Về Với Quê Hương
Chủ đề của chương trình Tết hội thánh năm nay là Về Quê Ăn Tết. Người miền Nam như tôi là dìa về ăn tết! Chị Ngân là người soạn thảo chương trình Tết với chủ đề này đã cho tôi biết ngay sau Giáng Sinh. Khi làm tờ dán phổ biến cho đồng hương thành phố tôi lại nhớ chủ đề là Về Với Quê Hương. Dù sao thì hai chủ đề này cũng giống nhau là đều nói về một ý chính quan trọng: về quê hương.
Hầu hết những người hiện diện tại đây sinh ra và lớn lên tại VN. VN là quê hương, cái nôi đầu đời, nơi chúng ta nhận dòng sữa mẹ đầu tiên. Nơi chúng ta nghe những bài hát ru êm đềm của mẹ. Là người miền Nam thì ai lại không biết bài hát ru chân chất, mộc mạc như những cánh đồng cò bay thẳng cánh:
Ầu ơ ... ví dầu cầu ván đóng đinh. Cầu treo lắc lẻo gập ghềnh khó qua. Ầu ơ ... Khó qua mẹ dắt con qua... Con đi trường học. Mẹ đi trường đời ...
Gió mùa thu mẹ ru mà con ngủ năm canh chày, là năm canh chày thức đủ vừa năm hỡi chàng chàng ơi, hỡi người người ơi em nhớ tơi chàng em nhớ tơi chàng. Hãy nín nín đi con hãy ngủ ngủ đi con con hời mà con hỡi con hỡi con hời hỡi con.
Nhưng phải nói tiếng ru mà một khi đã nghe không thể nào quên được đó là những bài ru con Trung Bộ. Có lẽ miền Trung đất cày lên sỏi đá, mỗi năm trời gầm mưa lụt nên tình người cũng man mác qua những tiếng ru buồn: À á ơi.......(hát giọng Huế) Hà ơi ơi ơi chứ mẹ bồng con lên non ngồi cầu Ái Tử vợ trông chồng , chồng hà ơi ơi ơi ...vợ trông chồng, chồng ra đứng núi là Vọng Phu. Hà ơi ơi ơi chứ biết răng chừ nguyệt xế trăng lu nghe con ve kêu mùa hạ à ơi ơi ơi nghe con ve kêu mùa hạ chứ biết mấy thu em gặp chàng.
[Nói về giọng miền Trung: câu chuyện “Cái ni là cái chi anh hỉ!”]
Lúc sinh sống vì đã quá quen thuộc nên chúng ta không nghĩ nhiều về quê hương. Nhưng khi đi xa quê thì lại nhớ. Như lời bài hát Tình Hoài Hương của nhạc sĩ tài ba Phạm Duy có những lời hết sức da diết nói lên những hình ảnh, kỷ niệm thân thương và tâm trạng nhớ nhung về quê hương trong tâm trí của một người sống xa quê: Quê hương tôi, có con sông dài xinh xắn. Nước tuôn trên đồng vuông vắn. Lúa thơm cho đủ hai mùa. Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê. Quê hương tôi có con sông đào ngây ngất. Lúc tan chợ chiều xa tắp. Bóng nâu trên đường bước dồn. Lửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm hương thôn! Quê hương ơi! Bóng đa ôm đàn em bé. Nắng trưa im lìm trong lá, Những con trâu lành trên đồi Nằm mộng gì? Chờ nghe tôi thổi khúc sáo chơi vơi. Quê hương ơi! Tóc sương mẹ già yêu dấu
Tiếng ru nỗi niềm thơ ấu. Cánh tay êm tựa mái đầu , ôi bóng hình từ bao lâu còn ghi mãi sắc mầu! Tình hoài hương! Khói lam vương tâm hồn chìm xuống Người phiêu lãng! Nước mắt có về miền quê lai láng . Xa quê hương! Yêu quê hương.
