Ủy Thác Cho Người Trung Tín
Câu chuyện ngụ ngôn ta-lâng đã đọc trong Ma-thi-ơ 25:14-30 là một ngụ ngôn rất quen thuộc, được biết là ngụ ngôn ta-lâng. Tuy nhiên trong bài giảng hôm nay tôi muốn chia sẻ từ ngụ ngôn này một phẩm tính vô cùng quan trọng của người đầy tớ khi được chủ giao phó ta-lâng. Cũng là một phẩm tính quan trọng và cần thiết cho mỗi người theo Chúa. Phẩm tính đó là sự trung tín.
Lời khen thưởng của người chủ cùng các đầy tớ dùng ta-lâng được giao để làm lợi ích thêm như sau: Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi. (Ma-thi-ơ 25:23). Ngay lành (tốt) và trung tín. Chú ý là lời khen này hoàn toàn giống nhau cho cả 2 đầy tớ với số ta-lâng khác nhau, dù là 5 hay 2 ta-lâng. Hai người tớ này cố gắng dùng của được chủ giao để làm lợi thay vì đem chôn đi như người được giao 1 ta-lâng.
Chúng ta có thể nhận xét được 2 điều quan trọng từ lời khen của chủ với đầy tớ. Thứ nhất, vấn đề không phải là số lượng ta-lâng, ân tứ được giao phó, không phải ít hay nhiều, hay bao nhiêu. Vấn đề chính yếu và quan trọng là người đầy tớ sẽ làm gì với ta-lâng chủ giao phó? Hoặc dùng để làm lợi cho chủ, hoặc đem chôn đi.
Thứ hai, vấn đề cũng không phải là số lợi tức người đầy tớ đem lại cho chủ, dù là lợi 2 ta-lâng hay 5 ta-lâng đều được khen thưởng công bình. Vậy bên cạnh ngay lành, trung tín là một tính hạnh vô cùng quan trọng của người đầy tớ. Sự trung tín quan trọng hơn thành công đối với ĐCT.
PL cũng dạy cho HT Cô-rinh-tô: Thế thì người ta nên coi chúng tôi như tôi tớ của Chúa Cứu Thế và là người quản trị sự huyền nhiệm của Đức Chúa Trời. 2 Hơn thế nữa, điều cần yếu nơi người quản trị là trung tín. (1 Cô-rinh-tô 4:1-2)
Nghĩ về trung tín chúng ta đều nghĩ về 2 yếu tố quan trọng sau đây: 1) Thời gian; 2) Hoàn cảnh. Thời gian mới có thể chứng minh lòng trung tín của một người. 1, 2 ngày, 1, 2 tuần làm sao biết rõ sự trung tín của một người? Nhưng 20, 30 năm, 50 năm lúc đó chúng ta mới có thể biết rõ hơn. Yếu tố thứ 2 là hoàn cảnh. Mọi người đều có thể trung tín khi thuận lợi, dễ dàng. Nhưng người trung tín là người vẫn kiên trì, chung thủy tiếp tục dù dễ dàng hay khó khăn, dù thuận lợi hay trở ngại.
Trung tín là một từ ghép gồm hai từ trung thành, trung hậu, trung nghĩa, trung kiên và tín cẩn, tín nghĩa, tín dụng. Trong hôn nhân trung thành có chữ khác là chung thủy. Một định nghĩa về từ trung thành là trước sau một lòng một dạ, giữ trọn niềm tin, giữ trọn những tình cảm gắn bó, những điều đã cam kết (lời hứa) dù hoàn cảnh đổi thay thế nào. Định nghĩa này nói đến hoàn cảnh nhưng không đề cập đến yếu tố thời gian.
Người Việt ta rất quí trọng trung tín (trung thành, tín nghĩa). Có ai lại không nghe hay biết về bài hát hòn vọng phu của nhạc sĩ Lê Thương (khác với chuyện hòn vọng phu nguyên thủy) về người vợ chờ chồng đến hóa đá. Nhạc sĩ xúc động khi nghe về chuyện nàng Tô Thị bồng con chờ chồng đến nỗi hóa thành đá ở Lạng Sơn, và người chinh phụ trên núi Đá Bia, ở phía đông Đèo Cả, ranh giới tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa.
