Trong Ngày Sợ Hãi
9 bài TT trong khoảng đời đen tối nhất của Đ, khoảng 10-12 năm dài bị vua Sau-lơ tìm giết chỉ vì lòng ghen ghét, ganh tị. Đây là những bài hát trong cơn gian truân gồm cả TT 142 đọc tuần rồi và TT 56 hôm nay.
Khi còn chăn chiên, Đ. không sợ sư tử, thú dữ. Khi đối diện với G. Đ. không hề sợ kẻ thù khổng lồ, trang bị đầy đủ này. Khi tôi tớ vua chăn chiên của cha mình, hễ có sư tử hay là con gấu đến tha một con chiên của bầy, 35 thì tôi đuổi theo, đánh nó, rứt con chiên khỏi miệng nó; hễ nó cất lên cự tôi, tôi nắm râu nó, đánh và giết nó đi. 36 Tôi tớ vua đã đánh chết con sư tử và con gấu, vậy thì người Phi-li-tin không chịu phép cắt bì kia cũng sẽ đồng số phận với chúng nó; vì hắn đã sỉ nhục các đạo binh của Đức Chúa Trời hằng sống. (1 Sam 17:34-36)
Vua chẳng đòi sính lễ gì khác, chỉ đòi một trăm dương bì của người Phi-li-tin, đặng trả thù kẻ cừu địch mình. Vả, cái mưu của Sau-lơ là khiến cho Đa-vít sa vào tay dân Phi-li-tin. (1 Sam 18:25) Không chỉ 100 như vua Sau-lơ yêu cầu, Đ. nộp gấp 2 lần số đó để lấy được Mi-canh làm vợ.
Tuy nhiên một người dù can đảm, anh hùng đến mấy, cũng sẽ có lúc sợ hãi trước những sự việc, hoàn cảnh bế tắc không tài nào giải quyết được. Hoàn cảnh bế tắc khiến Đ. lo sợ là gì? Câu chuyện được kể trong 1 Sam 19-21.
1) Sau-lơ sai người đến nhà, bao vây để bắt giết Đ. Vợ người là Mi-canh phải lập kế để hình nộm trên giường rồi giúp Đ. thòng giây leo xuống cửa sổ để trốn thoát;
2) Sau đó Đ. chạy trốn đến nhà tiên tri Sa-mu-ên tại Ra-ma, rồi cả hai chạy đến một nơi khác tên Na-giốt. Nhưng có người thấy nên báo cho Sau-lơ. Khi Đ. thành công, mọi người đều yêu chuộng, muốn theo; nhưng một khi đã sơ cơ thất thế, một số lại hùa theo Sau-lơ dù biết rằng Đ. vô tội. Lẽ đời và tấm lòng con người tráo trở, bội bạc là vậy!
3) Rồi Đa-vít gặp Giô-na-tha để xác định rõ về ý định của Sau-lơ có thật muốn giết Đ. hay không. Sau khi biết chắc rằng S. sẽ tìm mọi cách để bắt giết Đ., hai người bạn chí thân phải chia tay. KT viết cả 2 cùng khóc nhưng Đ. khóc nhiều hơn. Đ. giờ mất cả vợ và bạn chí thân. Hoàn toàn cô độc. Đ. không còn ai ngoại trừ ĐCT.
4) Rồi Đ. bỏ trốn đến Nóp nơi thầy tế lễ A-hi-mê-léc. Ông hoàn toàn kinh hãi (run sợ) khi thấy Đ. Đ. hỏi xin thức ăn và vũ khí. A-hi-mê-léc buộc phải trao cho Đ. thanh gươm của Gô-líat.
5) Bấy giờ, Đa-vít chỗi dậy, ngày đó trốn xa khỏi Sau-lơ; mà đi đến cùng A-kích, vua Gát. (1 Sam 21:10) Trốn xa khỏi Sau-lơ bằng cách nào? Vào nơi hang hùm, vào thành Gát, quê của Gô-li-át, thủ đô của giặc Phi-lít-tin. Rủi cho Đ. ông bị nhận diện là người đã giết Gô-li-át và là người hùng của Y-sơ-ra-ên được các phụ nữ hát Sau-lơ giết hàng ngàn, còn Đa-vít giết hàng vạn.