Tôi nhớ trong lời giới thiệu bài nhạc Chiều trên quê hương tôi, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, với giọng Huế thật dễ thương nói: Quê hương là đời đời còn đó và tình yêu cũng sẽ còn đó nhưng người nào đã mất đi quê hương thì cũng sẽ mất đi tình yêu!
Tuy nhiên dù sinh ra tại một đất nước nhưng có biết bao nhiêu triệu người lại muốn tìm đến một đất nước khác để chọn làm quê hương thứ hai. Lý do? Bởi vì muốn tìm cho mình và con cháu mình một tương lai tốt đẹp hơn nơi quê hương thứ hai. Thập niên 1980 mấy trăm ngàn người VN liều mình vượt biển bằng thuyền, rời bỏ quê hương để tìm đến một đất nước khác với hy vọng được sống tự do, có một đời sống tốt đẹp hơn. Cuộc chiến tranh tại xứ Syria vùng Trung Đông đã khiến cho hàng triệu người phải rời bỏ nơi họ sinh ra, lớn lên để mong được đến các quốc gia Âu Châu.
Vì hy vọng vào tương lai mà những người tị nạn giả từ quê hương của chính mình, của cha mẹ, ông bà mình mà đi tìm một quê hương mới, tốt đẹp hơn, an bình hơn, phước hạnh hơn.
Tôi thích cách tiếng Anh nói về một người dân HK đến từ nước khác: Vietnamese-American hay Italian-American. Trước hết là VN hay Ý, rồi mới đến HK. Bởi vì đây là thứ tự của nơi một người đã sinh ra, lớn lên và hiện đang sống. Và tại xứ này hằng trăm giống người từ trăm quốc gia đến đây để định cư: dù sinh ra, lớn lên nơi quê hương đầu đời, họ chọn đất nước này là quê hương thứ hai, có thể cho cả cuộc đời còn lại và chắc là cho con cháu, cho thế hệ tới.
Dù có nhiều lý do người VN chúng ta đến HK định cư nhưng tựu chung một lý do chính yếu, quan trọng nhất là bởi vì chúng ta tin rằng đây là nơi ở tốt hơn cho đời sống chúng ta hay cho đời sống con cháu chúng ta mai sau. Nếu không có hy vọng, niềm tin đó thì tại sao lại phải trả đắt để đến đất này?
KT cho biết rằng có một quê hương tốt đẹp vạn lần hơn tất cả quê hương trên đất này. KT gọi là quê hương trên trời. Dù tôi tin rằng HK là một nơi ở tốt nhất so với các đất nước khác trên thế giới, nhưng qua lời KT tôi biết chắc rằng quê hương trên trời còn tốt hơn ngàn vạn lần hơn HK hay bất kỳ một thiên đàng nào trên quả địa cầu này. Và dù đã một lần từ VN đi tìm một quê hương thứ hai là HK, hôm nay tôi và trăm ngàn người tin Chúa lại đang tìm đến quê hương trên trời cho cuộc sống đời đời sau khi từ giả quê hương trên đất này.
Cho dù là người Mỹ gốc Việt, hay Việt gốc Mỹ, dù là người của bất kỳ màu da, tiếng nói, đất nước, dù có hai hay ba quốc tịch khác nhau, dù nay sống tại VN, mai sống tại HK, năm tới tại Úc hay Canada, thì tất cả đều có thể trở nên công dân của quê hương trên trời.
