Từ Tiếng Than Trở Thành Bài Hát
Tiên tri Ha-ba-cúc sống trong thời kỳ cuối cùng của xứ Giu-đa trước khi giặc Ba-by-lôn tàn phá thủ đô Giê-ru-sa-lem và đền thờ Chúa tại đó (586 BC). Ông cũng sống trong một xã hội đầy dẫy những bạo ngược, bất công, độc ác dưới sự cai trị của các vua không tin vào ĐCT. Cộng thêm những tội ác dầy dẫy trong xã hội, vua chúa không tin Chúa, là nỗi lo sợ bị giặc Ba-by-lôn chiếm nước, phá đền thờ, phá thủ đô. Nên ông hỏi ĐCT.
Hai câu hỏi chính H. cho ĐCT là: 1) Tại sao Chúa lại làm thinh, lặng nhìn trước những tội ác đầy dẫy trong xứ? Chúa ở đâu rồi? 2) Tại sao Chúa là Đấng công bình, thánh sạch mà lại để cho một nước ngoại bang độc ác tấn công xứ Giu-đa? Không phải đây là xứ của dân tuyển ĐCT hay sao?
Câu trả lời của ĐCT cho câu hỏi 1 tại sao Chúa lại làm thinh, lặng nhìn tội ác trong xã hội, ngạc nhiên cả H. và tất cả chúng ta: Chúa sẽ dùng giặc Ba-by-lôn. Ta sẽ dùng một dân độc ác hơn dân sự trong xã hội ngươi đang sống để chiếm xứ ngươi, để tàn phá thủ đô, đền thờ, giết dân chúng, bắt họ làm nô lệ giải sang xứ Ba-by-lôn.
Nghe câu trả lời đó H. lại càng bối rối nên hỏi câu hỏi thứ 2. Rồi quyết định chờ đợi câu trả lời của ĐCT như một người lính canh thành: kiên nhẫn, với cái nhìn xa từ trên tháp cao, vâng phục và cho đến khi được trả lời (cho đến kỳ Chúa định).
Bài giảng tuần rồi là về câu trả lời của ĐCT cho H. sau khi ông đã chờ đợi Chúa. ĐCT cho biết Chúa sẽ trừng phạt vua dân xứ Babylon, là xứ xâm chiếm Giu-đa vì tội ác tầy trời của chúng. Việc đó chắc chắn sẽ xảy ra trong kỳ ĐCT đã định trước, xảy ra trong thời điểm của Chúa chứ không phải theo ý muốn hay thời gian của loài người.
CHO ĐẾN KỲ ĐỊNH, SẼ KHÔNG CÒN CƠ HỘI
Trong khi chờ đợi kỳ định của ĐCT, người công bình cần phải sống bởi đức tin. Khi không hiểu rõ công việc, thời điểm của Chúa, người tin Chúa càng cần phải sống bởi đức tin. Khi gặp những mất mát, hoạn nạn, đau khổ trong đời mà như Chúa làm thinh, nhìn đi nơi khác thì người tin Chúa càng cần phải sống bởi đức tin. Khi thấy những tội ác, bất công trong xã hội, thấy kẻ ác thành công, người thiện thất bại, kẻ lừa đảo giàu có, nhưng người chân thật lại nghèo khổ, thiếu thốn, người tin Chúa càng cần phải sống bởi đức tin.
Khi dân Chúa phạm tội, Chúa cho thời gian để ăn năn (200 năm Israel, 350 Judah) nhưng sau đó Chúa sẽ trừng phạt. Chúa cũng cho các nước chung quanh, dù không biết ĐCT, thờ tà thần, thời gian và cơ hội để họ ăn năn như xứ A-si-ri, thủ đô là Nineveh trong thời tiên tri Jonah, hay Babylon với vua N. (ĐCT hồi phục sau khi đã trừng phạt).