Đ. phải giả điên giả khùng trước dân, quân và vua A-kích:
Người giả đò điên cuồng trước mặt chúng, và làm bộ dại khờ giữa họ; người vẽ gạch dấu trên cửa và để nước miếng chảy trên râu mình.14 A-kích nói cùng tôi tớ mình rằng: Kìa, các ngươi thấy người đó điên cuồng! Cớ sao các ngươi dẫn nó đến ta? 15 Nơi ta há thiếu kẻ điên sao, nên các ngươi phải dẫn kẻ nầy đến ta đặng nó bày sự kỳ cục trước mặt ta? Một người như vậy chẳng nên vào nhà ta. (21:13-15).
TT 56 viết về tâm trạng sợ hãi khi Đ. bị vua A-kích bắt tại thành Gát sau khi bị nhận diện. Có ai trong hoàn cảnh Đ. lại không lo sợ? Vì không biết giặc sẽ làm gì với mình: tra tấn, hành hạ, làm nhục, bắt làm tù binh để trao đổi với Sau-lơ, hay giết đi. Có lẽ cái chết ít đáng sợ hơn là bị tra tấn, hành hạ và hơn lại bị bắt giao lại cho vua Sau-lơ.
TT 34 viết về sự giải thoát của ĐCT, sau khi vua A-kích thả Đ. vì tưởng ông thật sự điên khùng. Tựa đề: Thơ Đa-vít làm, khi người giả bộ điên dại trước mặt A-bi-mê-léc, và bị người đuổi đi.
NỖI SỢ HÃI CỦA ĐA-VÍT TRONG TT 56
Đức Chúa Trời ôi! xin thương xót tôi; vì người ta muốn ăn nuốt tôi; Hằng ngày họ đánh giặc cùng tôi, và hà hiếp tôi. 2 Trọn ngày kẻ thù nghịch tôi muốn ăn nuốt tôi, Vì những kẻ đánh giặc cùng tôi cách kiêu ngạo là nhiều thay.
Ai nghĩ người tin Chúa, yêu mến Chúa, anh hùng đức tin, người can đảm là người không hề biết sợ, cũng chẳng bao giờ khóc, là nghĩ rất sai lầm. Ngay cả ĐCJC cũng có lúc sợ và cũng có những lúc Chúa khóc. Trong vườn Ghết-sê-ma-nê KT viết Chúa cầu nguyện khẩn thiết đến nỗi mồ hôi hòa với máu và xin Cha cất chén đắng khỏi Con. Theo y khoa cho biết tình trạng mồ hôi hòa máu (gọi là hematidrosis) xảy ra khi một người bị căn thẳng, stress, hay sợ hãi quá độ đến nỗi những mạch máu nhỏ gần tuyến mồ hôi phải vỡ ra. Ngày nay hiện tượng này cũng đã xảy ra với những tử tội chờ bị xử chết, hay lính ra trận khi họ quá sợ hãi. Vậy nếu chúng ta lo sợ trước tình trạng covid, lạm phát kinh tế, gia tăng tội phạm trong thành phố cũng là tự nhiên và dễ hiểu.
Vấn đề không phải là tập để không còn sợ, nhưng để khi sợ vẫn có thể tiếp tục cuộc sống hàng ngày. Sợ hãi không làm tê liệt đến nỗi chúng ta không còn có thể làm bất cứ việc gì.
Ví dụ về sự sợ hãi quá độ: Một câu chuyện kể về một thanh niên tên Janez Rus theo Đức quốc xã trong thời đệ nhị thế chiến và làm nhiều điều độc ác. Sau chiến tranh sợ bị bắt nên hắn lẫn trốn trong nông trại của chị suốt 32 năm trời. Đến nỗi không dám dự lễ tang của chính mẹ hắn. Khi nghe tiếng cười nói vui vẻ bên ngoài, hắn khóc vì tủi nhục, hối hận. Người ta khám phá ra bí mật này khi người chị mua một số bánh mì lớn. Khi bị bắt, người thanh niên xưa đã trở nên một người đàn ông tuổi gần 60, nói: Nếu tôi không bị bắt, tôi đã tiếp tục trốn trong bóng tối. Dù bị bắt, nhưng tôi mừng vì điều này xảy ra. Sau này người ta biết rằng trong suốt 32 năm dài đó, không một lần, ông rời khỏi nhà, mà chỉ có thể nhìn xuống làng gần bên trong thung lũng từ cánh cửa sổ nhỏ.
