Trong Ngày Nao Sờn
Tựa đề của bài giảng Trong ngày nao sờn dựa theo TT 142:3: Khi tâm hồn nao sờn trong mình tôi, Thì Chúa đã biết nẻo đàng tôi. Trên con đường tôi đi, Chúng nó gài kín một cái bẫy. BDM: tâm thần tôi kiệt quệ. TT 142 viết về khoảng thời gian, về kinh nghiệm, cảm xúc khi Đ phải chạy trốn vua Sau-lơ trong hang động. Đề tựa (phụ chú) của TT142 như sau: Thơ dạy dỗ Đa-vít làm, khi ở trong hang đá. Bài cầu nguyện. Chú ý trong lời đề tựa, Đ cũng gọi TT này là bài cầu nguyện, một bài cầu nguyện trong ngày gian nạn, thử thách. [Đọc TT142:1-7]
Trước hết tôi muốn dùng vài phút để giải thích về TT. Với một số tín đồ TT vẫn còn là một quyển sách xa lạ trong KT. Họ hỏi TT là gì và tại sao ĐCT lại dùng các tác giả để viết lại những bài TT. Thi Thiên là một sách trong KTCU, gồm 150 bài. Thi có nghĩa là thơ và thiên là trời, TT là thơ về ĐCT. BDM dịch là Thánh Thi tức những bài thơ thánh. Vậy TT hay Thánh Thi có nghĩa là những bài thơ về ĐCT. Gần đúng, nhưng chưa hẳn. Thật ra đây là những bài hát với lời thơ bày tỏ qua âm nhạc với người hát và nhạc cụ. Chính xác hơn TT là những bài hát về ĐCT. Dĩ nhiên hôm nay chúng ta không còn nghe được những âm điệu của những bài hát này mà chỉ còn lại lời nên gọi là TT.
TT là quyển thánh ca và sách cầu nguyện của biết bao nhiêu thế hệ tín đồ, cả người tin Chúa và người Do Thái. TT nói lên tất cả những cảm xúc chân thật nhất của con người chúng ta: từ niềm vui rạn rỡ, hân hoan nhất cho đến lòng sầu thảm, khóc than; từ phẩn nộ, căm hờn cho đến ước muốn trả thù; từ những nỗi buồn khi bị người phụ bạc cho đến nỗi tuyệt vọng khi mất tất cả trong đời; từ sợ hãi cho đến nghi ngờ, cả người và ĐCT; từ lòng cảm tạ, biết ơn Chúa về sự giải cứu cho đến những than vãn, trách móc sự bỏ rơi, vắng mặt của Ngài. Có lần thanh niên HT học về 12 cảm xúc (emotions) khác nhau trong TT. Gồm những cảm xúc như niềm vui (33), bị bỏ rơi (22), sợ hãi (55). Và bài giảng sáng nay là về sự nao sờn.
Vì bày tỏ những cảm xúc thật nhất của con người với ĐCT nên TT có giá trị vượt cả thời gian và không gian, và được mọi người tin Chúa yêu mến. Bởi vì dù màu da nào, phong tục, tập quán, ngôn ngữ nào thì cảm xúc con người qua mọi lãnh thổ và thời đại đều như nhau. Vì vậy mà TT là nguồn an ủi, động viên, khích lệ lớn cho tín đồ bởi vì mọi người rồi cũng sẽ trải qua những cảnh ngộ trong đời sống như các tác giả TT từ ngàn xưa.
Khác với các sách khác trong KT chủ yếu ghi lại lời của ĐCT cho con người, TT chủ yếu ghi lại lời của con người với ĐCT trước mọi cảm xúc khác nhau và trong mọi cảnh ngộ đời sống. TT cũng bày tỏ tất cả những chủ đề trọng yếu của KTCU về con người, quốc gia, thiên nhiên, về ĐCT, quyền năng và sự tể trị của ĐCT, sự giải cứu và dạy dỗ, về sự thờ phượng Chúa, ngay cả tiên tri. Các sách và thư trong TU trích dẫn rất nhiều đoạn KT từ CU. Một ngạc nhiên ít người biết là trong tất cả các sách CU, TT 110 được trích dẫn nhiều hơn cả, đặc biệt khi nói về ĐCJC. Các anh chị em học qua thư Hê-bơ-rơ có thể nhớ điều này. Thay vì là những bài giảng khô khan thì TT là những bài hát bày tỏ cảm xúc thật nhất giúp người nghe, người đọc có thể cảm thông và ghi nhớ.