Nhưng khi kỳ định đã đến, sự trừng phạt sẽ đến. Bấy giờ có ăn năn cũng không còn cơ hội (Noah, Israel, Judah, A-si-ri, Babylon). Bài học quan trọng là khi kỳ định của sự phán xét đến thì sẽ không thể van xin, nài khẩn cho thêm thời gian, thêm cơ hội để ăn năn, thay đổi. Chính vì vậy PL viết: Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi! (2 Cor 6:2)
Khi chia sẻ TL, rất nhiều người viện lý do này, lý do khác để không tin Chúa. Một số tín đồ cũng thường có lý do: để khi nào tôi sắp xếp công việc xong sẽ thờ phượng, phục vụ Chúa. Mong cơ hội vẫn còn đó!
TỪ TIẾNG THAN TRỞ THÀNH BÀI HÁT
Bài giảng sáng nay dựa theo đoạn 3, đoạn cuối của sách, về lời cầu nguyện của H. sau khi đã nghe ĐCT cho biết Ngài chắc chắn sẽ trừng phạt giặc Babylon trong ngày giờ Chúa đã định. Đây là một đoạn KT rất khác biệt với tất cả các sách tiên tri, dù tiểu hay đại. Câu 1 được dịch là Lời cầu nguyện, nhưng về thể thi ca (BTT), đúng hơn như BD2011 theo điệu Si-ghi-ô-nốt. Câu cuối đoạn 20: Gởi cho nhạc trưởng, dùng với đàn dây. (BDM). Vậy đây là một bài hát nói lên những lời cầu nguyện của H. sau khi đã nghe Chúa trả lời.
Không ai biết điệu này là gì. Trong cả CU chỉ có 2 nơi là dùng từ này: H. 3:1 và TT 7:1 bắt đầu với chính từ này Si-ghi-ô-nốt của Đa-vít. Một số học giả KT thì giải thích thể này cũng như các bài thi thiên cầu nguyện như TT 17, 86, 90 (Mô-se), 102, 142). Có người hỏi tại sao lời cầu nguyện lại viết như bài hát? Bởi vì bài hát dễ nhớ hơn bài cầu nguyện hàng 100 lần.
[Câu chuyện về Benjamin Franklin, một nhà thông thái, 1 trong những người sáng lập đất nước HK. Thái độ của giới trí thức tại Paris khinh thường KT. BJ đem cho họ đọc H. 3:17-19: Dù cây vả ngưng trổ bông, Vườn nho không ra trái, Vườn ô-liu thất mùa, Ruộng nương không hạt lúa, Ràn mất hết chiên dê, Chuồng hết sạch bê bò, 18 Tôi vẫn vui mừng trong CHÚA, Tôi vẫn hớn hở trong Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu tôi. 19 CHÚA Toàn Năng là nguồn sức mạnh của tôi, Ngài khiến cho chân tôi vững vàng như chân nai, Ngài dẫn tôi đi trên các đỉnh núi. (BDM)]
ĐẤNG THÁNH ĐÁNG SỢ
Câu 2: Chúa ôi, con đã từng được nghe sứ điệp Ngài; Chúa ôi, con đã từng đứng bàng hoàng kinh hãi trước công việc Ngài. Xin Ngài làm lại điều đó trong thế hệ chúng con; Xin Ngài bày tỏ điều đó trong thời chúng con; Khi Ngài tức giận, cầu xin Ngài nhớ đến lòng thương xót (H. 3:2 BD2011)
Nghe sứ điệp = nghe câu trả lời của ĐCT cho câu hỏi thứ 2 của tiên tri H. Và khi đã nghe Chúa trả lời, thái độ, phản ứng của H. thế nào? bàng hoàng kinh hãi trước công việc Ngài. Sau khi ông được biết về quyền năng, cơn thạnh nộ, sự phán xét đáng sợ của ĐCT tả trong câu 3-15 ông lại bàng hoàng kinh hãi hơn nữa: Nghe điều đó người con run lên cầm cập, Nghe tin ấy truyền về môi con run lập cập, nói chẳng nên lời; Xương cốt con bỗng dưng như bị mục nát; Ðôi chân con cứ run lên, không kiềm chế được chút nào (3:16 – BD2011)