Khi sợ hãi Đ làm gì? Đ. kêu cầu, thú thật cùng Chúa về nỗi lo sợ và về lý do khiến cho họ sợ hãi. Một nơi khác trong TT 62, Đ viết: Hãy dốc đổ sự lòng mình ra tại trước mặt Ngài: Đức Chúa Trời là nơi nương náu của chúng ta (62:8). Từ đổ dốc đây nói lên hình ảnh của nước đổ ra hết tuôn tràn, lêng láng.
Đ trải lòng ông ra trước Chúa trong TT 56. Không dấu diếm một điều gì trước Chúa khi sợ hãi. Ông bắt đầu bài TT với lần cầu khẩn tha thiết: Đức Chúa Trời ôi! xin thương xót tôi; Đ thú nhận cùng Chúa ông vô cùng sợ hãi, sợ vì bị bắt, sợ vì kẻ thù nghịch ông đông biết bao nhiêu lần, sợ vì không biết họ sẽ xử mình chết sống thế nào, hay hành hạ, tra tấn vì đã giết Goliath và biết bao nhiêu giặc Philistin.
Từ ăn nuốt còn được dịch là nuốt sống, ăn tươi nuốt sống, cắn nuốt, chà đạp (BDM) như khi người ta đè nát con kiến hay con nhặn nhỏ. Điều này nói lên sức mạnh của kẻ thù và hoàn cảnh tuyệt vọng của Đ.
Nhiều thay: số người quá nhiều để Đ. có thể đếm hết được. Sau-lơ, những người theo S. + dân P. trong thành Gát + quan quân Phi-lít-tin + vua A-kích.
Nguy hiểm này còn xảy ra hàng ngày, trọn ngày. Mỗi ngày và cả ngày, không ngừng, liên tục
Và Đ. thú nhận ông vô cùng sợ hãi trước hoàn cảnh bế tắc, tuyệt vọng này. Đ. gọi những ngày này là ngày sợ hãi! Từ sáng đến tối, từ thứ hai đến Chủ nhật, mỗi ngày mỗi giờ đều là ngày sợ hãi đối với Đ. Ông sống, thở trong nỗi lo sợ triền miên, không chấm dứt. Có bao giờ qv kinh nghiệm những ngày sợ hãi như Đ. hay không?
Nỗi lo sợ, sự sợ hãi là một cảm xúc phổ thông nhất từ khi lọt lòng mẹ, cho đến khi nhắm mắt xuôi tai. Em bé sợ vì môi trường, hoàn cảnh hoàn toàn mới sau 9 tháng dài trong lòng mẹ êm ấm, bảo vệ. Người sắp chết sợ vì đau đớn, vì sự chết không biết sẽ đi đâu về đâu.
Ngay sau khi phạm tội cùng ĐCT, khi Chúa hỏi A-đam & E-va: Ngươi ở đâu. Câu trả lời của A-đam: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lõa lồ, nên đi ẩn mình. Từ sợ trong STK 3 cũng chính là từ Đ. dùng để diễn tả nỗi sợ hãi của ông trước hoàn cảnh bế tắc trong vòng kẻ thù
Theo MS Max Lucado trong quyển sách Fearless: 4 sách Phúc Âm có khoảng 125 mạng lệnh, nhắc nhở từ ĐCJC. Trong số đó, nhiều hơn hết là lời dạy về sự sợ hãi: 21 lần nhắc chúng ta “đừng sợ hãi,” “hãy vững lòng”, “hãy can đảm”, “hãy yên tâm”. Kế đến là mạng lệnh về tình yêu thương, yêu Chúa, yêu người, gồm 8 lần. Qua số lượng, chúng ta nhận thấy ĐCJC xác nhận về sự quan trọng của cảm xúc sợ hãi. Một lời trấn an Chúa phán nhiều hơn hết là: chớ sợ, (don’t be afraid) (Max Lucado, Fearless.)
