Vì Sao Tôi Tin Chúa Giê-xu: Lẽ Thật Cho Thế Kỷ 21
Bài giảng dựa theo bài diễn thuyết tại Harvard, 20 năm trước bởi John Stott. Is Jesus Christ Veritas for the 21st Century. Veritas = lẽ thật, sự thật
[Câu chuyện ĐCJC & Thô-ma, sứ đồ nghi ngờ sau khi Chúa sống lại từ cõi chết: Cách tám ngày, các môn đồ lại nhóm nhau trong nhà, có Thô-ma ở với. Khi cửa đang đóng, Đức Chúa Jêsus đến, đứng chính giữa môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi! 27 Đoạn, Ngài phán cùng Thô-ma rằng: Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây, và xem bàn tay ta; cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra và đặt vào sườn ta, chớ cứng lòng, song hãy tin! 28 Thô-ma thưa rằng: Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi! (Giăng 20:26-28)
Chúng ta không thấy Chúa thì làm sao có thể tin? Lý do gì khiến chúng ta có thể tin Jesus Christ? Vì sao tôi tin Jesus.
JÊSUS – TRỌNG TÂM CỦA NIỀM TIN CƠ ĐỐC
Trong tất cả các tôn giáo trên thế giới ngày nay, Cơ Đốc giáo (Christianity) có một đặc điểm duy nhất mà không tôn giáo này có. Niềm tin Cơ Đốc gắn liền vô cùng mật thiết vào Đức Chúa Jêsus Christ, một nhân vật có thật đã sinh ra, sống, chịu chết trên thập giá hơn 2000 năm trước đây. Căn bản quan trọng nhất của niềm tin Cơ Đốc là quan hệ cá nhân của người tin với Chúa Jêsus Christ. Tôi muốn lập lại và nhấn mạnh quan hệ cá nhân. Vâng người tin và theo Chúa có một quan hệ cá nhân với Đấng họ tôn thờ, tin tưởng.
Câu hỏi, vấn đề quan trọng nhất về đạo Chúa là biết ĐCJC là ai: Đức Chúa Jêsus đi khỏi đó với môn đồ mình, đến trong các làng gần thành Sê-sa-rê Phi-líp. Dọc đường, Ngài hỏi môn đồ rằng: Người ta nói ta là ai? Thưa rằng: Kẻ thì nói là Giăng Báp-tít; người thì nói là Ê-li; kẻ khác thì nói là một trong các đấng tiên tri. Ngài hỏi: Nhưng các ngươi thì nói ta là ai? Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ. Đức Chúa Jêsus bèn cấm ngặt môn đồ chớ nói sự mình cùng ai hết. (Mác 8:27-30) Cấm nói vì thời điểm chịu chết của Chúa chưa đến.
Chính vì vậy đạo Chúa và niềm tin vào Đức Chúa Trời hoàn toàn không thể tách rời với Jêsus Christ. Biết Jêsus, biết ĐCT. Sứ đồ PL, khi viết cho Ti-mô-thê, người con tinh thần trong lá thư cuối cùng vào những ngày tháng cuối đời từ tù ngục, chờ ngày xử tử, có lời sau: Ấy là vì Tin Lành đó mà ta đã được lập làm người giảng đạo, sứ đồ và giáo sư, ấy lại là cớ mà ta chịu khổ. Nhưng ta chẳng hề hổ thẹn vì biết ta đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó. (2 Timôthê 1:12) Vì cớ Ngài tôi chịu mất tất cả; tôi xem mọi sự như rác rến để có thể được Ðấng Christ 9 và được tìm thấy trong Ngài, không nhờ vào sự công chính của tôi đến từ Luật Pháp, nhưng nhờ đức tin nơi Ðấng Christ, tức sự công chính đến từ Ðức Chúa Trời đặt nền tảng trên đức tin, 10 để tôi được biết Ngài và quyền năng phục sinh của Ngài, được hiệp thông trong sự đau khổ của Ngài, được giống như Ngài trong sự chết của Ngài, 11 để nhờ đó tôi có thể đạt được sự sống lại từ cõi chết. (Phi-líp 3:8-11 – BD2011
PL nói với Timôthê ông đã biết được chân lý cho đời bởi vì chân lý đó nằm trong Đấng ông tin, Jêsus Christ. Ông không nói ông biết được ý nghĩa của toàn bộ lời dạy của Jêsus vì những lời dạy đó nhằm giúp ông sống, hành động, cư xử, nói năng như Chúa. Không nói ông biết đường dẫn đến thiên đàng, cửa mở đến nước Trời sáng láng, vì đường đến nước Trời là chính Jêsus Christ. Biết Jêsus, biết con đường đến sự sống vĩnh cửu nơi thiên đàng. Biết Jêsus, có đời sống bình an hôm nay và đời sống vĩnh hằng tương lai.