Thật trong bài cầu nguyện chung ĐCJC dạy chúng ta có thể gọi ĐCT là Cha chúng con trên trời. Sứ đồ Phao-lô dạy trong Rô-ma và Ga-la-ti rằng người đã thật sự thuộc về Chúa, có ĐTL trong đời sống, có thể gọi ĐCT là A-ba, Cha. Rô-ma 8:15: Anh chị em không nhận thần trí nô lệ để lại sợ hãi, nhưng là thần trí của con nuôi, nhờ đó anh chị em gọi Đức Chúa Trời là A-ba, Cha! 16 Chính Đức Thánh Linh hiệp với tâm linha làm chứng cho chúng ta rằng chúng ta là con của Đức Chúa Trời. (BDM); Ga-la-ti 4:6: Vì anh chị em là con nên Đức Chúa Trời sai Thánh Linh của Con Ngài ngự vào lòng chúng ta và kêu lên: A-ba, Cha ơi! (BDM)
Nhưng chớ hiểu lầm mà đến với Cha trên trời như một người bạn đồng vai vế. Chúa trên trời, chúng ta dưới đất. Chúa là Đấng Tạo Hóa, chúng ta là loài Chúa tạo. Chúa thánh khiết, tuyệt đối, vĩ đại, chúng ta tội lỗi, nhỏ bé. Đức Giê-hô-va phán: Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. 9 Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu (Ê-sai 55:8-9)
Tất cả các nhân vật trong KT khi được gặp ĐCT, thấy sự vĩ đại, vinh hiển, thánh khiết, uy quyền của ĐCT đều xấp mình không dám nhìn mà quì lạy. Mô-se run sợ tại núi Si-nai khi nhận 10 điều răn từ ĐGHV - Heb. 12:21: Cảnh tượng ấy kinh khủng đến nỗi Môi-se nói: "Chính tôi khiếp sợ đến run rẩy!". Giô-xuê xấp mình trước ĐCT - Người đáp: không, bây giờ ta đến làm tướng đạo binh của Đức Giê-hô-va. Giô-suê bèn sấp mặt xuống đất, lạy, và hỏi rằng: Chúa truyền cho tôi tớ Chúa điều gì? (Josh 5:14). Sứ đồ Giăng trước ĐCJC vinh hiển trên thiên đàng: Khi thấy Ngài, tôi ngã nhào xuống chân Ngài như đã chết, nhưng Ngài đặt tay phải Ngài trên tôi mà bảo: "Con đừng sợ! Ta là Đầu Tiên và Cuối cùng (KH 1:17 – BDM). Vì vậy PL viết về ngày cuối mọi miệng sẽ ngậm lại, mọi đầu gối quì xuống mà nhận Jesus là Chúa.
ĐẤNG VINH HIỂN, QUYỀN NĂNG SẼ PHÁN XÉT MỌI DÂN
Từ câu 3-15 H. tả về
Sự vinh hiển - câu 3-4 (BTT) Vinh hiển Ngài bao phủ các từng trời, Đất đầy sự khen ngợi Ngài. 4 Sự chói rạng của Ngài như ánh sáng. Các núi thấy Ngài thì đều sợ hãi;
Quyền năng khiếp sợ - Câu 6 Ngài đứng và đo đất; Ngài nhìn xem, làm tan tác các dân tộc; Các núi hằng còn đều tan nát, Các đồi đời đời đều quì xuống.
Câu 10-11: Các dòng nước chảy mạnh, Vực sâu vang tiếng (gào thét – BDM), Rún biển giơ tay lên cao. 11 Mặt trời mặt trăng dừng lại trong nơi ở nó
Cơn thạnh nộ và sự trừng phạt – Câu 8: Có phải Đức Giê-hô-va nổi giận nghịch cùng các sông chăng? Cơn giận Ngài có phải nổi lên nghịch cùng các sông chăng? Có phải sự thạnh nộ Ngài nổi lên nghịch cùng biển, Khi Ngài cỡi ngựa cỡi xe đặng giải cứu chăng? Câu 12: Ngài nổi giận bước qua đất; Và đang cơn thạnh nộ giày đạp các dân tộc
ĐCT trong đoạn KT này là một ĐCT mà mọi dân, mọi xứ đều phải run sợ. Ngay cả thiên nhiên, đồi núi, sông biển, mặt trời, mặt trăng đều phải tuân phục dưới quyền năng của ĐCT. Tôi muốn giải thích rõ điều quan trọng này: ĐCT yêu thương, đúng; nhân từ, đúng; tha thứ, đúng; nhưng ĐCT cũng là ĐCT thánh khiết, không chấp nhận tội lỗi và sẽ trừng phạt kẻ độc ác.