During the hardest moments of a particularly difficult year, Bible searches soared online, and a record number of people turned to Scripture for passages addressing fear, healing, and justice. The popular YouVersion Bible App saw searches increase by 80 percent in 2020, totaling nearly 600 million worldwide. Isaiah’s assurance to “do not fear,” was the Bible App’s top verse globally this year, also ranked as the No. 1 verse in the US, India, South Africa, the Netherlands, and the Philippines.
Đừng sợ, vì ta ở với ngươi; chớ kinh khiếp, vì ta là Đức Chúa Trời ngươi! Ta sẽ bổ sức cho ngươi; phải, ta sẽ giúp đỡ ngươi, lấy tay hữu công bình ta mà nâng đỡ ngươi. (Ê-sai 41:10)
In Ghana, the top verse was Philippians 4:8 (“Do not be anxious …”), and in Kenya, Romans 8:28 (“in all things, God works for the good …”). YouVersion founder Bobby Gruenewald said, “Through every hardship, people continue to seek God and turn to the Bible for strength, peace, and hope. While 2020 is a year so many say they’d like to forget, we see it as a year to remember how God used the Bible App to help so many people who are searching for answers.” Overall, the app tracked 43.6 billion chapters of the Bible read in 2020, with half a billion verses shared, its highest on record. (Kate Shellnutt, “2020’s Most-Read Bible Verse: ‘Do Not Fear’” Christianity Today (12-3-20))
ĐỨC TIN VÀ SỢ HÃI
Hai cấp độ của sự sợ hãi: 1) Hoàn cảnh bế tắc, tuyệt vọng không giải quyết được; 2) ĐCT lìa bỏ nên không còn hy vọng.
Hoàn cảnh của Đ. hoàn toàn tuyệt vọng nhưng trong lòng Đ. vẫn còn hy vọng vào ĐCT. Chính vì vậy mà Đ. mới có thể nói: Trong ngày sợ hãi, Tôi sẽ để lòng nhờ cậy nơi Chúa. 4 Tôi nhờ Đức Chúa Trời, và ngợi khen lời của Ngài; Tôi để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ắt sẽ chẳng sợ gì; Người xác thịt sẽ làm chi tôi? (TT 56:3-4)
Hoàn cảnh càng khó khăn, đen tối bao nhiêu, nỗi sợ hãi càng lớn bao nhiêu thì Đ càng nắm chặt Chúa hơn, quan hệ với Chúa càng gắn bó, mật thiết hơn. Trong những ngày tháng gian truân, trong những ngày sợ hãi, Đ chọn và quyết định đặt cái neo của linh hồn ông vào nơi Chúa. Vì Chúa là cái neo vững chắc, bảo đảm hơn tất cả mọi neo khác trong cuộc đời này khi những cơn bão tố nổi lên.
Hai Cách Thức Giải Quyết Sợ Hãi
Có lúc Chúa làm yên giông bão. Có lúc Chúa để giông bão nổi lên và làm yên lòng con dân Ngài giữa cơn giông bão
Sometimes the Lord calms the storm. Sometimes he lets the storm rage and calms his child.
Hoàn cảnh thay đổi = the Lord calms the storm
Chúa thay đổi tấm lòng chúng ta dù hoàn cảnh không thay đổi = He lets the storm rage and calms his child
Hỡi kẻ ít đức tin kia, cớ sao các ngươi sợ? (Ma-thi-ơ 8:28)
Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:33)
Trong cơn gian truân, hoạn nạn, trước những nguy hiểm hễ khi còn biết chắc, còn kinh nghiệm được sự hiện diện của Chúa bên cạnh mình, thì chúng ta vẫn còn tìm được yên ủi và bình an trong tâm hồn. Nhưng đáng sợ nhất là trong cơn hoạn nạn chúng ta không biết Chúa đang ở cùng con hay không.