Một câu chuyện kể về người giáo sĩ nổi tiếng Ấn Độ tên Sundar Singh. Ông sinh cuối thế kỷ 19 trong một gia đình quyền thế đạo Sihk Ấn Độ. Khi lớn lên ông rất ghét đạo Chúa vì nghĩ đây là đạo ngoại quốc. Năm 15 tuổi ông chống đối đạo Chúa bằng cách đốt các sách Phúc Âm. Nhưng chỉ ba ngày sau khi được Chúa cứu và dù vẫn còn trong tuổi thiếu niên ông đã quyết định trở nên sadhu, người giảng lời Chúa. Một ngày ông có dịp đến viếng một học viện đạo Hindu. Khi trao đổi về đạo giáo, một giảng sư Hindu chất vấn giáo sĩ Sundar về giáo điều gì, triết lý nào, lời dạy nào ông đã tìm được trong Cơ Đốc Giáo mà đạo Hindu không có. Giáo sĩ Sundar trả lời: “Tôi tìm được Jêsus Christ”. Giảng sư ngắt lời và hỏi lại lần nữa, “Nhưng tôi muốn hỏi ông về chân lý gì, giáo điều gì mà ông không tìm được trong đạo Hindu?” Một lần nữa giáo sĩ Sundar trả lời, “Thưa thầy, điều tôi đã tìm được là Jêsus Christ”.
Ba điều quan trọng khi trả lời câu hỏi về ĐCJC và lẽ thật của thế kỷ 21:
Bối cảnh của câu hỏi (context of the question)
Không phải của thuyết tương đối: đúng cho anh chị, không đúng cho tôi
Không phải chủ nghĩa hòa đồng, đồng bộ (syncretism) – mọi tôn giáo, niềm tin đều như nhau, đều có giá trị, đều có lẽ thật nên tốt nhất là rút ra những tin túy của mỗi niềm tin, tôn giáo để phối hiệp, hòa đồng với nhau. Như đạo Hòa Hảo gọi là Hòa Đồng Tôn Giáo
Không phải chủ nghĩa đa nguyên: càng nhiều tôn giáo, nhiều niềm tin càng phong phú, càng chính xác, hợp lý, càng thật
Bản chất của câu hỏi (nature of the question)
Không phải về đạo Cơ Đốc, về tôn giáo
Không phải về hệ phái (Báp-tít, Tin Lành, Giám Lý) hay quốc gia, xã hội (Âu Châu, Á Châu)
Không phải về hội thánh
Nhưng về một người là Jesus Christ. Christ không phải là họ nhưng là danh chỉ về Jesus, Đấng được xức dầu, được ĐCT chọn.
ĐCJC là trung tâm điểm, là con tim, đầu nảo, là tất cả của niềm tin Cơ Đốc. Không có ĐCJC thì cũng không có đạo Chúa, bởi vì đạo Chúa gắn liền với thân vị của ĐCJC. Cho nên nếu chứng minh rằng Jesus không thật thì cả đạo Chúa cũng sẽ không còn giá trị gì.
Con người trong câu hỏi (person in question)
Không phải về hình ảnh của một Jesus được thay đổi để thích hợp với đối tượng, xã hội, phong tục, tập quán. Jesus Superstar nhạc kịch vào thập niên 1970 của Andrew Lloyd Webber chủ yếu nói về tâm lý của Jesus và các môn đồ trong đêm cuối theo quan điểm hiện đại, suy nghĩ của tác giả. Nhưng về Jesus Christ được ghi lại trong 4 sách Phúc Âm.
NĂM ĐIỀU ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ VỀ ĐCJC
Về lời tự xưng, tự nhận
Về sự chết
Về sự sống lại
Về vinh hiển ĐCT dành cho Ngài
Về ĐTL, Thần Lẽ Thật, Đấng Yên Ủi
ĐỘC NHẤT VỀ LỜI TỰ XƯNG, TỰ NHẬN
Những điều ĐCJC tự nhận:
Chọn những người thuộc về Ngài Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống. 31 Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia (Ma-thi-ơ 24:30-31)
Hoàn toàn vô tội (Giăng 8:46-47, người phụ nữ phạm tội tà dâm)
Con đường duy nhất đến ĐCT
Có từ trước vô cùng (Giăng 1:1-15, 17:5)
Là ĐCT
Là ứng nghiệm của mọi lời viết trong CU
Có thẩm quyền tha tội
Có quyền ban cho sự sống đời đời
Sẽ chịu chết và đến ngày thứ ba sẽ sống lại
Sẽ ngồi bên tay hữu (vị trí của thẩm quyền của ĐCT)
Sẽ phán xét thế gian
Sẽ trở lại thế gian lần thứ 2, không phải như người chịu chết cho tội nhưng như một vị vua cai trị cả thế giới.
Những lời tự nhận này hết sức phi thường và độc nhất, vô tiền khoán hậu, có 1 không 2.