TT có một vai trò vô cùng quan trọng cho quan hệ cá nhân của người tin Chúa với ĐCT. Một học giả viết như sau về TT: Có lẽ không một sách nào trong KT, ngay cả KTTU, chiếm một chổ đặc biệt trong con tim của đạo Chúa (JJ. Stewart Perowne). Một học giả khác viết: TT là sách cầu nguyện của ĐCJC theo ý nghĩa thật nhất. Chúa dùng TT để cầu nguyện và bây giờ đã trở nên lời cầu nguyện của Ngài cho mọi thời gian (Dietrich Bonhoeffer) (đến nay trong nhà hội Do Thái Giáo, TT được đọc, hay hát, hay dùng để cầu nguyện. ĐC Jesus là người DT và lớn lên nhóm thờ phượng trong các nhà hội và dùng TT cho sự cầu nguyện). Một học giả khác nữa tóm tắt đơn giản: Nếu bạn cần sự hướng dẫn trong mối quan hệ đang có với ĐCT, đọc TT (Jim George)
Tên của sách theo tiếng Hebrew là Tehillim, có nghĩa là những bài hát ngợi ca (song of praises) đúng như ý chính của sách là sự ngợi ca ĐCT. TT là một tập hợp của 150 bài thơ, bài hát, bài cầu nguyện từ nhiều tác giả khác nhau trong một thời gian dài trên 500 năm. Theo các đề tựa, chúng ta biết ít nhất tên của 7 tác giả: Mô-se, Đa-vít, Sa-lô-môn, A-sáp, Con cháu Cô-rê, Hê-man, và Ê-than. Khoảng 45 bài Thi Thiên không có tên tác giả (ẩn danh). Nếu PL là người viết nhiều sách, thư hơn hết trong KTTU (13 trong 27), thì Đa-vít là người viết nhiều bài TT hơn hết. Đa-vít viết 73 bài TT. Nếu cộng thêm 2 đoạn trích trong KTTU từ sách CV 4:25-26 theo TT 2 và Hê-bơ-rơ 4:7 Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, Thì chớ cứng lòng theo TT 95 thì Đa-vít là tác giả của 75 bài TT, tức 1/2 sách.
TT được phân làm 5 phần (có người gọi là sách). Phần (sách) 1 từ TT 1-41; phần 2 từ 42-72; phần 3 73-89; phần 4 90-106, và phần 5 107-150. Mỗi phần đều kết thúc với câu KT ngợi ca, chúc tụng Đức Chúa Trời. Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời! A-men, A-men! (Thi Thiên 41:13)
Phàm vật chi thở, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia! (Thi Thiên 150:6)
150 bài TT có thể được phân làm mấy thể loại chính như sau: 1) Than thở cá nhân; 2) Than thở dân tộc; 3) Tạ ơn; 4) Ngợi ca. 116 bài TT, trong số 150 bài, có đề tựa hay phụ chú cho biết tác giả, thể loại nhạc, bối cảnh lịch sử, vân vân. Nhờ các đề tựa này mà chúng ta biết Đa-vít viết ít nhất 73 bài TT. Ví dụ như TT 3 có đề tựa Thơ Đa-vít làm, khi người trốn khỏi Áp-sa-lôm, con trai người, hay TT 18: Thơ Đa-vít, tôi tớ của ĐGHV, làm; người đọc các lời bài này cho ĐGHV trong ngày ĐGHV giải cứu người khỏi tay mọi kẻ thù nghịch, và khỏi tay Sau-lơ.
Trong số 73 TT Đa-vít viết, có 14 bài có phụ chú, đề tựa liên quan đến những sự kiện xảy ra trong cuộc đời ông ghi lại trong 3 sách 1&2 Sa-mu-ên và 1Sử Ký (nếu qv muốn biết chi tiết về liên hệ giữa 14 bài TT này của Đa-vít trong 3 sách đó, xin cho tôi biết). Trong số 14 bài TT đó, có ít nhất 9 bài có đề tựa hay phụ chú về những diễn biến cụ thể đã xảy ra trong khoảng đời khó khăn, đen tối nhất khi bị vua Sau-lơ tìm giết cách vô cớ chỉ bởi vì ghen tị. Có thể Đa-vít đã viết nhiều hơn 9 bài trong thời gian này nhưng tôi chỉ chọn những bài TT căn cứ vào phụ chú/đề tựa trong KT. Tôi gọi 9 bài TT này là những bài hát trong cơn gian truân.