Có thể Đ nhớ đến lời Chúa phán cùng Mô-se Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe! Ngày nay các ngươi đi giao chiến cùng thù nghịch mình, lòng các ngươi chớ nhát, chớ sợ, chớ run rẩy, và chớ kinh khiếp vì chúng nó; 4 bởi Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đấng cùng đi với các ngươi, đặng vì các ngươi đánh kẻ thù nghịch và giải cứu cho. (PT 20:3-4) Hay lời của ĐCT cùng Giô-suê trước khi ông lãnh đạo dân sự vào đất hứa: Ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh khủng; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi. (Giô-suê 1:9)
TT 3 viết khi Đa-vít bị chính con ông là Áp-sa-lôm nổi loạn xoán ngôi và đuổi giết phải bỏ trốn khỏi hoàng cung. Bao nhiêu người chung quanh Đ. nhất là kẻ thù hay những người không biết Chúa nói với Đ: Biết bao nhiêu người nói với linh hồn tôi: Đức Chúa Trời không giải cứu nó đâu! (3:2) Lời nói của người ta với Đ. rằng ĐCT không giải cứu ông đâu không phải chỉ nói về sự giải cứu khỏi sự nguy hiểm, thoát được sự đuổi bắt của giặc thù, nhưng còn hàm một ý sâu sắc hơn là ĐCT đã lìa bỏ Đ. rồi. Như Chúa đã lìa bỏ vua Sau-lơ, hay ĐCT lìa bỏ Đ. sau khi ông phạm tội tà dâm, giết chồng bà Bát-sê-ba.
Nhưng ngay trong những giờ phút lo sợ cho tính mạng, nguy hiểm, vì ngôi vua có thể mất, Đ. vẫn có thể kinh nghiệm được sự bình an khi biết rằng Chúa vẫn luôn ở cùng ông. Đ. viết: Tôi cất tiếng kêu cầu CHÚA! Từ núi thánh Ngài đáp lời tôi. 5 Tôi nằm xuống và ngủ yên; Tôi thức dậy, vì CHÚA chống đỡ cho tôi. 6 Tôi sẽ không sợ muôn vạn quân, Dàn trận vây tôi khắp bốn bên. Vâng chúng ta lo sợ trước cơn đại dịch toàn cầu đang xảy ra, lo sợ vì công việc, vì tương lai. Nhưng nếu biết Chúa luôn bên cạnh thì như Đ. viết chúng ta có thể nằm xuống và ngủ yên.
Lý do giúp giảm đi nỗi sợ hãi của Đ không phải vì hoàn cảnh chắc chắn rồi sẽ thay đổi. Thật vậy sau khi bị bắt và phải giả điên tại Gát, Đ lại tiếp tục bị vua Sau-lơ theo đuổi tìm giết phải chạy trốn từ nơi này đến nơi khác. Cũng không phải vì Chúa ban cho ông một can đảm phi thường, một con tim thép, nhưng vì chính những lời Chúa đã hứa: Chúa hứa sẽ ở cùng trong mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Biết được Chúa ở cùng là một yên ủi lớn vô cùng.
