người tín đồ hết sức tin kính Chúa chạy quanh một bải đậu xe đầy ấp trong mùa Giáng Sinh cố tìm được một chỗ đậu. Ông cầu nguyện thầm xin Chúa cho biết ông phải đậu nơi nào. Chạy một vòng ông vẫn chưa nghe tiếng Chúa; vài vòng cũng chưa nghe tiếng Chúa. Trong khi đó có nhiều chiếc xe rời chỗ đậu. Cuối cùng ông nghe tiếng Chúa phán: Tại sao con lại chờ nghe tiếng ta khi ta cho con thấy trước mắt điều con có thể làm là đậu vào nơi trống. Chúng ta cười khi nghe chuyện. Nhưng có nhiều tín đồ suy nghĩ và tin tưởng sai lầm rằng hành động trước khi nghe tiếng Chúa là thiếu đức tin.
Một dấu hiệu cho biết người tín đồ có thể đang trong tình trạng nguy hiểm về tâm linh là khi họ nói với mọi người: quyết định này chỉ giữa tôi và Chúa, tôi sẽ cầu nguyện cho đến khi nghe được tiếng Chúa. Rồi người tín đồ đó xa cách mọi người mà cầu nguyện riêng cho đến khi nghe tiếng Chúa. Chúa dùng nhiều cách thức khác nhau để cho chúng ta biết ý chỉ của Ngài: qua lời khuyên răn của người trưởng thành trong Chúa, của cha mẹ, mục sư, người hiểu biết, qua lời Chúa, qua hoàn cảnh. Chỉ chờ nghe được tiếng Chúa để biết ý Ngài qua sự cầu nguyện riêng tư, không cần đến ai, chờ để Chúa hành động cho mình là điều sai lầm, thậm chí có lúc trở nên nguy hiểm. Ý chỉ của ĐCT phải lúc nào cũng đến qua sự cầu nguyện nhưng đã được giải bày rõ ràng qua nhiều cách thức khác nhau. Người trưởng thành trong Chúa là người nhạy cảm hiểu được ý Chúa qua nhiều cách Chúa dùng, chớ không phải chỉ qua đức tin thể hiện qua sự cầu nguyện.
Nếu chúng ta chờ nghe tiếng Chúa trong mọi vấn đề của đời sống sáng nay quí vị chắc vẫn còn ở nhà! Chúa bày tỏ ý chỉ của Ngài trong rất nhiều vấn đề của đời sống. Vì vậy chúng ta biết phải làm gì. ĐCJC dạy môn đồ phải rao giảng Tin Lành, môn đồ hóa. Ngài dạy phải tha thứ, phải sống nhân hậu, phải thành thật, phải gìn giữ lời nói, suy nghĩ, phải làm việc để có ăn, chớ lười biếng mà siêng năng hầu việc Chúa. KT là kim chỉ nam cho đời sống và hầu hết mọi điều trong cuộc sống đều được giải bày trong KT để người tin Chúa biết mà làm theo. Vâng chúng ta có những quyết định cần được biết ý Chúa. Nhưng dùng điều này trong mọi lãnh vực của đời sống, trong sự hầu việc Chúa thì thật là sai quấy.
Xin chú ý lắng nghe lời của Phierơ trong 2 Phierơ 1:3-7. Phierơ dạy rằng ĐCT đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính. Vì lý do đó mà tín đồ phải hết sức cố gắng thêm cho đức tin mình sự nhân đức, thêm cho nhân đức học thức… Rồi Phierơ cảnh cáo nhưng ai thiếu những điều đó (đức tin mà thôi? Không, mà là các tính hạnh cần trao luyện) thì thành ra người cận thị, người mù.
ĐỨC TIN & DỰ TÍNH
Đức tin thật sự không cần thiết phải dự tính, chuẩn bịnh. Chính Chúa sẽ hướng dẫn, chỉ dạy chúng ta trong bước tới. Xin chú ý một lần nữa nghe lời Phierơ trong 1 Phierơ 3:15 Nhưng hãy tôn Đấng Christ, là Chúa, làm thánh trong lòng mình. Hãy thường thường (luôn luôn) sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy (đức tin vào Chúa) trong anh em, song phải hiền hoà và kính sợ. Phierơ dạy rằng tín đồ phải luôn luôn chuẩn bị, sẵn sàng để trả lời ai hỏi mình về đức tin, về Tin Lành, về KT, về Chúa…
Đa-vít dù biết mình không được Chúa chọn để cất đền thờ nhưng ông chuẩn bị vô cùng chu đáo từ vật liệu đến tiền của đến nhân lực để Sôlômôn có thể thực hiện việc xây cất.
ĐỨC TIN & H ỘI THÁNH
Đức tin thật sự không cần sự trợ giúp của người khác. Chính Chúa sẽ giúp tôi đứng vững. Tôi không cần ai, chỉ cần Chúa. KT dùng hình ảnh của hội thánh như một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau (1 Côrinhtô 12) . PL cũng dạy chính Chúa lập ra hội thánh và ban cho các ân tứ khác nhau để cùng làm việc chung. Đức tin tín đồ không thể tách rời khỏi hội thánh. Chúng ta không thể nói tôi có đức tin cá nhân nên không cần đến hội thánh sinh hoạt, thờ phượng Chúa. Tôi chỉ cần đọc KT mỗi ngày, cầu nguyện mỗi ngày, giúp đở người chung quanh thì đó là thể hiện của đức tin thật.
Tác giả sách Hêbơrơ dạy Chớ bỏ qua sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy. Chúng ta cần anh chị em trong Chúa hầu giúp cho đức tin chúng ta tăng trưởng, hầu có thể cùng chung cộng tác làm việc Chúa. Trong Chúa không có anh hùng cô độc (lone ranger). Hội thánh đầu tiên, các tín đồ đầu tiên nhóm nhau lại hàng ngày cùng nhau dự tiệc thánh và thông công, cùng nhau học lời Chúa, cùng tương trợ cho nhau trong đức tin.
Ai nói rằng đức tin thật sự là đức tin không cần đến người khác, chỉ một mình tôi với Chúa thì người ấy thật đáng lo.