BỐI CẢNH CỦA THI THIÊN 142
TT 142 và 57 đều có phụ chú là thơ của Đa-vít viết khi trốn trong hang động. TT 57 viết rõ hơn về lý do Đa-vít trong hang động là vì chạy trốn vua Sau-lơ. 1 Sam 22 & 24 cho biết 2 lần Đa-vít chạy trốn vua Sau-lơ trong hang động. Chúng ta không rõ TT 142 viết về kinh nghiệm và cảm xúc khi trốn trong hang động A-đu-lam (1 Sam 22:1) hay hang động nơi đồng vắng (sa mạc) En-ghê-đi (1 Sam 24:1). Một điều rõ trong TT 142 là Đa-vít nói về sự nao sờn của tâm hồn ông trong hang động.
Nao sờn là gì? Là mỏi mòn (BHĐ), mềm yếu, chùn bước, kiệt sức, kiệt quệ (BDM) , tưởng như không còn có thể tiếp tục. Một từ đồng nghĩa là nao núng (viết không bỏ dấu người ta có thể hiểu lầm là não nùng!), theo tự điển VN là hoang mang, bắt đầu thấy lung lay, không còn vững vàng. Từ này theo tiếng Hebrews có 2 nghĩa: 1) che phủ kín khiến không thấy được (như Gióp 23:9 nói rằng Gióp không thấy được Chúa ở đâu dù ông xem bên tay hữu hay tả!) và 2) yếu đuối, kiệt quệ, mõi mòn không còn sức lực (3 lần nói lên sự đói lã trong Ca Thương)
Đọc TT142 chúng ta có thể cảm thấy rõ những cảm xúc này của Đ: chùn bước, kiệt sức, lo lắng, lung lay, không biết còn có thể tiếp tục hay không. Một chút về bối cảnh của bài TT này: Theo đề tựa TT142 Đ viết bài hát này khi chạy trốn vua Sau-lơ trong một hang đá. TT57 cũng được viết về thời gian Đ trốn trong hang đá khác: Thơ Đa-vít làm, khi người chạy trốn trong hang đá, khỏi Sau-lơ. Cả 2 bài TT đều bày tỏ sự cầu nguyện khẩn thiết của Đ cùng ĐCT trước một thử thách quá lớn tưởng như không vượt qua nỗi. Đức Chúa Trời ôi! xin thương xót tôi, xin thương xót tôi, Vì linh hồn tôi nương náu nơi Chúa! Phải, tôi nương náu mình dưới bóng cánh của Chúa, Cho đến chừng tai họa đã qua. (TT57:1) Tôi cất tiếng kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va; Tôi cất tiếng cầu khẩn Đức Giê-hô-va. 2 Ở trước mặt Ngài tôi tuôn đổ sự than thở tôi, Bày tỏ sự gian nan tôi. (TT 142:1)
Sách 1Sam 22-24 cho biết bối cảnh của TT142 và 57. Sau khi bị bắt trong thành Gát, phải giả điên khùng, Đ được vua A-kích thả. 1Sam22:1-2 viết: Đa-vít đi khỏi đó, và trốn trong hang đá A-đu-lam. Khi các anh và cả nhà cha người hay điều đó, bèn đi xuống cùng người. 2 Phàm kẻ nào bị cùng khốn, kẻ nào mắc nợ, và những người có lòng bị sầu khổ cũng đều nhóm họp cùng người, và người làm đầu họ. Ấy vậy, chung quanh người có chừng bốn trăm người. Không lâu sau đó con số 400 này tăng lên đến 600. Vài học giả KT nghĩ rằng TT142 được viết trong thời gian này, khi Đ trốn tránh trong hang đá A-đu-lam.