Dù trong suy nghĩ, hiểu biết chúng ta ý thức rằng Chúa luôn ở cùng mình dù trong bất kỳ cảnh ngộ nào của đời sống, nhưng kiến thức, hiểu biết đó phải được nhắc đi nhắc lại để giảm đi nỗi lo sợ. Thậm chí dù có lúc biết nhưng vẫn lo sợ, vẫn lo lắng không yên, vẫn không ăn được, ngủ được. Vì lý do này trong cơn gian truân, trong ngày sợ hãi chúng ta cần đọc KT, đọc TT hơn bao giờ. Để được lời Chúa yên ủi, trấn an, để được nhắc nhở về lời Chúa hứa: Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi. (Giăng 14:27)
Câu 8: Chúa đếm các bước đi qua đi lại của tôi: Xin Chúa để nước mắt tôi trong ve của Chúa, Nước mắt tôi há chẳng được ghi vào sổ Chúa sao? BD2011: Ngài đã dõi theo những bước lang thang trốn tránh của con. Chú ý 3 động từ trong câu KT: đếm các bước (biết tôi gian khổ thế nào); để nước mắt tôi (sẽ giải thích); ghi vào sổ (Chúa không chỉ biết nhưng còn ghi nhớ)
Phong tục ngày xưa khi những người bạn đi thăm một người bạn đang bịnh nặng hay trong cơn đại nạn, khốn khổ, họ đem theo ve nước mắt (tear bottle). Khi đến thăm, trò chuyện nếu bạn mình khóc thì họ sẽ dùng ve để hứng những giọt lệ này. Rồi niêm ve lại để làm kỷ niệm về giai đoạn khó khăn, gian truân này. Đây là ý Đ muốn nói đến. Nhưng ý nghĩa sâu sắc của câu KT này là chính ĐCT là người bạn thiết hứng nước mắt của Đ vào ve, chính ĐCT là người sẽ niêm ve lại để làm kỷ niệm những ngày tháng đầy sợ hãi của Đ.
Tôi nghĩ trong 12 năm dài gian truân, khốn khổ này Đ có biết bao nhiêu ve nước mắt. Ve khi bị bắt tại thành Gát; ve khi phải giả điên khùng; ve khi phải trốn trong hang động; ve khi trong sa mạc khô cằn không nước; ve khi được tin vợ Mi-canh bị vua Sau-lơ bắt gả cho người khác. Và mỗi lần Đ khóc ông biết chính ĐCT hứng những giọt lệ đó vào ve. Chúa là bạn hữu thân thiết nhất luôn có mặt để hứng nước mắt. Nhưng KT cho biết rằng sẽ có một ngày, một nơi mà những người tin Chúa, như Đ, như qv và tôi, như hàng tỉ tỉ anh chị em trong Chúa sẽ không cần ve nước mắt nữa. 4 Ngài sẽ lau sạch tất cả nước mắt nơi mắt họ, sẽ không còn chết chóc, tang chế hoặc khóc than hay đau khổ nữa, vì những việc trước đã qua rồi. (KH 21:4)
Hễ còn sống trên đất này, hễ còn trong thân phận con người là còn nước mắt. Và khi con dân Chúa khóc Chúa biết và luôn bên cạnh, để hứng vào ve. Nhưng đến ngày cuối, nơi trời mới, đất mới sẽ không cần ve nước mắt nữa. Chúa sẽ lau sạch tất cả nước mắt nơi mắt con dân Ngài. Khi đó tôi nghĩ chúng ta vẫn có thể tìm được những ve nước mắt trong những tháng ngày sống trên đất này. Chúng ta sẽ nhìn những ve nước mắt này mới tấm lòng biết ơn Chúa không cùng, vì đó là những dấu tích rõ ràng nhất về tình yêu của Chúa với chúng ta: khi con dân Chúa khóc, Ngài luôn bên cạnh, cảm thông. Có thần nào, chúa nào, có đấng nào cảm thông như ĐCT chúng ta! Có tôn giáo nào dạy về một Thượng Đế, ông Trời nào như ĐCT trong KT.
BÀI HỌC: ĐỂ BIẾT TIN CẬY VÀO CHÚA VÀ ĐỂ TRƯỞNG THÀNH
Có người hỏi tại sao ĐCT lại để cho Đ hay người tin Chúa phải trãi qua những ngày sợ hãi như vậy? Dù không biết rõ tất cả lý do nhưng một lý do KT cho chúng ta biết rõ: Để chúng ta học nương cậy vào Chúa và để ĐCT dùng thời gian khó khăn, mất mát đó thay đổi đời sống. Như Gia-cơ viết: Thưa anh chị em, khi gặp những thử thách khác nhau (thử thách trăm bề), anh chị em hãy xem tất cả là điều vui mừng, 3 vì biết rằng đức tin anh chị em có bị thử nghiệm mới sinh ra kiên nhẫn, 4 kiên nhẫn có hoàn tất công việc thì anh chị em mới trưởng thành, toàn vẹn, không thiếu sót gì (Gia-cơ 1:2-3 - BDM) Ai cũng muốn có đức tin, có lòng kiên trì, có sự trưởng thành, toàn vẹn, nhưng không muốn qua thử thách trăm bề.