12 điều ĐCJC tự nhận về Ngài có thể tóm lại trong ba điểm chính: 1) Tiên tri; 2) Thân vị; 3) Thẩm quyền
TIÊN TRI ỨNG NGHIỆM
Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin Lành. (Mác 1:15). Giờ đã đến, kỳ đã đến kiaros ple-ra-o (the time is fulfilled)
Có người trao sách tiên tri Ê-sai cho Ngài, Ngài dở ra, gặp chỗ có chép rằng: 18 Thần của Chúa ngự trên ta: Vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo; 19 Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, Kẻ mù được sáng, Kẻ bị hà hiếp được tự do; Và để đồn ra năm lành của Chúa. 20 Đoạn, Ngài xếp sách, trả lại cho kẻ giúp việc, rồi ngồi xuống; mọi người trong nhà hội đều chăm chỉ ngó Ngài. 21 Ngài bèn phán rằng: Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi mới vừa nghe đó. (Lu-ca 4:17-21)
Nhưng phước cho mắt các ngươi, vì thấy được; phước cho tai các ngươi, vì nghe được! 17 Quả thật, ta nói cùng các ngươi, có nhiều đấng tiên tri, nhiều người công chính đã ước ao thấy điều các ngươi thấy, mà chẳng được thấy; ước ao nghe điều các ngươi nghe, mà chẳng được nghe. (Ma-thi-ơ 13:16-17)
Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ (Giăng 8:56)
Có nghĩa là các tiên tri, người ngày xưa sống trong thời chờ đợi, mong ngóng, nhưng hôm nay chính mắt, chính ta các người đã thấy và nghe về sự ứng nghiệm, tức sống trong thời tiên tri đã ứng nghiệm. Vậy ĐCJC không phải là một trong số các tiên tri mà là Đấng Tiên Tri (viết bằng chữ hoa) ứng nghiệm theo lời các tiên tri đã viết. Ngài là hội kết của mọi nguồn, mọi lời tiên tri. Ngài là Tiên Tri, Thầy Tế Lê Cả cuối cùng. Vì vậy chúng ta phủ nhận đạo Mạc-môn và chứng nhân Giê-hô-va.
Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy. (Giăng 5:39).
Nhưng lạ lùng hơn hết là lời tự nhận chính mình là sự ứng nghiệm của mọi lời đã viết trong CU: Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. (Lu-ca 24:27)
Về câu chuyện Giáng Sinh trong Ma-thi-ơ 1:22-23 (Ê-sai 7:14, một nữ đồng trinh sẽ thụ thai); 2:5-6 (Mi-chê 5:2, Chúa Jesus sinh tại đâu); 2:15 (Ô-sê 11:1, ta gọi con ta từ xứ Ê-díp-tô), 2:17-18 (Giê-rê-mi 31:15, có tiếng than khóc từ Ra-ma, Rachel khóc cho con mình); 2:23; 3:3 (Ê-sai 40:3). Matthew trích dẫn KTCU trực tiếp khi viết về ĐCJC ít nhất 50 lần
THÂN VỊ & QUAN HỆ VỚI ĐCT
ĐCJC tự xưng mình là người hoàn toàn vô tội, không hề phạm một lỗi, một tội gì trong suốt 33 năm sống trên đất. [Câu chuyện người đàn bà phạm tội tà dâm bị bắt. Chúa bảo những người muốn ném đá: Ai trong các ngươi là người vô tội hãy trước nhất ném đá người này (Giăng 8:7)]
Ai trong các ngươi có thể chứng minh rằng Ta có tội được chăng? Nếu Ta nói sự thật, tại sao các ngươi không tin Ta? (Giăng 8:46-BD2011)
Một danh xưng được dùng để nói về ĐCJC là Con Loài Người (the Son of Man). Dù danh xưng này được dùng cho thiên sứ và những người khác trong KT: A-đam, Solomon, nhưng cách ĐCJC xưng mình khi dùng danh xưng này cho thấy rõ sự khác biệt giữa con loài người là những người được ĐCT sáng tạo (gồm cả thiên sứ), nhưng Con Loài Người đây là Con có cùng một thể như Cha.
Chúa dùng danh xưng này khi nói Ngài sẽ trở lại với quyền uy để nhóm lại những người Ngài đã chọn từ trước muôn đời: Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống. 31 Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia (Ma-thi-ơ 24:30-31
Chúa tự nhận rằng mình đã hiện hữu từ trước khi sáng thế, lúc Sa-tan từ thiên sứ trở nên ác quỉ: Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta đã thấy quỉ Sa-tan từ trời sa xuống như chớp. (Lu-ca 10:18). Đã hiện hữu trước khi có Áp-ra-ham ngàn năm về trước: Người Giu-đa nói rằng: Thầy chưa đầy năm mươi tuổi, mà đã thấy Áp-ra-ham! 58 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta. (Giăng 8:57-58)
ĐCJC tự nhận mình chính là ĐCT:
Ta với Cha là một. 31 Người Giu-đa lại lượm đá đặng ném Ngài 32 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta đã làm trước mắt các ngươi lắm việc lành bởi Cha đến; vì việc chi mà các ngươi ném đá ta? 33 Người Giu-đa trả lời rằng: Ấy chẳng phải vì một việc lành mà chúng ta ném đá ngươi, nhưng vì lỗi lộng ngôn: ngươi là người, mà tự xưng là Đức Chúa Trời. (Giăng 10:30-33)
Ví bằng các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta; và từ bây giờ các ngươi biết và đã thấy Ngài. 8 Phi-líp thưa rằng: Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi, thì đủ rồi. 9 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi Phi-líp, ta ở cùng các ngươi đã lâu thay, mà ngươi chưa biết ta! Ai đã thấy ta, tức là đã thấy Cha. (Giăng 14:6-9)
THẨM QUYỀN
Trong lời dạy như bài giảng trên núi: các ngươi có nghe lời nói rằng, nhưng ta bảo các ngươi. Khi Đức Giê-su dứt lời, đoàn dân đông vô cùng ngạc nhiên về sự dạy dỗ của Ngài, 29 vì Ngài dạy dỗ đầy quyền uy chứ không như các chuyên gia kinh luật của họ. (Ma-thi-ơ 7:28-29) Khi giảng dạy Chúa luôn nói về mình:
Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. (Giăng 14:6)
Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống. (Giăng 8:12)
Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. 26 Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng? (Giăng 11:25-26)
Ta là nước hằng sống, ai uống sẽ không bao giờ khác nữa. Ta là người chăn chiên nhân từ.