Từ hang đá A-đu-lam, Đ lại phải bỏ trốn vua Sau-lơ đến một nơi khác: Đa-vít liền ra đi, đến khu rừng Hê-rết (22:5). Rồi từ rừng lại đến đồng vắng, sa mạc: Đa-vít ở trong đồng vắng, trên nơi cao hiểm hóc, tức là ở trên núi tại đồng vắng Xíp. Sau-lơ tìm kiếm người không ngớt; nhưng Đức Chúa Trời chẳng phó người vào tay Sau-lơ. 15 Đa-vít thấy Sau-lơ đã kéo ra đặng hại mạng sống mình, thì ở lại trong rừng của đồng vắng Xíp. (1Sam 23:14-15) Từ đồng vắng Xíp, Đ lại phải bỏ trốn đến một sa mạc tên Ma-ôn: Đa-vít và những kẻ theo người ở nơi đồng vắng Ma-ôn, tại A-ra-ba về phía nam Giê-si-môn. 25 Sau-lơ và những kẻ theo người đi tìm Đa-vít. Đa-vít hay được điều đó, bèn xuống hòn đá, và ở trong đồng vắng Ma-ôn. (1 Sam 23:24-25).
Từ đồng vắng Ma-ôn Đ cùng các thuộc hạ tìm được một nơi trốn phía Tây của Biển Chết tại Ên-ghê-đi. Đoạn, Đa-vít đi lên khỏi đó, ngụ tại trong đồn Ên-ghê-đi. 2 Khi Sau-lơ đuổi theo Phi-li-tin trở về rồi, có người đến nói cùng Sau-lơ rằng: Kìa, Đa-vít ở trong đồng vắng Ên-ghê-đi. (1Sam 24:1-2) Đây là một nơi trốn an toàn hơn vì có hàng 100 hang động nơi sườn núi dốc. Có lẽ TT 57 được viết khi Đ chạy trốn tại các hang động vùng Ên-ghê-đi này. Cũng tại đây Đ có cơ hội để giết vua Sau-lơ nhưng lại bỏ qua. Sau này trong xa mạc Xíp Đ tha chết cho Sau-lơ lần thứ 2.
Từ hang động lạnh lẽo, tối tăm cho đến nơi đồng hoang gió hú, đến xa mạc cằn cỏi thiếu nước (Đ viết TT 42 về thời gian này), rồi trở lại hang động tối tăm. Ai trải qua cảnh ngộ như Đ lại không nao sờn.
KHI LÒNG NAO SỜN TRƯỚC THỬ THÁCH
Qv có bao giờ vào hang động chưa? Tôi có vài lần đã vào hang động. Lần thứ nhất là hang động, đúng hơn là một đường hầm tự nhiên trong nông trại của người bạn tôi. Cửa vào hang không lớn chỉ vừa đủ cho một người. Và khi vào ra thì không thể xây mình qua lại, chỉ hoặc bò tới trước, hoặc bò lui lại. Vì cửa hang nằm khuất trong một bụi cây nên vừa vào hang là không còn ánh sáng mặt trời. Lần khác là khi đi hang động Carlsbad trong tiểu bang này. Một lần khác nữa là một hang động do các tín đồ Chúa đào gần thành Rome trong thế kỷ thứ 2 để trốn chính quyền bắt bớ và cũng để chôn những người chết.
Dù những hang này đều khác nhau nhưng tất cả đều có hai một điểm chung: 1) bóng tối, 2) im lặng. Tại Carlsbad, khi du khách đã đến một hang động rất lớn, nhiều nhủ thạch, thì được thông báo rằng tất cả đèn sẽ tắt trong vài giây. Khi đèn tắt, không ai có thể thấy được bàn tay trước mặt mình. Bóng tối thật đáng ghê sợ, làm cho người ta hoàn toàn mất phương hướng. Và cũng như bóng tối tuyệt đối, dầy đặc, đáng sợ, thì sự im lặng trong hang động cũng vậy. Ngay cả chính tiếng thở của mình như bị vách hang động hút đi.
Chỉ trong trí tưởng tượng hão huyền thì cuộc sống trong hang đá mới có vẽ thơ mộng, thì mới nghĩ hoàn cảnh của Đ trong những ngày tháng thử thách này là bình thường, có thể giải quyết được. Thực tế là chỉ có những người tiền sử, những kẻ đào tẩu, người thiếu nợ, kẻ phạm pháp, phường đầu trộm, đuôi cướp mới phải ở trong hang động. Khổ cách mấy người ta cũng thà cất cái lều lá tạm bợ còn hơn phải ở trong hang động tối tăm không hề có ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Trong nơi hoàn toàn tối tăm, im lặng đó mấy ai không cảm thấy nản lòng, tuyệt vọng. Tôi cất tiếng kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va; Tôi cất tiếng cầu khẩn Đức Giê-hô-va. 2 Ở trước mặt Ngài tôi tuôn đổ sự than thở tôi, Bày tỏ sự gian nan tôi. 3 Khi tâm hồn nao sờn trong mình tôi, Thì Chúa đã biết nẻo đàng tôi. (142:1-3) Quả thật đây những lời cầu nguyện khẩn thiết, sầu thảm của Đ trong cảnh ngộ đen tối này.