Khi chiến tranh nổ ra, người chồng theo lệnh vua tòng quân với lời hẹn ước chỉ một thời gian sẽ trở về. Hai vợ chồng, "người đi ngoài vạn lí quan san, người đứng chờ trong bóng cô đơn." Thời gian cứ bằng bẵng trôi. Người vợ chờ đợi mãi vẫn không thấy chồng trở về. Chiều nào nàng cũng bồng con ra ngóng tin chồng; vết chân nàng đi dần hằn sâu trên phiến đá. Cỏ cây, hoa lá, sông núi, nước non,...cả đất trời đều thương cảm cho nàng, đều giúp nàng ngóng tìm chồng, "xem chàng về hay chưa". Ngóng trông mãi đến lúc tất cả đều khuyên nàng đừng chờ đợi nữa, hãy "trở về chớ đừng để xuân tàn". Thế nhưng, nàng vẫn chờ, chờ mãi nơi ấy. Nước mưa, bụi thời gian tuôn xối xả lên nàng, "thấm vào đến tận tâm hồn đứa con". Ngày tháng dần trôi, nàng và con dần hóa đá vì chờ chồng.
Bài vọng cổ (miền Nam) đầu tiên viết vào năm 1919 có tựa là Dạ Cổ Hoài Lang (Nghe tiếng trống đêm nhớ chồng) của tác giả Cao Văn Lầu. Có những câu nói về lòng trung tín, thủy chung giữa chồng vợ, giữa người ngoài trận chiến và người ở lại quê nhà: Vào ra luống trông tin bạn. Ngày mỏi mòn như đá vọng phu. Vọng, những mong tin chàng. Đau xót gan vàng. Chàng hỡi chàng có hay. Đêm thiếp nằm luống những sầu tay. Bao thưở đó đây xum vầy. Duyên sắt cầm bền dây. Nguyện cho chàng. Nguyện cho chàng đôi chữ bình an. Mau trở lại gia đàng. Cho én nhàn hiệp đôi.
Cả hai hài trường ca bất hủ và bài vọng cổ đầu tiên trong nền âm nhạc VN đều có chủ đề về lòng thủy chung, son sắt, tiết nghĩa của người chinh phụ (phụ nữ chờ chồng trong thời chinh chiến). Người VN quả thật trong chữ tín, chữ nghĩa, trọng lòng chung thủy. Nhưng xem thường, thậm chí khinh khi những người mau thay lòng đổi dạ, sáng nắng chiều mưa, gió chiều nào theo chiều đó!
Nếu có một người bạn thân thiết, một người chồng, vợ, hay cả một người làm việc chung, qv có muốn một người thật giỏi nhưng khi gặp khó khăn lại bỏ đi hay muốn có một người trung tín với mình trong mọi cảnh ngộ. Hay muốn có một người bạn mà gió chiều nào thì họ theo chiều ấy, người sáng nắng chiều mưa?
Trong hôn lễ, cô dâu, chú rễ hứa với nhau rằng sẽ yêu thương, chăm sóc, chung thủy với nhau dù khi mạnh khỏe hay đau ốm, dù khi giàu sang hay nghèo khó, dù khi hanh thông hay gian khổ. Chúng ta cũng có thể mượn lời hứa nguyện đó cho người tin, theo, phục vụ Chúa: Người tin, theo, phục vụ Chúa, người tín đồ, người hầu việc Chúa trung tín là người vẫn tiếp tục theo Chúa, phục vụ Chúa dù khi giàu sang hay nghèo khó, dù khi mạnh khỏe hay đau ốm, dù khi hanh thông hay gian khổ. Hơn thế nữa dù khi gặp chống đối, bắt bớ hay mọi người cười chê, xa lánh.