Chúa luôn nói về mình: Ta bảo các ngươi, Ta Ta Ta. Ngài không hề tựa vào một thẩm quyền nào khác dù là KTCU khi giảng dạy.
Trong sự tha thứ tội
Nầy, có người đem lại cho Ngài một người đau bại nằm trên giường. Đức Chúa Jêsus thấy đức tin của các người đó, thì phán cùng người bại rằng: Hỡi con, hãy vững lòng, tội lỗi con đã được tha. 3 Khi ấy, có một vài thầy thông giáo đều nghĩ thầm rằng: Người nầy nói lộng ngôn. 4Song Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng mấy thầy đó, thì phán rằng: Nhân sao trong lòng các ngươi có ác tưởng làm vậy? 5Trong hai lời nầy: một là nói, tội lỗi ngươi đã được tha; hai là nói, ngươi hãy đứng dậy mà đi, thì lời nào dễ nói hơn 6Vả, hầu cho các ngươi biết Con người ở thế gian có quyền tha tội (Ma-thi-ơ 9:2-5) Mác 2:1-12
Bấy giờ, có mấy người khiêng một kẻ đau bại trên giường, kiếm cách đem vào để trước mặt Đức Chúa Jêsus. 19 Nhân vì người ta đông lắm, không biết bởi đâu mà qua, họ bèn trèo lên mái nhà, dỡ ngói ra, dòng người và giường nhỏ xuống trước mặt Ngài, giữa đám đô hội. 20 Đức Chúa Jêsus thấy đức tin của họ, bèn phán rằng: Hỡi người, tội lỗi ngươi đã được tha. 21 Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si bèn nghị luận rằng: Người nầy là ai mà nói phạm thượng vậy? Ngoài Đức Chúa Trời, há có ai tha tội được sao? (Lu-ca 5:18-21)
Ngài bèn phán cùng người đàn bà rằng: Tội lỗi ngươi đã được tha rồi. 49 Các người ngồi bàn với Ngài nghĩ thầm rằng: Người nầy là ai, mà cũng tha tội? (Lu-ca 7:48-49)
Trong quyền phán xét mọi dân
Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. 32 Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra; 33 để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả. (Ma-thi-ơ 25:31-33)
Những lời tự nhận này của ĐCJC chưa một lãnh tụ tôn giáo nào, cả Phật dám nhận cả. In his famous book Mere Christianity, C.S. Lewis makes this statement, "A man who was merely a man and said the sort of things Jesus said would not be a great moral teacher. He would either be a lunatic--on the level with a man who says he is a poached egg--or he would be the devil of hell. You must take your choice. Either this was, and is, the Son of God, or else a madman or something worse. You can shut him up for a fool or you can fall at his feet and call him Lord and God. But let us not come with any patronizing nonsense about his being a great human teacher. He has not left that open to us.
Dù tự xưng như vậy nhưng một điều vô cùng nghịch lý là chính Jesus tự nhận mình ứng nghiệm mọi lời viết trong CU, rằng Ngài là ĐCT, hiện hữu từ trước vô cùng đời đời, có quyền để chọn người thuộc về Ngài cho sự cứu chuộc và sự sống đời đời; có quyền tha tội; có quyền phán xét mọi dân, cũng là Jesus luôn quan tâm đến những người chung quanh, đặc biệt những kẻ nghèo khó, bệnh tật, cô nhi, góa bụa, những người ở trong tù. Một Jesus tự nhận mình là ĐCT, có quyền tha tội, có quyền phán xét lại là Đấng chịu nhận sự phản bội, khinh dễ, sỉ nhục (bị người nhổ vào mặt), tra tấn, rồi đóng đinh đến chết trên thập giá nhục nhã giữa 2 tên trộm cướp; là Đấng cởi áo, quì xuống đất để rửa chân cho các môn đồ.
Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người. (Mác 10:45)
Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. (Phi-líp 2:5-8)
ĐỘC NHẤT VỀ SỰ CHẾT
Mọi giáo chủ tôn giáo đều chết cách tự nhiên: Mohamed – 62; Khổng Tử - 72; Phật – 80. Khi chết các môn đồ đều hiện diện và được tôn trọng, ngưỡng phục. Xem là thành công.
Trái lại, ĐCJC chết lúc 33 tuổi. Khi chết, các môn đồ lìa bỏ, dân chúng mắng nhiếc, lên án, buộc tội chết, trên thập giá bị chế diễu, khinh khi (nếu ngươi là ĐCT thì hãy tự xuống khỏi cây thập giá này), bị chính Cha là ĐCT ngoản mặt (Cha ơi sao Ngài lìa bỏ con!). Một cái chết của một người thất bại!