Trong một tập nhạc do cố MSTS, BS Lê Ngọc Vinh viết có tựa đề: Ca Khúc Niềm An Ủi: Khi thử thách trăm bề, ông có những lời viết giới thiệu như sau: Khi một người còn nhiều nơi nương cậy trong đời này thì không cần cầu nguyện, không cần lời an ủi, hướng dẫn. Chỉ khi có nan đề, người đó mời cần được an ủi, hướng dẫn vượt qua khó khăn, tăm tối. Do đó đối tượng của album này là những ai đang trong cơn cùng khốn, cảm thấy như tuyệt vọng, không phương giải thoát. Những bài TT của Đ, đặc biệt TT142 là những bài hát đặc biệt cho những ai đang trong cơn cùng khốn, cảm thấy như tuyệt vọng, không phương giải thoát, dù có lúc kiệt quệ, hoang mang, chùn bước nhưng vẫn tiếp tục cầu nguyện, nắm chặt ĐCT, vẫn tiếp tục đặt trọn niềm tin và hy vọng vào Đấng sẽ giải cứu.
Câu 3 thật ý nghĩa: Khi tâm hồn nao sờn trong mình tôi, Thì Chúa đã biết nẻo đàng tôi. Một người dù có can đảm đến mấy, có vững đức tin đến mấy, đã trãi qua những cảnh ngộ khó khăn thì vẫn có lúc cảm thấy kiệt quệ, đuối sức, muốn bỏ cuộc; cũng sẽ có lúc như bước đi trong sương mù, không biết phải đi hướng nào, phải làm gì, như lạc lối vì thử thách đang phải đối diện quá mới, quá lớn. Trong hang đá tối tăm, lạnh lẽo, im lặng này Đ cảm thấy hoàn toàn đuối sức, không biết phải làm gì, giải quyết thế nào.
Đ không chỉ lo cho bản thân mình nhưng còn cho cả nhà cha của ông và còn cho 400 người mà KT viết: Phàm kẻ nào bị cùng khốn, kẻ nào mắc nợ, và những người có lòng bị sầu khổ cũng đều nhóm họp cùng người, và người làm đầu họ. Là người lãnh đạo trong hoàn cảnh khốn cùng này là cả một gánh nặng to lớn. Làm sao để kiếm được thức ăn cho mấy trăm người? Khi mấy trăm người cùng khốn, mắc nợ, sầu khổ ở chung với nhau qv có nghĩ như một gia đình hạnh phúc hay không? Một lý do khiến Đ nao sờn, kiệt quệ có thể do cái gánh nặng này trên vai ông. Ai cũng muốn làm người lãnh đạo cho những người học thức, tài giỏi, giàu có, nhưng có mấy ai có thể lãnh đạo 400 người này?
Cũng trong chính hoàn cảnh tuyệt vọng thì ĐCT biết rõ. Chúa đã biết nẻo đàng tôi có 2 nghĩa: Chúa biết con đường gian truân, thử thách Đ đi qua và Chúa biết con đường Đ cần đi để giải cứu ông ra khỏi hang động tối tăm mà thấy lại ánh sáng hy vọng của mặt trời. Đây là một lời hứa hết sức quí báu cho tất cả con dân Chúa.
Mỗi qv hiện diện đây sáng nay đều có những suy nghĩ, tâm trạng khác nhau, có những vui buồn, lo lắng khác nhau, có những nan đề khác nhau. Hoàn cảnh mỗi người mỗi khác. Có thể một số buồn lo vì con cái, hay hôn nhân, gia đình. Một số nghĩ đến công việc khó khăn, về sức khỏe không mấy tốt. Cũng biết đâu một vài anh chị em chúng ta đang có tâm hồn nao sờn, kiệt quệ, không biết phải làm gì, gần như bỏ cuộc. Khi hỏi: anh chị thế nảo? Chúng ta cười vui vẻ rất tốt, mọi việc rất tốt. Nhưng ai biết trong lòng thế nào. Lắm khi bên ngoài nói cười nhưng bên trong ruột gan rối bời, đêm đến nước mắt ướt đầy gối; lắm khi chung quanh hàng chục, trăm người nhưng vẫn cảm thấy hết sức cô đơn, trống vắng.