Một lời dạy trong sách CN đáng cho chúng ta ghi nhớ là CN 20:6 - Phần nhiều người khoe khoang sự nhơn từ mình; Nhưng ai sẽ tìm được một người trung thành? Bản diễn ý của MSTS Lê Hoàng Phu dịch như sau: Bao nhiêu kẻ khoe khoang nhân nghĩa, nhưng kiếm đâu ra một kẻ trung thành. Ai cũng có thể tuyên bố, khoe khoang, xưng hào về tính tình này, phẩm hạnh nọ mình có, nhưng người trung thành không mấy dễ tìm.
Quý vị hỏi: tại sao khó tìm được người trung thành? Câu trả lời đơn giản: vì nhiều người nói nhưng rất ít người làm, nhiều người thử nhưng ít người tiếp tục, nhiều người tiếp tục hơn ít người kiên trì cho đến lúc cuối. Bởi vì trung tín đòi hỏi lòng kiên trì, ý chí vững, dù vấp ngã vẫn tiếp tục. Đòi hỏi lòng vững tin vào lời Chúa dù hoàn cảnh thế nào vẫn giữ lòng trông cậy.
Bước đường theo Chúa không phải là một cuộc chạy nước rút, 100 hay 200m, nhưng là một cuộc chạy đường dài (marathon, cuộc chạy việt dã). Trong cuộc chạy việt dã rất đông người bắt đầu nhưng với thời gian, với đoạn đường dài, khi trời nắng gắt cháy da, khi phải lên những dốc cao thì số người dần thưa thớt. Đến lúc cuối chỉ còn lại một số nhỏ hoàn tất cuộc đua. Nếu có khác chăng là cuộc chạy của người theo Chúa không phải là cuộc chạy đơn chiếc của một người nhưng cần có những người bạn cùng chạy, khuyến khích, động viện, hỗ trợ cho nhau khi mòn mõi, muốn bỏ cuộc.
Trong cuốn phim đầu của bộ Chúa Tể Các Nhẩn (Lord of the Rings), dù khi biết chiếc nhẩn Frodo (giải thích hobbit và trách nhiệm của Frodo) mang sẽ đem đến những khó khăn, thậm chí mất tính mạng vì kẻ thù muốn tìm lấy nó thì Sam vẫn ngõ lời với bạn mình: Anh có thể tin tưởng chúng tôi sẽ cùng đi với anh trong mọi hoàn cảnh dù vui hay buồn, dễ hay khó cho đến lúc cuối cùng, dù sự cuối đó có đắng cay. Và anh có thể tin tưởng chúng tôi sẽ giữ bất kỳ bí mật nào của anh, giữ cách kín đáo hơn cả chính anh giữ. Nhưng anh không thể tin tưởng chúng tôi sẽ để anh phải đối diện khó khăn đơn độc, và rời bỏ anh mà không một lời từ giả. Chúng tôi là bạn của anh, Frodo. Đó, điều tôi đã nói là vậy đó. Chúng tôi biết nhiều điều Gandalf đã nói với anh. Chúng tôi biết điều gì chiếc nhẩn sẽ gây ra. Chúng tôi vô cùng sợ hãi, nhưng chúng tôi sẽ đi cùng anh; và sẽ theo anh như chó săn. (You can trust us to stick to you through thick and thin–to the bitter end. And you can trust us to keep any secret of yours–closer than you yourself keep it. But you cannot trust us to let you face trouble alone, and go off without a word. We are your friends, Frodo. Anyway: there it is. We know most of what Gandalf has told you. We know a good deal about the ring. We are horribly afraid–but we are coming with you; or following you like hounds.)
Những người bạn của Frodo không chỉ nói, khoe nhưng trung tín với bạn cho đến lúc cuối cùng.
Ai lại không ước ao có những người bạn trung thành như Sam? Cùng với mình đi cho đến cuối đường, dù đó là đường cùng của sự cay đắng. Giữ trọn tất cả những bí mật, cẩn thận hơn cả chính bạn mình. Biết chắc chắn rằng không bao giờ phải đối diện khó khăn cách cô độc vì luôn có người chia xẻ. Biết chắc dù con đường đang đi đầy thử thách, thậm chí có thể thất bại nhưng vẫn có bạn đồng hành.