Chúa chết để trả giá tiền công của tội lỗi chúng ta, để gánh lấy tội của chúng ta trên chính thân và huyết của Ngài, chết cái chết mà lẽ ra chúng ta phải chết, tức sự chết đời đời nơi địa ngục.
1. Của lễ chuộc tội cho những ai tin nhận Ngài và cho cả thế gian
Giải thích tại sao sự chết của ĐCJC là của lễ chuộc tội: Vì giá tiền công của tội lỗi là sự chết…
Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa. (1 Giăng 2:2)
Việc dâng của lễ sống trong KTCU là bóng mà sự chết của ĐCJC làm của lễ chuộc tội là hình. Thầy tế lễ là trung gian giữa ĐCT và kẻ phạm tội để dâng lễ vật sống cho tội đã phạm.
Vì huyết của chiên, cừu không thể xóa hết tội, nên phải dâng lễ thường xuyên và cả đời. Cũng vì thầy tế lê là người có tội nên không cũng phải dâng lễ cho chính tội mình trước khi đại diện cho dân chúng.
Mỗi năm một lần thầy tế lê thượng phẩm vào nơi chí thánh một lần để dâng của lễ cho tội của cả dân tộc. Đây cũng là bóng mà sự chết của ĐCJC khiến tấm màng nơi chí thánh bị xé làm đôi là hình. Nếu thầy tế lễ thượng phẩm dâng lễ cho tội của dân DT thì ĐCJC dâng chính thân Ngài cho tội của cả thế gian.
Còn Đức Giê-su tồn tại đời đời nên giữ chức vị tế lễ mãi mãi. Do đó, Ngài có thể cứu rỗi hoàn toàn những người nhờ Ngài mà đến với Đức Chúa Trời vì Ngài hằng sống để cầu thay cho họ. Phải là vị thượng tế như thế mới thích hợp với chúng ta, một đấng thánh khiết, toàn thiện, không ô uế, tách biệt với những người tội lỗi, vượt cao hơn các tầng trời; không giống các thượng tế khác cần phải hằng ngày dâng các sinh tế trước vì tội mình, sau vì tội dân. Ngài làm việc này một lần đủ cả, dâng hiến chính bản thân làm sinh tế. (Hê-bơ-rơ 7:24-27 – BDM)
Vì nếu Ngài đã chết, ấy là chết cho tội lỗi một lần đủ cả. (Rô-ma 6:10)
2. Đem đến sự tha tội cho ai tin nhận Ngài
Khi giảng Ê-phê-sô 1 về đủ mọi phước thiên liêng trên trời cho người tin Chúa, phước đầu tiên tôi chia sẻ là sự tha thứ. Bởi vì nếu không có sự tha thứ thì cũng sẽ không có phước thiên, không thể nhận phước thiên. Như Đa-vít viết trong TT 32:1 viết Phước cho những kẻ có tội được tha.
Dù sự chết của ĐCJC là của cứu chuộc cho cả thế gian, nhưng không phải tự động đem đến sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại. Chúa chết cho cả nhân loại, đem đến con đường dẫn đến ĐCT, đến sự tha thứ tội, đến sự sống đời đời. Nhưng không phải để tha thứ mọi người, để đem mọi người đến với ĐCT, để mọi người đều có sự sống đời đời. Đây là một ý hết sức quan trọng và tín đồ thường hiểu lầm.
ĐCT chết để cứu những người tin nhận Ngài, chọn đường hẹp. (Cũng là những người đã được chọn từ trước muôn đời).
Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình; lại nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh. 24 Vì anh em vốn giống như con chiên lạc, mà bây giờ đã trở về cùng Đấng chăn chiên và Giám mục của linh hồn mình.
(1 Phi-e-rơ 2:23-24) Chú ý Peter viết những lời này cho các tín hữu, những người tin Chúa.
Giăng 3:16 – Hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất.
3. Nối lại quan hệ giữa Đức Trời và loài người
Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời; về phần xác thịt thì Ngài đã chịu chết, nhưng về phần linh hồn thì được sống. (1 Phi-e-rơ 3:18)
[Cây cầu dẫn đến sự sống: Tội lỗi ngăn cách người và Trời; ĐCJC là Đấng Trung Bảo. Qua sự chết của Ngài, Chúa nối lại quan hệ giữa Trời và người.]
Có gì vô cùng nghịch lý từ câu chuyện này. Nhưng nếu thật thì đây là một câu chuyện tình yêu tuyệt vời nhất, cao cả nhất, cảm động nhất trên khắp thế gian. Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống. 10 Nầy sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta. (1Giăng 4:9-10)
Kagawa là một nhà văn Nhật Bản nổi tiếng, cũng là một Cơ Đốc nhân. Ông nói rằng chính nơi thập giá ông tìm được điều độc nhất quan trọng, quí báu nhất. Ông nói: Tôi biết ơn đạo Shinto, Khổng giáo và Phật giáo. Tôi mang món nợ lớn từ những tôn giáo này vì giúp cho tôi có sự tôn kính trước Trời Đất, tổ tiên. Nhưng các tôn giáo hoàn toàn không thể tiếp ứng được những mong muốn của con tim tôi. Tôi là người lữ hành đi trên con đường dài, không ngã rẽ để trở lại. Tôi mệt mỏi, chân đau. Tôi lang thang qua cuộc đời tối tăm và ảm đạm, u sầu đầy day thảm kịch. Phật giáo dạy cho tôi lòng vị tha bao la… nhưng từ thời nguyên thủy đến nay, ai tuyên bố rằng: Này là thân thể ta vì các ngươi mà phó cho. Nầy huyết ta, đã đổ ra cho tội lỗi của muôn người? Thân thể đây không phải là thân thể lành lặn nhưng là thân ta vỡ trên thập giá; huyết này không phải là huyết chảy trong cơ thể nhưng là huyết đã đổ ra trên thập giá.