Hai ĐCT trong CU & TU? Câu 12-14 viết thêm về cơn thạnh nộ và trừng phạt của ĐCT: Trong cơn giận, Ngài rảo quanh cõi đất, Trong cơn phẫn nộ, Ngài chà đạp các dân tộc. 13 Ngài ra đi giải cứu dân mình, Đem sự cứu chuộc đến cho người được Ngài xức dầu. Ngài đập nát đầu bọn gian ác, Phơi trần chúng từ cổ đến chân. 14 Ngài dùng tên của các chiến sĩ bắn thủng đầu bọn chúng (H. 3:12-14 - BDM). Một số tín đồ có thể nghĩ tại sao ĐCT này như khác với ĐCJC nhân từ, tha thứ.
KT dạy rõ rằng ĐCJC hôm qua, hôm nay, cho đời đời không hề thay đổi (Heb. 13:8). ĐCT của CU cũng chính là ĐCT của TU, chớ không phải hai ĐCT như nhiều người nhầm nghĩ. Họ nói rằng ĐCT trong KTCU là Đấng khe khắc, trừng phạt, nhưng ĐCT trong KTTU là một Đấng đầy lòng nhân từ, yêu thương qua ĐCJC. Đây là suy nghĩ không đúng.
Một ví dụ: khi các con tôi còn nhỏ, chúng tôi rất khe khắc, kỷ luật: la rầy, trách dạy, đánh phạt. Động cơ là gì? Tình yêu thương, muốn con nên người. Nhưng với thời gian, khi các con bắt đầu hiểu biết thì những kỷ luật, đánh phạt không còn nữa. Dù Ỵ là dân tuyển nhưng họ cứng đầu: Nhà Y-sơ-ra-ên sẽ không nghe ngươi vì chúng nó không muốn nghe ta. Vì cả nhà Y-sơ-ra-ên đều cứng đầu và lòng chai đá (Ê-xê-chi-ên 3:7 – BDM) Sự trừng phạt cần thiết để sửa dạy dân cứng đầu và cứng lòng này. Sự trừng phạt là thể hiện của sự răn dạy với tình yêu thương, sự công chính.
[Ví dụ về bản viết cỗ tại viện bảo tàng tòa thánh Vatican gồm bản viết cũ và bản viết mới lên trên. Bản viết cũ = luật pháp của ĐCT; bản viết mới = ảnh hưởng xã hội, ý muốn cá nhân. Dù hôm nay bản viết mới tưởng như làm mất đi bản viết cũ nhưng trong ngày phán xét hai bản sẽ được cho biết rõ. Chúa sẽ xử mọi dân theo sự khác biệt giữa hai bản viết đó]
ĐCT luôn luôn cho cơ hội, thời gian để ăn năn, trở lại với Chúa. Chúng ta biết đây là một dân cứng cổ mau đi trong con đường sai quấy, thờ tà thần. ĐCT ban cho đất hứa, đượm sữa và mật. Họ theo các thần của xứ. Chúa phạt, họ kêu van. Chúa thương xót, giải cứu. Từ thời quan xét cho đến khi đất nước Y-sơ-ra-ên chia làm hai 300 năm trời. Chúa cho thêm 350 năm trước khi 2 xứ bị giặc tàn phá bắt sang xứ xa làm nô lệ. Trong 350 năm đó, ĐCT sai hết tiên tri này đến tiên tri khác (12 tiểu tiên tri và 4 đại = 16) để khuyên răn, dạy bảo, cảnh cáo, cho biết rõ hậu quả nếu bỏ đường lối ĐCT. Vua dân xứ Y giết con mình để cúng thần Ba-anh. Dân xứ Giu-đa trong thời tiên tri H. bạo ngược, cướp bóc, hung ác, coi luật Chúa không ra gì.