Thiết nghĩ không có gì yên ủi hơn cho đời sống chúng ta bằng có được những người bạn trung tín.
Nhiều tấm gương về sự trung tín trong KT. Danh sách anh hùng, liệt nữ nêu lên trong Hê-bơ-rơ 11 là tấm gương của những người tận trung với ĐCT mà chúng ta cần học hỏi và làm theo. Tôi chỉ xin nêu lên 3 nhân vật, 1 trong CU là tiên tri Giê-rê-mi, 2 trong TU là Ti-mô-thê và Mác (hay Giăng Mác).
Tiên tri Giê-rê-mi còn được gọi là tiên tri than khóc. Chính tên gọi này nói lên nỗi khó khăn, khổ nhọc của Giê-rê-mi khi hầu việc Chúa như tiên tri ĐCT. Trong 40 năm dài, sứ điệp của ông cùng vua quan, dân đều như nước đổ lá môn. Vậy ngươi sẽ nói với chúng nó mọi lời nầy, nhưng chúng nó không nghe ngươi. Ngươi sẽ kêu, nhưng chúng nó không trả lời. (Giê-rê-mi 7:27). Lý do là vì sứ điệp ĐCT dùng ông để rao giảng là một sứ điệp nghịch tai của vua quan và dân trong thời đó: Jer. khuyên họ phải ăn năn, từ bỏ con đường tội lỗi; khuyên họ phải đầu hàng giặc Ba-by-lôn; khi bị lưu đày sang xứ Ba-by-lôn hãy cất nhà, lập vườn, cưới gả con trai, con gái, mưu cầu phúc lợi cho nơi họ bị lưu đày! Đến nỗi khi vua Giê-hu-đi đọc cuốn sách ghi lại lời tiên tri của J. chỉ được ba bốn hàng thì cắt đi thành từng miếng nhỏ và đốt trong lò than đỏ: Bấy giờ là tháng chín; vua đương ngồi trong cung mùa đông, có lò than đỏ trước mặt vua. 23 Xảy ra, Giê-hu-đi vừa đọc được ba bốn hàng trong sách, vua lấy dao nhỏ cắt đi và ném vào lửa trong lò, cho đến sách cháy hết trong lửa nơi lò. (Giê-rê-mi 36:23).
Không chỉ bị từ khước lắng nghe, ông còn bị ngược đãi, thậm chí bị đánh đập, cùm gông, bị hãm hại, ném vào giếng bùn cho đến chết, bị tuyên án xử chết. Rồi chính mắt tiên tri chứng kiến cảnh thành Jerusalem và đền thờ ĐGHV bị tàn phá, dân sự bị bắt làm phu tù, nô lệ sang xứ xa.
Trước những nghịch cảnh đó, tiên tri Giê-rê-mi vẫn một lòng trung tín với ĐCT và với sứ mạng Chúa giao phó cho ông. Một tấm gương hết sức đáng kính phục và học làm theo.
Thay vì nói về Phao-lô thì tôi muốn chia sẻ về người con trong Chúa yêu mến và thân thiết nhất với Phao-lô là Ti-mô-thê. Lần đầu tiên PL gặp Ti-mô-thê là trong cuộc truyền giáo thứ hai. Chúng ta nhớ câu chuyện cải lẫy dữ dội giữa PL và Ba-na-ba trước cuộc truyền giáo này đến nỗi họ từ giả nhau, mỗi người đi một đường trong CV 15.
Tôi nghĩ cả hai con tim của PL và Ba-na-ba đều đau nhức khi từ giả nhau. Chúa thương xót PL và cho ông tìm được Ti-mô-thê tại một thành phố tên Lít-trơ, một thành phố nơi “khỉ ho cò gái!”, đất quê mùa lạc hậu. Danh tiếng tốt của Ti-mô-thê không chỉ được hội thánh thành Lít-trơ biết mà còn đến cả hội thánh thành Đẹt-bơ cách đó vài mươi dặm đường. Từ đó Phao-lô tìm gặp và đem T. đi theo trong chuyến truyền giáo thứ nhất, cho đến cuối đời PL, khi bị xử tử, T. luôn tận trung đồng hầu việc Chúa với PL trong suốt khoảng 15 năm (50-52 gặp T., 65-67 PL mất).
