Tội Tôi, Tội Người
Bài giảng lần rồi trong loại bài về Cuộc Chiến Tâm Linh là về sự cám dỗ và sa ngã đầu tiên của A-đam & E-va. Con rắn quỉ quyệt, ma quỉ, đã khiến cho E-va nghi ngờ tình yêu thương và mọi sự ban cho của ĐCT, ĐCT dối ngươi nên không muốn ngươi ăn trái cấm vì ĐCT không muốn ngươi khôn ngoan, biết thiện và ác như Ngài. Chiến lược của Sa-tan cám dỗ làm cho con người xa ĐCT bằng cách làm cho họ nghi ngờ, không tin lời hứa của Chúa, không tin vào ý chỉ của ĐCT cho đời sống.
Trong bài giảng này tôi muốn chia sẻ với qv về một mưu kế, chiến thuật khác của ma quỉ trong cuộc chiến tâm linh. Mưu kế đó là làm cho qv tìm mọi lý lẽ để chạy tội, biện hộ cho tội mình phạm thay vì đến với ĐCT để thú nhận tội và được tha thứ. Hai điều trong bài giảng: 1) Đổ tội, so tội; 2) Thú tội để được tha thứ
ĐỔ TỘI, SO TỘI
Năm năm trước đây một câu chuyện làm chấn động cả quốc gia. Câu chuyện xảy ra tại trường đại học Pen State rất nổi tiếng về đội football. Phó huấn luyện viên tên Jerry Sandusky đã bị buộc tội quấy nhiễu tình dục cùng một số thiếu niên. Sau mấy tháng trời trước tòa án vào tháng 09, 2012, bản án cuối cùng của J.S. là tối thiểu 30 năm, tối đa 60 năm trong tù.
Khi vụ án đang được xử trước tòa, hằng trăm ký giả toàn quốc đã viết bài lên án ông Jerry về tội ác này. Một ký giả nổi tiếng của tờ New York Times tên David Brooks cũng đã viết một bài bình luận về vụ án này. Bài viết có tựa là Let’s All Feel Superior (Hãy để mọi người cảm thấy tự hào). Bài bắt đầu với lời: First came the atrocity, then came the vanity. Đầu tiên là tội ác, kế đến là giả tạo. Tội ác là điều tồi bại Sandusky đã làm trong suốt mấy mươi năm trời. Giả tạo là thái độ phẩn nộ, lên án dữ dội của hằng trăm, ngàn ký giả báo chí khắp nơi.
Brooks viết: Con người rất giỏi trong việc tự dối mình. Chúng ta thường chú tâm vào những sự thật mình thích và dấu nhẹm những điều mình không thích. Chúng ta thường thổi phồng tính hạnh của mình và luôn tin rằng sẽ cư xử cách cao thượng hơn điều đang làm… Trong nhiều thế kỷ qua, xã hội đã lập một nền đạo đức nhấn mạnh vào tội lỗi chính mình. Nhấn mạnh vào sự độc ác trong lòng người…. Hôm nay chúng ta sống trong một xã hội đặt nền tảng trên sự tuyệt vời của con người… Câu hỏi đúng là: làm thế nào để chúng ta có thể vượt qua bản ngã tự nhiên hay lẫn tránh và tự dối mình.
Bài báo nêu lên hai câu hỏi quan trọng: 1) Phải chăng chúng ta thường tự lừa dối chính mình khi nói về tội lỗi. Chỉ trích dữ dội, lên án nặng nề những người phạm tội mà mình không phạm, nhưng lại dễ dàng với những tội chính mình phạm và thổi phồng tính hạnh của mình. Nếu để tự mình chấm điểm thì chắc hầu hết mọi người sẽ cho mình điểm A+! 2) Phải chăng sự thay đổi về niềm tin vào bản chất tội lỗi của con người trong xã hội đưa đến sự lừa dối chính mình. Trong nhiều thế kỷ qua, xã hội đã lập một nền đạo đức nhấn mạnh vào tội lỗi chính mình. Nhấn mạnh vào sự độc ác trong lòng người…. Hôm nay chúng ta sống trong một xã hội đặt nền tảng trên sự tuyệt vời của con người…
Xã hội hôm nay không tin vào bản chất tội lỗi của con người như lời KT dạy rằng từ sau khi A-đam & Eva phạm tội mọi người sinh ra đều mang mầm móng tội lỗi trong mình. Nhân chi sơ tính bổn thiện, chứ không phải nhân chi sơ, tính bổn ác. Tiêu biểu nhất là những người trí thức, vô thần như giáo sư tâm lý của trường MIT, Steven Pinker. Ông viết trong một bài báo: Trong giới trí thức ngày nay, suy nghĩ thông sáng nhất là tội ác không hề liên quan gì đến bản chất con người. Tội ác con người gắn liền với những thể chế chính trị xã hội. Bất cứ một người nào bất đồng với ý nghĩ này đều đã bị lên án và bôi nhọ. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể nhận thấy những hiện tượng rất rõ về sự độc ác và tàn nhẫn thường xuyên lập lại trong lịch sử, trải qua suốt các thời điểm, nơi chốn và hệ thống chính trị.