ĐCT nổi cơn thạnh nộ trừng phạt dân tuyển và dân ngoại là bởi vì Chúa là là Đấng yêu thương nhưng cũng bởi vì Chúa là Đấng công bình, thánh khiết. ĐCT trừng phạt không phải vô cớ, vô lý nhưng bởi vì dù cho các dân sự thời gian, họ vẫn không ăn năn, thay đổi. Một quan tòa tha bổng cho kẻ phạm tội, hảm hiếp, giết người không lương tâm có thể gọi là quan tòa có lòng nhân đạo sao? Hay là người vô tâm!
Vì thời gian nên tôi chỉ xin dùng hai câu KTCU hết sức cảm động (cũng là hai câu tôi yêu mến nhất) để cho thấy tình yêu thương bao la của ĐCT trong KTCU đối với dân tuyển: Vì phần của Đức Giê-hô-va là dân Ngài, Gia-cốp là cơ nghiệp Ngài. 10 Ngài tìm được người trong một nơi rừng-rú, Tại nơi vắng vẻ, giữa những tiếng hét la của đồng vắng. Ngài bao phủ người, săn sóc người, Gìn giữ người như con ngươi của mắt mình. (PTLLK 32:9-10). Ai là phần nghiệp của Chúa? Chúa tìm được dân này nơi nào? Trong nơi đó, Chúa làm gì cho họ?
Trong 12 tiểu tiên tri, có một sách viết bởi tiên tri Ô-sê (Hosea) của xứ Ỵ trước khi xứ mất. ĐCT ra lệnh cho tiên Ô-sê lấy một kỷ nữ (gái bán thân) tên Gô-me làm vợ. Ỵ cũng như một kỷ nữ bán mình cho tà thần; vậy đó mà ĐCT vẫn yêu thương. Sau khi có 3 con, Gô-me bỏ nhà đi, lại ngoại tình. Trong thời gian đó Ô-se vẫn tìm mọi cách để giúp đở, để gọi vợ trở về. Nhưng hễ càng giúp, Gô-me càng đi xa hơn nữa. Ô-sê dừng lại khi hiểu điều đó. Sau đó chính người tình bán bà làm nô lệ. Ô-sê vẫn yêu thương. Rồi ông chuộc người vợ ngoại tình ra khỏi vòng nô lệ với một giá cao. Ô-sê 11:1 Khi Y-sơ-ra-ên còn thơ ấu, ta yêu dấu nó; ta gọi con trai ta ra khỏi Ê-díp-tô. Dù biết con trai sẽ bội nghịch, gian ác, thờ tà thần, ĐCT vẫn gọi là con, vẫn yêu thương.
Sau khi nghe câu trả lời của ĐCT, khi biết Chúa sẽ nổi cơn thạnh nộ, trừng phạt các dân, gồm cả dân của ông, H. phản ứng thế nào? Vừa nghe xong, toàn thân tôi run rẩy, Môi tôi run lập cập, Xương cốt tôi rã rời, Bước chân đi lảo đảo. Tôi bình tâm chờ ngày hoạn nạn Giáng xuống dân xâm chiếm chúng tôi. Phần sau của câu 16 được một số bản dịch KT như bản dịch cũ như sau: Vì tôi phải nín lặng để chờ ngày hoạn nạn, Là ngày có dân đến xâm chiếm chúng tôi. [Giải thích sự khác biệt]
Dù như BDM và BD2011 dịch là chờ cho đến khi ĐCT trừng phạt xứ Babylon thì xứ Giu-đa cũng đã bị tàn phá rồi như lời ĐCT phán cùng H. trong đoạn 2. Vậy thế nào đi nữa thì H. biết chắc rằng tai họa, sự tàn phá đất nước của giặc B. sẽ xảy đến cho xứ của ông. Và có thể chính ông cũng là nạn nhân trong cuộc chiến đó. Chắc ông đã nghe về sự tàn ác của giặc Babylon. (Sau khi đã chiếm thành, N. giết các con trai vua và móc mắt vua, xiềng mà giải sang xứ B.)