KT viết về quê hương này và những người tìm kiếm như sau: 14Vì những người nói như thế, chứng tỏ rằng họ đang đi tìm một quê hương.15Nếu họ đã nghĩ đến quê hương mà mình từ đó đi ra, thì họ cũng đã có cơ hội trở về. 16Nhưng họ mong ước một quê hương tốt hơn, tức là quê hương trên trời, nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành.ˆ(Hê-bơ-rơ 11:14-16)
Trước khi giải thích đoạn KT này, đối với qv nào chưa bao giờ đọc qua KT thì đây là 2 phút giới thiệu về KT. KT gồm 2 phần: TU và CU. Ước có nghĩa là giao ước, kết ước, lời hứa. Nhưng không phải lời giao ước của người và người, cũng không phải của người với Trời, nhưng là giữa ĐCT cùng loài người. Đây là một khác biệt hết sức quan trọng giữa KT và các sách kinh khác.
Dù KT viết về những lời dạy của ĐCT giúp con người sống thiện, sống vui vẻ, hạnh phúc. Nhưng đó không phải là trọng tâm của KT. Trọng tâm của KT không phải là một quyển kinh luật dạy con người phải ăn hiền ở lành thế nào để được vào thiên đàng. Nhưng là về một giao ước của ĐCT về chương trình cứu rỗi của Ngài cho loài người sau khi con người đã phạm tội. Vậy CU là lời giao ước xưa, cũ trước khi ĐCJC sinh ra đời. Và TU viết về giao ước mới đã được thực hiện bởi ĐCJC để cứu tội cho loài người.
KT được viết ra trong khoảng thời gian dài trên 1400 năm bởi trên dưới 40 tác giả từ nhiều quốc gia khác nhau, thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, từ Tể Tướng (Thủ Tướng một quốc gia) đến một người chăn cừu; từ vua đến người đánh cá; từ học giả đến người lãnh đạo dân tộc. Dù được viết trong một thời gian dài như vậy và bởi nhiều tác giả tại nhiều nơi chốn, tất cả đều có cùng một nội dung: về giao ước, về chương trình cứu rỗi của ĐCT cho loài người qua sự giáng sinh, chịu chết trên thập giá và sau đó sống lại của ĐCJC.
Qv nhìn thấy dòng dưới của câu KT là Hê-bơ-rơ 11:14-16. Hê-bơ-rơ hay Hebrews là tên của một sách, đúng hơn là một lá thư viết gởi cho một nhóm tín hữu người Hê-bơ-rơ, DT. 11 là đoạn 11; 14-16 là câu 14 đến câu 16. Vậy H11:14-16 có nghĩa là những câu KT này trích từ lá thư gởi cho người Hê-bơ-rơ đoạn 11 từ câu 14-16.
Mục đích của lá thư này nhằm động viên, khích lệ những người DT (Hê-bơ-rơ) mới tin Chúa đang gặp bắt bớ, chế diễu, thậm chí hành hung. Có người vì tin Chúa nên bị gia đình từ bỏ; có người bị làng xóm mai mĩa, chế diễu. Có người bị đánh đập, ngược đãi, bị bắt vào tù. Họ đang trong nỗi thất vọng, lo buồn. Tại sao tôi tin vào Chúa mà lại gặp đủ khó khăn như vậy. Qua lá thư này tác giả muốn nhắc cho họ về ý nghĩa thật sự của niềm tin không phải là để có một cuộc sống vật chất đầy đủ, sung sướng, nhưng để được sự cứu chuộc tội lỗi, để được đến quê hương trên trời.
14Vì những người nói như thế, chứng tỏ rằng họ đang đi tìm một quê hương. Nói gì? Trong câu KT trước đó họ nói rằng họ là những người kiều dân, lữ khách trên đất. Kiều dân, lữ khách là những người đến một nơi ở tạm một thời gian ngắn rồi đi nơi khác. Họ không phải là thường trú nhân (permanent resident) hay công dân. Đây là những người đang đi tìm một quê hương để định cư, sinh sống.