PL viết khoảng 13 thư TU. Tên Ti-mô-thê có trong 10 thư (cả thư Hê-bơ-rơ cũng có tên T.)! Lá thư cuối cùng trong đời PL viết gởi cho T. gọi ông là con rất yêu dấu của ta. T. là một người trung tín cùng hầu việc Chúa với PL cho đến phút cuối cùng. Hầu việc Chúa cùng PL không dễ. PL như một đại cổ thụ. Tàn bóng của cây PL phủ dài, che khuất những người cùng hầu việc với ông.
Cuộc đời hầu việc Chúa của ông trải qua biết bao khó khăn, thử thách: Ba chuyến truyền giáo đi hàng ngàn dặm đường đi bộ, đi thuyền, đi lừa, đi ngựa. Chịu đói khổ, đòn roi, tù ngục, bị chìm tàu lênh đênh trên biển khơi, gặp nguy hiểm mọi nơi (2 Cô-rinh-tô 11:22-29). Tôi đă chịu khó nhọc nhiều hơn, tù rạc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng. Đôi phen tôi gần phải bị chết.
Trong suốt thời gian đó T. cùng bên cạnh ông, sống chết cùng ông. Một người không phải chỉ tuyên xưng, khoe khoang nhưng đã sống và hành động. PL viết những lời sau đây về T. với tín đồ HT thành Phi-líp: Thật vậy, tôi không có ai như người đồng tình với tôi để thật lòng lo về việc anh em: 21 ai nấy đều tìm lợi riêng của mình, chớ không tìm của Đức Chúa Jêsus Christ. 22 Nhưng anh em đã biết sự trung tín từng trải của người; và biết người là trung thành với tôi về việc Tin lành, như con ở với cha vậy. (Phi-líp 2:20-22). Được một vĩ nhân, một anh hùng đức tin như PL khen tặng những lời này thì thật hiếm có!
Thư 2 Ti-mô-thê viết cuối đời PL dù chỉ có 4 đoạn ngắn nhưng Pl nêu ra 23 tên. Hầu hết là những người trung tín cùng hầu việc với ông trong những năm tháng qua. Đến cuối đời, có gì đáng quí hơn là những người thân mến, những người đồng cam cộng khổ, sống chết có nhau trong đời sống, những người trung tín cùng hầu việc Chúa. Tôi chưa bao giờ nghe một người nào trên giường bệnh hấp hối lại có lời than: phải chi tôi làm thêm một giờ overtime! Chắc chắn không ai cả. Có nhắc chăng là tên của những người thân trong gia đình, trong Chúa.
Có 2 tên đáng để chúng ta chú ý vì nhắc chúng ta về thế nào là người trung tín trong Chúa. Hai tên đó là Mác hay Giăng Mác và Đê-ma. PL viết: Hãy cố gắng đến cùng ta cho kíp; 10 vì Đê-ma đã lìa bỏ ta rồi, tại người ham hố đời nầy, và đã đi qua thành Tê-sa-lô-ni-ca. Cơ-rết-xen đi trong xứ Ga-la-ti, còn Tít thì đi xứ Đa-ma-ti rồi. 11 Chỉ có một mình Lu-ca ở với ta. Hãy đem Mác đến với con, vì người thật có ích cho ta về sự hầu việc lắm. (2 Ti 4:9-11)
Mác là người viết Phúc Âm Mác và cũng là người trẻ tuổi đã từng bỏ PL và Ba-na-ba trong chuyến truyền giáo thứ nhất. Nhưng 15 năm sau PL viết về Mác như sau: Hăy đem Mác đến với con, vì người thật có ích cho ta về sự hầu việc lắm (4:11). Chúng ta cám ơn Chúa về Ba-na-ba đã biện hộ cho Mác và tiếp tục tin tưởng vào ông. Chính vì đó mà Mác tiếp tục trung tín hầu việc Chúa cùng PL ngay trong những ngày giờ cuối đời của PL.