ĐỘC NHẤT VỀ SỰ SỐNG LẠI
Không một giáo chủ tôn giáo nào từ xưa đến nay tự nhận rằng sau khi chết, đến ngày thứ ba sẽ sống lại. La-xa-rơ dù được gọi sống lại nhưng rồi cũng phải chết. Nhưng sự sống lại của ĐCJC là điều không tiền khoán hậu, có một không hai vì Chúa sống lại để sống đời đời, để chiến thắng kẻ thù kinh sợ nhất, định mạng cuối cùng của loài người là sự chết. Tôi không sợ chết nhưng tôi chỉ không muốn có mặt khi sự chết đến – Woody Allen
Lại nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích… Và nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình. 18 Vậy, những kẻ ngủ trong Đấng Christ cũng phải hư mất đời đời. 19 Nếu chúng ta chỉ có sự trông cậy trong Đấng Christ về đời nầy mà thôi, thì trong cả mọi người, chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết. (1 Cô-rinh-tô 15:14, 17-18)
Sự sống lại của ĐCJC được PL gọi là trái đầu mùa của những người đã chết: Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ. (1 Cor 15:20). Có nghĩa là sự sống lại đầu tiên cho những kẻ dù đã chết sẽ sống lại đời đời, hoặc nơi địa ngục, hoặc trên thiên đàng.
[Câu chuyện về người bạn của triết gia Anh Thomas Carlyle muốn sáng lập một tôn giáo mới gồm cả đạo Chúa. Carlyle bảo bạn: khi nào anh có thể làm được 3 điều đơn giản này tôi sẽ theo đạo mới anh lập. Thứ nhất anh phải sống một cuộc đời hoàn toàn vô tội. Thứ hai anh phải chịu đóng đinh đến chết trên thập giá. Và thứ ba, đến ngày thứ ba anh sống lại và cho nhiều người thấy.]
Ba lý do chính có thể tin vào sự Chúa sống lại: 1) Ngôi mồ trống không còn xác Chúa; 2) Sự hiện ra cho các môn đồ sau khi sống lại; 3) Sự thay đổi kỳ diệu về cuộc đời của các sứ đồ và về sự hình thành hội thánh đầu tiên.
Ý nghĩa cho cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Quá khứ: ĐCT chứng minh cho sự vô tội và tuyên bố Ngài là Chúa. Hiện tại: cho thấy quyền năng của ĐTL, cũng chính là quyền năng đang làm việc trong đời sống người tin Chúa. Tương lai: hy vọng rằng rồi mọi sự bất công sẽ được bày tỏ, trừng phạt; sẽ không còn có khóc than, đau đớn, tật bịnh, không còn sự chết đe dọa.
ĐỘC NHẤT VỀ VINH HIỂN ĐCT DÀNH CHO ĐCJC
Sau khi sống lại KT viết về ĐCJC không như một người đầy tớ chịu thương khó, chết cho tội lỗi con người, nhưng như một ĐCT đầy uy quyền và vinh hiển trên cao. KT dùng hình ảnh là ngồi bên hữu ĐCT để nói lên uy quyền và vinh hiển của Đấng Christ. Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bản thể Ngài, lấy lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật; sau khi Con làm xong sự sạch tội, bèn ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao, 4 vậy được hưởng danh cao hơn danh thiên sứ bao nhiêu, thì trở nên cao trọng hơn thiên sứ bấy nhiêu. (Hê-bơ-rơ 1:3-4)
Thiên sứ, vũ trụ, trời đất, con người là loài thọ tạo, tức được sáng tạo bởi ĐCT, chứ không cùng một bản thể với ĐCT. Nhưng ĐCJC cùng một bản thể với ĐCT, chính Ngài là ĐCT. Vậy khi KT dùng cụm từ ngồi bên phải ĐCT thì có nghĩa là đồng cai trị với ĐCT, cai trị như ĐCT.
Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. 9 Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, 10 hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống, 11 và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha. (Phi-líp 2:5-11) Chú ý KT viết đầu gối trên trời, dưới đất và bên dưới đất đều quì xuống. Trên trời nói về thiên sứ. Dưới đất về con người. Và bên dưới đất về ma quỉ.
Đấng đã về thiên đàng và hiện đang ngự bên phải Đức Chúa Trời với các thiên sứ, các chủ quyền và thế lực đầu phục Ngài. (1 Phi-e-rơ 3:22 – BDM)
Ngài đã bắt muôn vật phục dưới chân Đấng Christ (Ê-phê-sô 1:22)
ĐỘC NHẤT VỀ SỰ BAN CHO ĐỨC THÁNH LINH
Trong đêm cuối khi nói và cầu nguyện cho các môn đồ, ĐCJC nói sau khi Ngài về Trời thì sẽ có một Đấng mà Ngài gọi là Đấng Yên Ủi (Comforter) và Thần Lẽ Thật đến với các môn đồ.
Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, 17 tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. 18 Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi. (Giăng 14:16-18)
Chú ý mấy điều: 1) Thế gian không thể nhận lãnh Đấng Yên Ủi và Thần Lẽ Thật mà chỉ có người tin Chúa; 2) Ngài ở với và ở trong các môn đồ; 3) Ta sẽ đến cùng các ngươi có nghĩa là Đấng Yên Ủi chính là Ta. Vắn tắt:
ĐTL là ấn chứng của sự cứu rỗi Ấy là trong Ngài mà anh em đã tin và được ấn chứng bằng Đức Thánh Linh là Đấng Chúa đã hứa (Ê-phê-sô 1:13). Trái TL là bằng chứng cụ thể của người tin Chúa, có Chúa trong đời sống
ĐTL giúp chúng ta hiểu lẽ thật, Đấng soi sáng con mắt của lòng anh em (1:18). Khi phạm tội, cáo trách, sửa trị để dẫn trở lại con đường lẽ thật.
Không có ĐTL, chúng ta không thể sống và làm theo lời dạy KT bởi vì những điều này tương phản với tính xác thịt, ích kỷ, tội lỗi của con người. Vì vậy ĐTL là Đấng dạy bảo, khuyên lơn, nhắc nhở, cáo trách, sửa phạt để sống như lời KT dạy.
Năm độc nhất của ĐCJC: 1) Những lời tự xưng nhận; 2) Sự chết; 3) Sự sống lại; 4) Uy quyền và vinh hiển trên trời; 5) Sự ban cho ĐTL giúp chúng ta có thể tự tin về niềm tin vào ĐCJC.
Sáng qua, thứ Bảy, trong buổi họp KT nam giới, có một câu hỏi rất hay: Người tin Chúa hay nói ĐCT ban cho, nhưng ĐCT ban cho họ điều gì? Rất nhiều điều Chúa ban cho con cái Ngài như đủ mọi phước thiêng liêng trên trời. Nhưng tôi chỉ muốn nêu ra 2 điều: 1) Sự cứu rỗi thay đổi cuộc đời của tôi và bao nhiêu người tin Chúa. ĐCT thay đổi cuộc đời tôi, mang tôi từ vũng bùn xình của tội lỗi đến nơi đất phẳn liền dưới chân thập giá.
Điều thứ hai trong dẫn chứng về đám tang của cựu tổng thống thứ 41 George Herbert Walker Bush vào thứ Tư tuần qua. Trong tất cả những bài điếu văn, lời tuyên bố đều gọi ông là tổng thống Bush, tổng thống thứ 41 của quốc gia HK (trong 243 năm từ 1776 đến nay). Ngoại trừ khi mục sư chủ lễ Michael Curry đọc lời cầu nguyện: Với niềm tin vào Chúa Jesus Christ, chúng ta nhận thi hài của người anh em George để chôn cất. Chúng ta cầu nguyện với niềm tin tưởng vào Chúa là Đấng ban sự sống, rằng Ngài sẽ làm cho sống lại cách trọn vẹn cùng các thánh đồ. Xin Đấng Christ, Chúa Tể muôn loài, giải cứu tôi tớ George (your servant George) khỏi mọi điều ác, và giúp anh thoát mọi trói buộc để anh có thể an nghĩ cùng các thánh đồ nơi yên nghĩ đời đời, là nơi cùng với ĐCCha và ĐTL Ngài hằng sống và cai trị như một ĐCT, đời đời vô cùng.
“With faith in Jesus Christ, we receive the body of our brother George for burial,” Curry said at Wednesday’s service, People reported. “Let us pray with confidence to God, the giver of life, that he will raise them to perfection in the company of saints. Deliver your servant George, Sovereign Lord Christ, from all evil, and set him free from every bond that he may rest with all your saints in the eternal habitations where, with the Father and the Holy Spirit, you live and reign, one God, forever and ever.”
Tại sao mục sư Curry gọi tổng thống Bush là người anh em George, tôi tớ Chúa George thay vì tổng thống Bush 41? Bởi vì dưới mắt ĐCT mọi người tin vào ĐCJC đều như nhau, là anh chị em trong Chúa, dù là tổng thống, thủ tướng, nữ hoàng, hay đại tỉ phú. ĐCT ban cho những người thế gian xem là rồ dại, hèn mọn, nghèo khó đặc ân làm con trai, con gái của Ngài: một giá trị, vinh dự không ai trong thế gian này có thể ban cho họ.
1. Context Bối cảnh
Not relativism
Not syncretism
Not pluralism
Absolute truth? Unique? Final, no successor or competitor.