15Nếu họ đã nghĩ đến quê hương mà mình từ đó đi ra, thì họ cũng đã có cơ hội trở về. Ý của câu KT này là những người kiều dân, lữ khách này không có ý định trở về quê hương nơi họ đã ra đi. Từ nghĩ ở đây không có nghĩa là nghĩ về hay nhớ về quê hương, về những kỷ niệm nơi quê hương đã ra đi. Nhưng có nghĩa là sự suy nghĩ, ý tưởng chính yếu, sự tập trung, nổ lực quan trọng nhất của đời họ không phải là về quê hương đã ra đi, nhưng về quê hương sẽ đến. Quê hương sẽ đến đó được giải thích trong câu KT tới.
16Nhưng họ mong ước một quê hương tốt hơn, tức là quê hương trên trời, nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành. Quê hương họ cố hết sức để tìm đến là quê hương trên trời, một quê hương vạn lần tốt đẹp hơn quê hương trên đất, dù là VN hay HK. Và nơi quê hương trên trời, Đấng cai trị là ĐCT. Và tại nơi đó ĐCT đã (chú ý về thể quá khứ) chuẩn bị hay sắm sẵn cho họ một thành phố.
KT viết về quê hương trên trời này như sau: Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa. 2 Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình. 3 Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng. 4 Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết ,cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. (Khải Huyền 21:1-4)
Đây cũng chính là lời hứa của ĐCJC cùng các môn đồ trong đêm cuối đời trước khi bị phản, bị bắt, rồi đóng đinh trên thập giá cho đến chết. Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa. 2 Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. 3 Khi ta đã đi, và sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó. (Giăng 14:1-3) Chỗ ở mà Chúa hứa là một thành phố đã được sắm sẵn cho người tin Ngài.
Dù quê hương trên đất này có đẹp đẽ đến mấy nhưng rồi cũng sẽ thay đổi theo thời gian. Lịch sử cho biết không một quốc gia nào phồn thịnh, cường mạnh, hoà bình mãi mãi. Chiến tranh, nghèo đói, thiên tai, tranh chấp quyền lực sinh ra đổ vỡ, mất mát, gia đình ly tán. Khỏi nhìn đâu xa. Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, qv nghĩ tình hình thế giới có hoà bình hơn, yên ổn hơn? Xứ Syria ngàn năm trước đây là một đế quốc hùng mạnh. Hôm nay cuộc nội chiến trong 5 năm qua đã giết trên 20000 thường dân vô tội, khiến hàng triệu người phải di tản; thành phố cỗ Alleppo nay trở nên một thành phố chết! Đại đế La-mã thống trị cả thế giới gần ngàn năm, đến nỗi có câu “đường nào cũng tới La-mã”. Hôm nay Ý là một quốc gia nghèo trong khối thị trường chung Âu Châu, và đang gặp bao nhiêu khó khăn lớn về kinh tế.
Từ bao nhiêu ngàn năm qua loài người vẫn còn đang đi hay cố tạo dựng thiên đàng trên đất. Đây cũng chỉ là mộng tưởng. Nhưng dù khi có một quốc gia lý tưởng, phồn thịnh, hoà bình như HK trong thời hưng thịnh nhất thì dân chúng trong quốc gia đó vẫn mỗi ngày phải đối diện với những khó khăn, khổ đau, mất mát. Gia đình lục đục, tình bạn đỗ vỡ, bệnh tật đè nặng trên đời sống, chưa nói đến những áp lực từ công việc, quan hệ.
Tôi không muốn vẽ một bức tranh màu xám khi chúng ta mừng Xuân ăn Tết. Nhưng phủ nhận thực tế của cuộc sống trên đất này không phải là giải quyết. Lý do gì chúng ta chúc cho nhau những câu chúc đầu Xuân? Vì hy vọng, mơ ước. Nhưng mọi người đều biết rõ rằng nếu mọi lời chúc năm qua được thành đạt thì chắc sẽ không cần đến lời chúc hôm nay!
Quê hương trên trời tốt đẹp mang đến hy vọng cho người tin Chúa khi đối diện với bao nhiêu thất vọng, mất mát tại quê hương trên đất này.