Đây cũng là bài học cho những tín đồ trưởng thành: chúng ta cần có sự kiên nhẫn, lòng nhân từ, ân điển mà giúp những anh chị em thanh niên trẻ tuổi, mới hầu việc Chúa. Họ chắc sẽ vấp ngã, có lúc chán nản, muốn bỏ cuộc. Đó là Giăng Mác cần có những Ba-na-ba để giúp trở nên người trung tín. Bởi vì không ai trở nên người trung tín mà không vấp ngã, không có lúc thối chí, nản lòng, muốn bỏ cuộc. HT Chúa rất cần nhiều Ba-na-ba hơn bao giờ hết.
Điều này cũng cho thấy PL không phải là một người cố chấp mà giữ sự buồn giận cùng Mác đến hết cả đời vì lỗi phạm trước đó. Vậy người trung tín không phải là người toàn thiện, không vấp phạm, thậm chí sai quấy. Nhưng là người biết ăn năn, ý thức tội lỗi của mình và thay đổi. Dù vấp ngã nhưng vẫn tiếp tục đứng lên để đi trong con đường của Chúa.
Còn về Đê-ma PL viết: vì Đê-ma đă lìa bỏ ta rồi, tại người ham hố đời nầy, và đă đi qua thành Tê-sa-lô-ni-ca (4:10). Ai là Đê-ma? Là người cùng hầu việc Chúa với PL. Được ghi lại trong các thư Cô-lô-se 4:14 và Phi-lê-môn 1:24. PL từng nêu tên Đê-ma cùng với những người trung tín khác: Mác, A-ri-tạc, Đê-ma và Lu-ca, cùng là bạn cùng làm việc với tôi. Nhưng cuối cùng ông ham hố đời này bỏ PL, bỏ công việc Chúa.
TRUNG TÍN TRONG NHỮNG VIỆC NHỎ
Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi. (25:23).
3 sách Phúc Âm (Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca) ghi lại câu chuyện ĐCJC trước khi vào thành Giê-ru-sa-lem, Ngài gọi hai môn đồ (không có tên) để làm việc này: Đức Chúa Jêsus gần đến thành Bê-pha-giê và Bê-tha-ni, ngang núi gọi là ô-li-ve, sai hai môn đồ đi, 30 và dặn rằng: Hãy đi đến làng trước mặt các ngươi; khi vào làng, sẽ thấy một lừa con buộc đó, chưa hề có ai cỡi; hãy mở và dắt về cho ta. 31 Hoặc có ai hỏi sao các ngươi mở nó ra, hãy trả lời rằng: Chúa cần dùng lừa nầy. (Lu-ca 19:29-31).
Chúa sai họ đi lấy lừa về để Ngài cỡi vào thành. Thay vì so đo với các môn đồ khác: tại sao Chúa lại không sai họ mà lại sai chúng tôi hay xem đây là việc nhỏ, không quan trọng, họ vâng lời và làm theo.
Cả 3 sách PA cũng ghi lại câu chuyện ĐCJC sai Phi-e-rơ và Giăng đi để chuẩn bị bửa ăn cho lễ Vượt Qua: Hai người thưa rằng: Thầy muốn chúng tôi dọn lễ ấy tại đâu? 10 Ngài đáp rằng: Khi các ngươi vào thành, sẽ gặp một người mang vò nước; hãy theo người vào nhà. 11 và nói cùng chủ nhà rằng: Thầy phán cùng ngươi rằng: Phòng khách là chỗ ta sẽ ăn lễ Vượt Qua với môn đồ ta ở đâu? 12 Chủ nhà sẽ chỉ cho một cái phòng rộng và cao, đồ đạc sẵn sàng; các ngươi hãy dọn ở đó. 13 Hai môn đồ đi, quả gặp những điều như Ngài đã phán, bèn dọn lễ Vượt Qua. (Lu-ca 22:9-13)
ĐCJC không bảo các môn đồ bắt đầu với những việc lấp biển vá trời, những việc khó khăn hay vĩ đại, nhưng với những việc bình thường, nhỏ nhặt: Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn; ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc rất lớn. (Lu-ca 16:10). Hay lời khen của chủ cùng tớ trong ngụ ngôn ta-lâng: Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi. (Ma-thi-ơ 25:23) Chủ khen tặng đầy tớ vì đã trung tín trong việc nhỏ.