Như Đ viết trong câu 4: Xin Chúa nhìn phía hữu tôi, coi; Chẳng có ai nhận biết tôi; Tôi cũng không có nơi nào để nương náu mình; Chẳng người nào hỏi thăm linh hồn tôi. Sống với mấy trăm người trong hang đá nhưng Đ có lúc hết sức lẽ loi, cô độc. Nhất là khi mình phải lo giúp người này, người nọ: con cái, bà con, thân quyến hay bè bạn mà không ai giúp mình. Những người làm cha mẹ dù có khóc trong lòng nhưng vẫn phải tỏ ra mạnh mẽ, dù bối rối không biết làm gì vẫn làm như biết rõ, để các con không lo lắng; nhưng có ai biết cho lòng của cha mẹ đang nao sờn. Những người phục vụ, lãnh đạo trong HT cũng có lúc mòn mõi, muốn nghĩ ngơi, có những nan đề gia đình, cá nhân nhưng phải cố mạnh mẽ. Có lúc như Đ: tâm hồn tôi nao sờn trong tôi, tôi cũng không có nơi nào nương cậy được ngoài Chúa, cũng chẳng có người nào hỏi thăm linh hồn tôi!
Khi mang những tâm trạng sầu não này qv kêu cầu ai? Qv có thể học từ Đ. mà cất tiếng kêu cầu, tuôn đổ tấm lòng đau khổ, những lời thở than, bày tỏ nỗi gian nan, lo sợ cùng Chúa. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi kêu cầu cùng Ngài, Mà rằng: Ngài là nơi nương náu của tôi, Phần tôi trong đất kẻ sống. 6 Xin Chúa lắng nghe tiếng tôi, Vì tôi bị khốn khổ vô cùng. TT dạy chúng ta có thể đến với ĐCT trong những giờ phút đen tối nhất, đen tối như hang động đen tối, đen tối như hoàn cảnh Đ đen tối, để trút đổ mọi điều sầu não nhất trong lòng cho Chúa. Trong những giờ phút cô đơn nhất, khi không có ai để bầu bạn, tâm tình, cảm thông, chúng ta có thể đến với Chúa mà đổ trút mọi điều trong tâm hồn.
Chắc chắn trong đời sống sẽ có lúc chúng ta nói như Đ trong câu 3: Khi tâm linh con nao sờn mòn mỏi trong con. Người tin Chúa không phải là superman, superwoman, không bao giờ khóc than, mệt mỏi, nao sờn, thất vọng, nãn lòng, thậm chí có lúc tưởng như tuyệt vọng, muốn bỏ cuộc. Phao-lô viết: Chúng tôi chứa đựng bảo vật này trong những bình đất để bày tỏ quyền năng vô hạn đến bởi Đức Chúa Trời, chứ không phải từ chúng tôi. 8 Chúng tôi bị chèn ép đủ điều nhưng vẫn không bị đè bẹp, chúng tôi có bối rối nhưng không bao giờ tuyệt vọng, 9 Chúng tôi bị bắt bớ nhưng không bị bỏ rơi, chúng tôi bị đánh ngã nhưng không bị hủy diệt (2Cor 4:7-9)
Một số qv đây có thể nói: trường hợp Đ là ngoại lệ, tại sao mục sư lại đem những hoàn cảnh cực đoan này để giảng? Tôi xin được hỏi lại: khi có bệnh qv có muốn được trị liệu bởi một bác sĩ đã chửa qua những vụ khó nhất hay bác sĩ chỉ biết những ca dễ? Khi đi máy bay qv có muốn người phi công chỉ được huấn luyện lái phi cơ khi trời tốt nhưng chẳng bao giờ biết phải làm gì trong cơn giông bão không? Hơn nữa ai biết được những con cái Chúa trong HT đang phải trãi qua những thử thách vô cùng khó khăn, đau khổ, mất mát lớn quá đổi, hết sóng này lại đến cơn sóng khác dồn dập không dứt.