2. Nature: not about Christianity, not about denomination, not about the church (Asian, American), not institution, but of a person, Jesus Christ, heart and soul of Christianity and w/o Christ is Christianity is no longer
If you can disprove JC then đạo Chúa sẽ không còn giá trị gì
3. Not DCJC được trình bày theo thời đại hay xã hội, hay quốc gia. Jesus the Superstar, the socialist, freedom fighter… but of history presented in the 4 gospels, historical
5 aspects unique, no parallel. Dĩ nhiên các lãnh đạo tôn giáo khác đều có những điều tự cho là độc nhất
1. Of His claim:
Extraordinary claim and credibility – egocentricity, personal pronoun, always teaching about himself
About the kingdom of God but he is the one who initiated, inagurate
Fullfilment, Mark fullfiled is the time, the kingdom of god is near; reading Isaiah in the synagogue, this day this scripture has been fullfilled. Is writing about me; Abraham will want
Blessed are the eyes to see, ears to hear, -> they are living in the day of expectation, anticipation but you live in the days of fullfilment. Prophecy fulfilled. Not one more prophet in the endless line of prophets, convergence of all streams of prophecies. Finality, no successor.
Intimacy in relationship with Father, not son & daughter of god: angel, Adam, Solomon, not title but the way in which he used: no one to know the Father except the son. Unique relationship
Authority – authority to teach Bài giảng trên núi; Ta phán cùng các ngươi; authority to forgive sin; authority to judge, separate sheeps from goats, held in his hands their destinies.
So outrage -> question his sanity, delusion, no sign of imbalance, psychotic; world admires his characters. Never occupied about himself, but always think of others. Startling paradox: his claim is so outragous, all about himself but the humblest, meekest person; speak about himself but most balance, and giving; teaching self-center I, I, I, me, me, me but most giving; Lord and judge -> servant. Self sacrificial
Many teachers claim great things about themselves but also very proud, self-serving. Many humble but also not make the claim jesus made.
Combination of his claim: authority with humility; self-center and unself-center characters -> unique
2. Death –
Natural causes death: mohamed, 62; confucious, 72; buddah 80; moses 120. Successful completed their mission. Died in early 30s, reject by his people, deserted by his disciples, forsaken by his father -> a total failure.
Thánh giá là biểu tượng của niềm tin Cơ Đốc. Tuần lễ cuối đời viết trong cả 4 PA. Mục đích ra đời để chịu chết. Sự chết liên quan trực tiếp đến sự cứu tội cho cả loài người: when I am lifted up I will draw all men. He bore our sin in his body on the tree (Peter)
Buổi ăn cuối, biết rõ cái chêt sắp đến: này là thân thể ta, nầy là huyết ta; không phải thân khi còn toàn vẹn nhưng khi đã bị tra tấn, hành hạ, sĩ nhục, tan vỡ trên thập giá; không phải huyết trong thân khi còn sống nhưng là huyết đổ ra trên thập giá để cứu tội cho loài người. This is my blood of new covenant.
One without sin be sin; this is love, not that we love god but he loves us and sends his own son].
Đấng Sáng Tạo muôn loài vật, Đấng phán xét trở nên con người và chịu chết cách đau đớn, nhục nhả cho tội của những người từ chối, bắt bớ, đóng đi, những tội nhân ích kỷ, giả dối. At the cross where he took our debts, assume our sins, bore our sins, died our death\.
If this is truth , this is the most wonderful love story in the whole world.
Kagawa is a famous Japanese Christian. He said that in the cross he found Christianity’s greatest uniqueness. He said, “I am grateful for Shinto, for Confucianism and for Buddhism. I owe much to these faiths. Yet these three faiths utterly failed to minister to my heart’s deepest needs. I was a pilgrim journeying upon a long road that had no turning. I was weary, I was footsore. I wandered through a dark and dismal world where tragedies were thick. Buddhism teaches great compassion … but since the beginning of time, who has declared, “This is my blood … which is poured out for many unto the remission of sins?” Recognize the uniqueness of his claim & his death
3. Resurrection. 3 very simple conditions: life selflessly, got killed, got resurrected -> then world will listen to you. Not his idea, his example, his teaching, his thoughts. Poor Larazeth has to do his dying all over again. Go on to a new life, not going back to death.
New power, undreamed faculties. Empty tomb + Appearance after death + transformation of his disciples, emergence of the church. Significance: past, present, future
Past: vindicating jesus, declare to the
Present: demonstrate his power. Same power to change and transform lives
Future: hope for future. No longer pain, death, ,suffering, escape from bondage of sins,, new heaven and earth. No longer fear of death: I am not afraid of dying, but I dónt want to be there when it happens (Woodyt Allen)
Assurance of the power and promise of God, forgiveness of sins, and hope for future.
4. Exaltation – to the highest in the universe, at the right hand of God. .God has superexalted Jesus. Name above all names, rank above all ranks, every tongue will confess, every knee will bow. All will worship
Is 45 = Paul writing in Phillipians -> Jehovah now apply to Jesus.
5. Gift of the Spirit – Promise when he back to father, he will send the Comforter, Spirit of truth. Major ministry is to bring jesus into experience, make him reality to us all.
Make person of Jesus contempary – Paul wants to know Christ – personnal knowledge about Jesus. Othere religions are about the teachings, the beliefs but Christianity is all about the person of Jesus Christ. Know Jesus know
Universal – I am with you always till the end of the world
Internal with you and in you. Mystery of the indwelling Christ. Impossible to live like Christ unless He comes into our lives and help us to live like him. Shakespeare
Fellowship of the Holy Spirit and with each others – make person of jesus communal
Across all nations, races, nationalities.
All 5 fit well together, beautifully. Correspondence to human aspirations.
Personal testimony & experience. Gaps between ideal & reality of ourselves.