Không chỉ những việc nhỏ, nhưng cả những việc không ai thấy, nghe, biết, để ý đến, những việc không ai muốn làm, không ai khen ngợi.
Chúa bảo quí vị trung tín trong những điều gì? Học hiểu lời Chúa; sống làm theo lời Chúa dạy; Chớ bỏ qua sự nhóm lại (đến nhóm thờ phượng); Dâng hiến; Làm chứng.
Dĩ nhiên KT vô cùng tận, học cả đời cũng không hiểu biết hết. Nhưng ai cũng có thể biết những căn bản và những điều quan trọng nhất của KT. Điều gì? Thử đọc Giăng 3:16. ĐCT yêu thương cả thế gian. Vì yêu thế gian nên Ngài đã ban Con Một là Jêsus Christ. Để làm gì? Để chuộc tội cho chúng ta, chết thay cho tội nhân trên thập giá, để ban cho sự cứu rỗi, sự sống đời đời. Ai nhận được sự cứu rỗi? Người đặt trọn niềm tin vào ĐCJC. Có gì khó hiểu về những điều dạy quan trọng và chính yếu này.
Vấn đề với tín đồ không phải là điều họ không hiểu, nhưng điều hiểu nhưng không làm theo, không trung tín. Chúa muốn chúng ta trung tín trong việc nhỏ, trong những điều chúng ta hiểu được. Rồi những điều khác, to lớn hơn sẽ đến sau khi chúng ta vâng phục. Cuộc đời người tin Chúa không phải là cuộc chạy nước rút vài phút nhưng là cuộc chạy đường dài suốt cả đời còn lại.
KẾT QUẢ CỦA SỰ TRUNG TÍN
2 Ti-mô-thê 2:2 là một mô hình tăng trưởng của hội thánh và cũng là kết quả của một cuộc đời trung tín hầu việc Chúa. Những điều con đã nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người chứng, hãy giao phó cho mấy người trung thành, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác. Hãy cùng ta chịu khổ như một người lính giỏi của Đức Chúa Jêsus Christ.
Những điều con đă nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người chứng, ta là PL, người trung tín viết cho con, Ti-mô-thê, một người trung tín khác. PL khuyên gì? Những điều con đă nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người chứng, hăy giao phó cho mấy người trung thành, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác. PL khuyên hãy giao phó cho mấy người trung thành. PL giao phó cho Ti-mô-thê một trách nhiệm. Trách nhiệm đó là tìm những người trung thành để tiếp tục giao phó cho họ điều PL đã dạy. Từ giao phó hay ủy thác là pa-ra-té-tha-mi có nghĩa là để bên cạnh, đặt trước mặt. Có thấy, có biết, có hiểu mới có thể tin tưởng, từ đó mới có thể trung tín.
Mô hình trong 2 Timôthê 2:2 gồm 4 thế hệ: PL -> Ti-mô-thê -> những người trung tín -> kẻ khác.
Đây cũng là lời dạy cho tôi & quý vị: tìm người trung tín và giao phó cho họ điều chúng ta đã được dạy dỗ từ người trung tín đã dạy chúng ta. Khi mới tin Chúa tôi có một người bạn trong Chúa đã trung tín dạy cho tôi những căn bản của đời sống đạo: học KT, cầu nguyện, dâng hiến, làm chứng, thông công, vâng phục lời dạy KT. Sau đó tôi cũng đã cố gắng làm điều đó dù khi còn là tín đồ hay nay là mục sư.