HỌC GƯƠNG ĐA-VÍT
Khi đã trãi qua thử thách, hoạn nạn trong đời, người ta phản ứng khác nhau nhưng cuối cùng chỉ có 2 kết quả, hai thái độ. Có người sẽ trở nên dững dưng trước cảnh khổ của người khác, khi tôi khổ không ai giúp tôi, hay trở nên cay đắng, trách Chúa, trách người rồi bỏ Chúa, tránh người. Đối ngược với thái độ dững dưng hay cay đắng là một người có thể trở nên mềm mại, cảm thông, nhân từ hơn. Họ càng gần gũi Chúa hơn, có lòng cảm thông hơn với người chung quanh họ. Người tin Chúa phải là những người sau những ngày gian truân càng gần Chúa hơn, càng có lòng cảm thông với người hơn.
Chúng ta có thể học được 2 điều quan trọng từ Đ: 1) Không trả thù, phó thác cho Chúa; 2) Giúp đở người quanh mình dù khi lòng nao sờn. Gian nan, thử thách đến như vậy mà Đ vẫn chọn không trả thù như chính lời Đ: Có người biểu giết vua; nhưng tôi dong-thứ cho vua, mà rằng: ta không tra tay trên mình chúa ta, vì người là đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va. (1Sam 24:11). Hơn thế nữa đọc trong 1Sam về khoảng thời gian gần 12 năm chạy trốn này, chúng ta không hề thấy Đ mắng nhiếc vua Sau-lơ dù chỉ một lần. Sau này khi nghe tin vua Sau-lơ và bạn thiết Jonathan đã chết trong chiến trận Đ làm một bài ai ca (điếu ca) để khóc vua và bạn: Ôi, Y-sơ-ra-ên, vinh quang ngươi, ngã chết trên đồi! Than ôi, dũng sĩ nay ngã gục!... Ôi, vua Sau-lơ và Giô-na-than, thật đáng yêu, đáng quý! Khi sống cũng như lúc chết, Cha con chẳng hề lìa nhau! Họ nhanh hơn chim đại bàng, Dũng mãnh hơn sư tử! 24 Hỡi các cô gái Y-sơ-ra-ên, Hãy thương khóc vua Sau-lơ! Vua đã cho các cô mặc vải điều sang trọng, Cài trang sức vàng trên áo các cô! (2 Sam 1:19, 23-24)
Tôi hết sức cảm phục Đ và các thuộc hạ ông. Dù bị vua Sau-lơ vô cớ tìm giết trong bao nhiêu năm dài, nhưng khi vua còn sống không một lời rủa sả, lên án, và khi vua chết thì bài than khóc về vua như vinh quan, dũng sĩ của xứ Y-sơ-ra-ên. Hơn nữa Đ gọi các phụ nữ trong xứ cũng hãy thương khóc vua, hãy nhớ về vua như một như rất rộng rãi, chăm sóc họ. Đây cũng là một bài học quí báu cho chúng ta: tránh nói xấu, dèm pha, rủa trách người Chúa xức dầu, và hãy để ĐCT sửa phạt người Chúa xức dầu.
Đức tin của Đ trong Chúa được tôi luyện trở nên vững chắc trong những năm tháng thử thách gian truân này. Hoàn cảnh càng khó khăn, đen tối bao nhiêu, nỗi sợ hãi càng lớn bao nhiêu thì Đ càng nắm chặt Chúa hơn, quan hệ với Chúa càng gắn bó, mật thiết hơn. Chúng ta có thể nói trong những năm tháng đó, ĐCT là cái neo duy nhất của linh hồn Đ, là hòn đá duy nhất đem đến bóng mát và sức mới. Trong 12 năm dài, một các vô cớ Đ phải sống như một kẻ đào tẩu, trong xứ kẻ thù, trong hang đá, nơi đồng vắng, trong xa mạc, trên rừng núi, luôn luôn lo sợ cho mạng sống mình, an toàn của vợ mình và gia đình mình, không biết ngày mai thế nào. Vậy đó mà khi có dịp trả thù 3 lần, Đ lại bỏ qua và khi kẻ thù chết lại than khóc và không một lời trách móc. Hiếm có ai như Đ!
Bài học thứ hai là dù khi tâm hồn Đ nao sờn, dù khi sợ hãi, mất lối thì ông vẫn giúp đở cho mấy trăm người yếu đuối hơn, những người cùng khốn, mắc nợ, sầu khổ. Càng nghĩ về nan đề, càng bối rối, lo lắng. Nhưng giúp người trong cảnh khó khăn sẽ làm cho chúng ta vơi đi nỗi buồn phiền.