Để có thể đến quốc gia HK này định cư, hàng trăm ngàn, triệu người sẵn sàng trả một giá đắt, chịu khổ sở, thậm chí hy sinh sự sống. Hy vọng tìm được một đời sống tự do, một đời sống tốt đẹp hơn khiến họ tự nguyện hy sinh. Và nếu hàng triệu người tự nguyện hy sinh cuộc sống chỉ để đến được một vùng đất hứa cho đời sống mình và gia đình, thì người tin Chúa không lý gì lại không thể chấp nhận những khó khăn để được đến quê hương trên trời?
Làm thế nào để có thể thành công dân trên Trời? KT dạy rõ:
Thật sự ý thức và thú nhận qv là người có tội và đáng bị xử phạt bởi ĐCT hoàn toàn thánh khiết và công bình. Không bằng bất cứ việc lành, công đức gì có thể tự cứu mình.
Xin Chúa tha thứ tội lỗi và tin vào sự cứu chuộc tội lỗi của ĐCJC trên thập giá cho qv
Chân thành mở lòng ra để đón nhận Chúa làm chủ của đời sống mình.
vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:23)
Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng tặng phẩm của Ðức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta. (Rô-ma 6:23)
Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình (Ê-phê-sô 2:8-9)
Ngài cứu chúng ta, không vì những việc công chính chúng ta làm, nhưng vì lòng thương xót của Ngài, qua sự thanh tẩy của sự tái sinh và sự đổi mới của Ðức Thánh Linh (Tít 3:5-2011)
Người VN mình hay đánh bài, đánh cá trong dịp Tết. Người tin Chúa không nên làm điều này. Nhưng tôi muốn trình bày với qv một đánh cá hơn 400 năm trước đây của một nhà toán học Pháp tài ba tên Blaise Pascal. Gọi là đánh cá nhưng thật ra đây là một câu hỏi. Câu hỏi thế này. Nếu ĐCT hiện hữu và thiên đàng, địa ngục có thật thì người sống theo lời Chúa dạy trong KT được gì hoặc mất gì? Còn giả nếu ĐCT không có thật, thiên đàng và địa ngục chỉ là giả tưởng thì người không tin Chúa được gì hay mất gì? Câu trả lời rất đơn giản: Nếu ĐCT hiện hữu, thiên đàng, địa ngục có thật thì người tin Chúa sẽ được tất cả khi về với Chúa trên thiên đàng. Còn người không tin sẽ mất tất cả. Còn giả nếu ĐCT không có thật thì người có đức tin cũng không mất gì cả vì họ sống vui thỏa, lành mạnh, hạnh phúc theo lời KT dạy.
Lời chúc đầu năm. Tôi xem trên mạng tuyến thì thấy mấy lời chúc sau đây rất phổ thông cho năm nay: Năm con Gà, chúc mọi người vui vẻ như Chim Sẻ, khỏe mạnh như Đại Bàng, giàu sang như chim Phụng, làm lụng như chim Sâu, sống lâu như Đà Điểu.
Chúc mọi người đẹp như hoa hồng. Thành công như Cúc. Hạnh phúc như hoa Mai. Phát tài như hoa Pháo. Độc đáo như hoa Lan. An khang như hoa Huệ. Trí tuệ như hoa Sen.
Cho những người xa quê hương VN thì đây là mấy câu thơ chúc sau:
Chúc người xa xứ bao lâu.
Một mùa xuân mới thắm bầu quê hương
Dù cho cách trở đôi đường
Quê hương vẫn mãi ngọt đường mía lâu
Tôi muốn dùng lời Chúa để chúc cho tất cả quí khách và tín hữu: Hỡi kẻ rất yêu dấu, tôi cầu nguyện cho anh được thạnh vượng trong mọi sự, và được khỏe mạnh phần xác anh cũng như đã được thạnh vượng về phần linh hồn anh vậy. (3 Giăng 2)