Một câu chuyện xưa kể về một vị vua và nhà thông thái. Sau khi nhà thông thái chế ra bàn cờ vua (chess) vua thích quá nên muốn thưởng. Khi hỏi thì nhà thông thái trả lời như sau. Xin vua ban cho một hột lúa ô thứ nhất, rồi mỗi ô tăng lên gấp hai lần ô trước đó. Ví dụ ô1=1, ô2=2; ô3 = 4; ô4=8; ô5=16. Vua cười bảo sao lại xin quá ít vậy. Nhưng người cười là nhà thông thái vì cả kho lúa của vua hay cả lúa trong nước, thậm chí cả thế giới cũng không đủ để trả theo điều kiện này. Vì bàn cờ chess có 64 ô nên số lúa tổng cộng là 1 + 2 + 4 + …. + 9,223,372,036,854,775,808. Tổng số hột lúa trong 64 ô là 18,446,744,073,709,551,615, nặng 461,168,602,000 tấn. Đống lúa này cao hơn ngọn núi cao nhất địa cầu là Everest. Và gần 2000 lần tổng số gạo thế giới sản xuất 2020-2021 (772.64 triệu metric tons).
Chúng ta cùng đọc lại 2 Ti-mô-thê 2:2. Những điều con đã nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người chứng, hãy giao phó cho mấy người trung thành, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác. Hãy cùng ta chịu khổ như một người lính giỏi của Đức Chúa Jêsus Christ.
Nhưng ví dụ về hột lúa này liên hệ gì đến mô hình tăng trưởng theo 2 Ti-mô-thê 2:2? Thay vào ô vuông của bàn chess bằng số năm từ 1 đến 64. Thay vì số hột lúa là số người trung tín mỗi năm. Năm đầu tiên có 1 người trung tín; năm 2 có 2, năm 3 có 4, năm 4 có 8. Một số nghĩ sao tăng trưởng chậm quá! Năm 5 có 16, năm 6 có 32. Năm 10 có 512. Nhưng đến năm 16 con số này tăng lên đến 32,768.
Tất cả đều mong hội thánh tăng trưởng đông đảo. Nhưng quan trọng hơn số đông là người trung tín. Hễ có người trung tín thì không chỉ có số đông mà còn có thêm người trung tín. Nếu số đông chỉ gồm tín đồ Chúa nhật thì hội thánh sẽ ngừng tăng trưởng hay không bao giờ thật sự tăng trưởng dù có 50 hay 5000 ngàn người.
Giả sử nếu đến cuối năm thứ 3, đầu năm thứ 4 chúng ta có 4 người trung tín, nhưng sau đó 1 người bỏ cuộc chỉ còn lại 3. Cuối năm 4 thay vì có 8 người giờ chỉ còn lại 6. Đến năm 10 thay vì có 512 giờ chỉ còn lại 356 hay phân nữa. Vì vậy mất 1 người trung tín hội thánh Chúa sẽ mất đi phân nữa trong tương lai. Nhưng nếu thêm 1 người trung tín thì hội thánh sẽ tăng gấp 2 lần.
Senator Mark Hatfield tells of touring Calcutta with Mother Teresa and visiting the so-called "House of Dying," where sick children are cared for in their last days, and the dispensary, where the poor line up by the hundreds to receive medical attention. Watching Mother Teresa minister to these people, feeding and nursing those left by others to die, Hatfield was overwhelmed by the sheer magnitude of the suffering she and her co-workers face daily. "How can you bear the load without being crushed by it?" he asked. Mother Teresa replied, "My dear Senator, I am not called to be successful, I am called to be faithful."
Tầm quan trọng của một người trung tín không thể xem thường. Vì nó ảnh hưởng rất nhiều đến tương lai. Nhưng PL không khuyên dạy T. chỉ dừng lại ở việc tìm những người trung tín mà còn khuyên T. nghĩ đến việc huấn luyện họ để họ có thể dạy lại cho nhiều người khác.
Để làm theo 2 Tim 2:2, Hội thánh chúng ta cần làm gì?
Trung tín trong mọi việc, dù nhỏ hay lớn
Chú tâm tìm người trung tín
Giúp đở, huấn luyện cho người trung tín để họ biết sống đạo, làm chứng cho Chúa và tiếp tục tìm người trung tín.