Có khi nghe những nan đề của con cái Chúa tôi muốn mình có thể san sớt bớt nỗi niềm đau khổ, có thể yên ủi tấm lòng tan vỡ. Nhưng không thể nào vì tôi không thể nào hiểu hết được sự cay đắng của một linh hồn, nỗi niềm của một con tim.
Mỗi tấm lòng, mỗi con tim đều có những bí mật của nó. Tòa án con người, quan sát nhận xét của con người cũng vẫn có thể lầm vì con tim đầy những ngõ ngách, bí mật, mà chính tôi cũng không biết hết được! Có thể là những hành vi trong quá khứ không muốn ai biết. Có thể là những nỗi đau buồn không muốn nhắc đến. KT viết: Lòng nhìn biết sự cay đắng của lòng; Một người ngoại không chia vui với nó được (CN 14:10) và Dầu trong lúc cười cợt lòng vẫn buồn thảm; Và cuối cùng sự vui, ấy là điều sầu não. (CN 14:13). Bình luận về CN 14:10, một tác giả viết: Có quá nhiều điểm đen, quá nhiều đau buồn mà ngay người bạn thân nhất cũng không biết được; bộ xương khô đã được dấu trong tủ kín, và không ai có chìa khóa ngoài trừ chính chúng ta… Như một câu tục ngữ rất đơn giản nói: Không ai biết được chỗ nào giày cấn làm đau rõ hơn là người mang nó (There is many a dark spot, many a grief, of which our best friend knows nothing; the skeleton is locked in the cupboard, and no one has the key but ourselves… A homely proverb says, "No one knows where the shoe pinches so well as he that wears it )
Có bao giờ qv kinh nghiệm được cảm xúc này: ngay trong lúc đông người ồn ào vui vẻ, bỗng nhiên qv cảm thấy như sao lạc lõng vô cùng vì biết rằng dù có đông người như vậy nhưng qv vẫn không thể chia sẻ cùng ai về những nỗi buồn, niềm vui, những lo lắng, sự thiếu đức tin mà không bị phán xét, đánh giá, sẽ bị chê cười.
Tôi muốn chia sẻ điều này với qv dựa theo lời KT dạy: qv có thể đến với ĐCJC và trình dâng cho Ngài tất cả những bí mật của con tim của mình, dù là những bộ xương dấu trong tủ kín, dù đó là những điểm đen nhất, nơi nào chân đau nhất, Chúa sẽ lắng nghe, cảm thông. Ngài sẽ tha thứ và ban cho qv một con tim mới, một tấm lòng mới. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi mình thì Ngài vốn là Đấng trung tín và công chính sẽ tha thứ tội lỗi chúng ta và thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính. (1 Giăng 1:9) Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên. (Ê-sai 1:18)
Tôi cũng muốn chia sẻ điều này với qv dựa theo lời KT dạy: Bởi vì mỗi chúng ta đều có những bộ xương khô dấu kín trong tủ nhưng được Chúa tha thứ, thì hãy có lòng khiêm nhường, nhân từ với người quanh mình. Đừng như người Pha-ri-si, tự hào về đạo đức của mình. Quan trọng hơn hết đừng, đừng, đừng bao giờ tìm cách để lôi kéo những điểm đen, những bộ xương khô của anh chị em trong Chúa, của vợ chồng, người thân yêu khi hờn giận, cay đắng với họ. Ai làm điều đó ĐCT cũng sẽ phơi bày những bí mật của con tim họ ra ánh sáng cho mọi người nhìn thấy.
Dưới chân thập tự giá của Đấng Christ, đất bằng phẳng. Qv có biết tại sao không? Bởi vì tất cả chúng ta đều là người có tội, thiếu mất sự vinh hiển của ĐCT. Tất cả đều có những điểm đen, những bộ xương khô dấu kín trong tim nhưng Chúa tha thứ. Không chỉ tha thứ mà Chúa sẽ thực hiện lời Ngài hứa cho những ai thật sự nhận ĐCJC là Chủ của đời sống mình, là ban cho họ một tấm lòng mới, một con tim mới, một tâm linh mới: Ta sẽ ban cho các ngươi một tấm lòng mới và đặt một thần linh mới trong các ngươi; ta sẽ bỏ đi tấm lòng bằng đá khỏi xác thịt các ngươi và ban cho các ngươi tấm lòng bằng thịt. (Ê-xê-chi-ên 36:26 - BDM)