CON NGƯỜI THẬT TRONG NGHỊCH CẢNH
Thà không biết còn hơn là biết chắc tai họa kinh khiếp chắc chắn sẽ đến mà phải chờ đợi. Tôi không hiểu được lý do gì người ta lại muốn biết về tương lai qua việc xem tử vi, bói toán. Nếu biết đúng 2 tuần nữa, bác sĩ sẽ cho tôi biết tôi bị bệnh ung thư không thuốc chửa, thì tôi sẽ sống thế nào trong thời gian đó.
Người đời này sẽ có những thái độ, phản ứng như sau:
Ăn chơi cho thả cửa rồi chết bởi vì trước sau gì cũng chết
Về nhà đóng cửa phòng không muốn gặp ai, đi đâu: bi quan, tuyệt vọng cho đến lúc chết
Chết là hết chớ gì phải sợ. Chết chưa hết vì phải chịu sự phán xét của ĐCT.
Con người thật nhất của qv, đức tin thật, tình yêu thương thật sẽ được thể hiện trong nghịch cảnh. Thái độ, phản ứng của qv trước nghịch cảnh sẽ cho biết con người thật của qv. Như lò lửa nóng lấy đi những cặn bản từ vàng, nghịch cảnh là lò lửa lấy đi những cặn bả của đức tin. Mọi người đều có thể đọc: Người công bình sống bởi đức tin, nhưng sống bởi đức tin thế nào?
Sau khi nghe câu trả lời của ĐCT, sau khi biết về quyền năng, sự phán xét của Chúa, H. phản ứng thế nào? Rất thật. Ông kinh sợ trước viễn ảnh đen tối đến nỗi , toàn thân tôi run rẩy, Môi tôi run lập cập, Xương cốt tôi rã rời, Bước chân đi lảo đảo. Nhưng tâm của ông thì thế nào? Tôi bình tâm chờ ngày hoạn nạn Giáng xuống dân xâm chiếm chúng tôi hay như BTT Vì tôi phải nín lặng để chờ ngày hoạn nạn, Là ngày có dân đến xâm chiếm chúng tôi. Người tin Chúa phải học theo gương H.
Câu 17-19 là đoạn KT hết sức ý nghĩa và cảm động. Là những lời bày tỏ đức tin rõ ràng, cụ thể nhất của người công bình sống bởi đức tin, dù trước viễn ảnh đen tối nhất: Dù cây vả ngưng trổ bông, Vườn nho không ra trái, Vườn ô-liu thất mùa, Ruộng nương không hạt lúa, Ràn mất hết chiên dê, Chuồng hết sạch bê bò, 18 Tôi vẫn vui mừng trong CHÚA, Tôi vẫn hớn hở trong Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu tôi. 19 CHÚA Toàn Năng là nguồn sức mạnh của tôi, Ngài khiến cho chân tôi vững vàng như chân nai, Ngài dẫn tôi đi trên các đỉnh núi. (BDM)
[Câu chuyện bác sĩ Ray Bartfield kể trong buổi đàm thoại tại trường y khoa đại học Washington vào tháng 2. Bác sĩ Ray là bác sĩ ung thư nhi đồng, giáo sư y khoa nhi đồng, giáo sư trường y tá, và cũng là giáo sư về triết học Cơ Đốc tại trường đại học Duke]
ĐCT có thể thay đổi hoàn cảnh nhưng quan trọng hơn Chúa muốn thay đổi tấm lòng, thay đổi đức tin của người tin Chúa để dù trong hoàn cảnh nào của đời sống thì cũng có thể nói như tiên tri H.
Sách H. dạy: Thật người công bình sống bởi đức tin.