Năm 1962, một tâm lý gia tên Victor Goertzel và vợ ông cũng là tâm lý gia viết một quyển sách tựa là Cradles of Eminence: A Provocative Study of Childhoods of Over 400 Famous 20th Century Men and Women – Những cái nôi của sự lỗi lạc: nghiên cứu (có tính khiêu khích về kiến thức, hiểu biết sai lầm thời bấy giờ) về tuổi thơ của 400 nhân vật nổi tiếng trong thế kỷ 20. Họ chọn 400 người đó có ít nhất 2 sách đã được viết về cuộc đời họ, và phải có những đóng góp quan trọng và giá trị cho xã hội, thế giới như bà bác học Marie Curie (người phụ nữ đầu tiên và duy nhất đạt hai giải Nobel cả về Lý và Hóa), bà tổng thống Elenor Roosevelt, Henry Ford (người sáng lập hảng xe Ford và chế tạo hệ thống ráp xe dây chuyền đầu tiên trên thế giới) hay John D. Rockefeller, tỉ phú dầu hỏa, người giàu nhất HK và trong thế giới hiện đại. Hai nhà tâm lý gia khám phá rằng chỉ ít hơn 15% trong số 400 nhân vật quan trọng và nổi tiếng này được lớn lên trong một gia đình đầy hậu thuẩn (supportive), không có vấn đề. Nhưng 75% trong 400 nhân vật nổi tiếng trong thế kỷ 20 này, tức khoảng 300 người lớn lên trong một gia đình đầy những nan đề trầm trọng: nghèo khó, bị cha mẹ ngược đãi hay vắng mặt, nghiện ngập, bệnh tình trầm trọng hay những bất hạnh trong đời sống. Sách viết: The “normal man” is not a likely candidate for the Hall of Fame (Một người bình thường thông thường không là một ứng viên cho hội danh dự).
Tại sao ĐCT lại để con dân Chúa trải qua gian truân, khó khăn, mất mát? Để giúp họ trưởng thành trong đức tin, trong phẩm hạnh, trong khả năng. Tác giả Hê-bơ-rơ viết: Trong những ngày sống trong xác thịt, Đức Giê-su đã lớn tiếng dâng những lời cầu nguyện, nài xin với nước mắt lên Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng thành kính nên được nhậm lời. 8 Dù là Con, Ngài cũng phải học tập vâng lời trong những điều thống khổ Ngài đã chịu (Heb 5:7-8 - BDM) Nếu ĐCJC cũng phải học vâng lời ĐCT qua những đau đớn thì trò sau có thể hơn thầy, chúng ta có thể tránh được sự dạy dỗ bằng cách này của ĐCT sao?
Kết thúc với câu hỏi: Vì Chúa đã giải cứu linh hồn tôi khỏi chết: Chúa há chẳng giữ chân tôi khỏi vấp ngã, Hầu cho tôi đi trước mặt Đức Chúa Trời trong sự sáng của sự sống? Câu trả lời rất rõ: vì Chúa đã giải cứu linh hồn Đ., người tin Chúa khỏi chết nên chắc chắn Chúa cũng sẽ giữ chân khỏi vấp ngã, để tiếp tục bước đi trước Chúa trong sự sáng của sự sống. Không phải chỉ sự sống. Nhưng là sự sáng của sự sống. Sự sáng tượng trưng cho sự bày tỏ rõ ràng, mọi người đều nhìn thấy, nhận biết.
Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, Nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng… Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nghe và thương xót tôi; Đức Giê-hô-va ôi! khá giúp đỡ tôi. 11 Ngài đã đổi sự buồn rầu tôi ra sự khoái lạc, Mở áo tang tôi, và thắt lưng tôi bằng vui mừng; 12 Hầu cho linh hồn tôi hát ngợi khen Chúa không nín lặng. Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, tôi sẽ cảm tạ Chúa đến đời đời. (TT 30:5, 10-12)