Những người trí thức, vô thần như giáo sư Pinker không tin rằng bản chất con người là tội lỗi. Tội lỗi không hề liên quan gì đến bản chất con người. Ai tin vào bản chất tội lỗi của con người là người lạc hậu, thiếu học thức, hiểu biết, người tin mù quáng vào tôn giáo. Thậm chí một số người trí thức còn cho rằng niềm tin này rất nguy hiểm cho xã hội, cho sự tiến bộ của xã hội. Con người phạm tội là bởi vì hoàn cảnh, môi trường, xã hội. Nhưng suy nghĩ này cũng chẳng có gì là mới mẻ vì ma quỉ cũng đã từng dùng hàng trăm năm trước đây.
KT dạy rất rõ rằng bản chất con người là tội lỗi và mọi người đều phạm tội. Vì mọi người đều đă phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:23). Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội. (Rô-ma 5:12)
Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta. 9 Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác. 10 Nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối, lời Ngài không ở trong chúng ta. (1 Giăng 1:8-10)
Beatrice Webb là một trong những người sáng lập ra hệ thống an ninh xã hội Anh Quốc hiện đại… Bà cùng chồng và một số người trí thức khác đã thành lập London School of Economics, 1 trong 10 trường đại học nổi tiếng nhất thế giới về kinh tế, chính trị và ngoại giao. Bà là một người tin vào chủ nghĩa xã hội, một người cải cách xã hội, một lãnh đạo Anh Quốc.
Bà viết và giữ nhật ký. Năm 1925 khi đọc lại những đoạn nhật ký trước đó, bà viết, “Trong nhật ký, tôi đã viết năm 1890, ‘Tôi đặt trọn niềm tin vào bản chất thiện mỹ của con người’ Giờ đây, 35 năm sau, tôi ý thức rằng thường trú trong con người chúng ta (phần không thể tách rời) là những thúc dục và bản năng độc ác. Những điều này không thay đổi bao nhiêu, như lòng tham lam về tài của và quyền thế, và không bao giờ có thể thay đổi bằng nguồn máy xã hội. Chúng ta cần phải đòi hỏi bản tính tốt đẹp hơn từ con người, nhưng làm sao có thể được điều này? Không khoa học hay kiến thức nào đủ để giúp (thay đổi bản tính độc ác) và ngoại trừ khi chúng ta có thể kềm chế được những thúc dục xấu xa, làm sao chúng ta có thể đạt được một xã hội tốt hơn?
Sau khi E-va nghe lời dụ dỗ của rắn mà ăn trái cấm, phạm tội cùng Chúa, rồi bà làm gì? Đưa cho chồng ăn. Tôi phạm tội, tôi cũng muốn người phạm tội như tôi. Để không thấy chỉ có mình là tội. Khi Chúa hỏi có phải họ đã ăn trái cấm thì hai người đều đổ thừa: A-đam cho vợ, người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó. Còn E-va thì đổ cho con rắn. Đổ lỗi cho ma quỉ, cho người khác, thậm chí cho cả ĐCT (như A-đam!) là điều mà chúng ta thường làm khi khi phạm lỗi, phạm tội. Hai điều có thể nhận xét được từ việc đổ lỗi khi phạm tội:
Khi tôi mắc lỗi, mắc tội thì không phải tôi mà là vì người ta, vì hoàn cảnh. Nói cách khác tôi tìm mọi cách để phủi tay khỏi mọi trách nhiệm về chính hành động, lời nói, thái độ, cách đối xử, suy nghĩ của tôi và đổ trách nhiệm, lý do đó cho cho người khác. Lỗi của tôi nhưng tội của người!
Khi tôi mắc lỗi, phạm tội thì tội của tôi vẫn còn nhẹ hơn bao nhiêu người. Họ còn tội lỗi bao nhiêu lần hơn tôi. Nói cách khác tôi tốt hơn người. Tội tôi nhẹ hơn tội người!
Chúng ta thấy 2 điều này trong cuộc sống hằng ngày: đổ lỗi cho cha mẹ, gia đình, đổ lỗi cho xã hội, hoàn cảnh. Người phạm tội không phải là người phạm tội đáng bị lên án, trừng phạt, nhưng là nạn nhân của hoàn cảnh, gia đình, xã hội. Nếu không đổ lỗi cho người khác, hay cho hoàn cảnh thì có thể so sánh tội mình với tội người để cảm thấy nhẹ nhàng hơn, dễ chịu hơn.
Tôi chắc tất cả qv đây cũng như tôi đều nhìn chính mình trên gương kiến sáng nay trước khi đến nhà thờ. Xem gương khi đánh răng, rửa mặt, chải tóc, mặc quần áo hay trang điểm. Gương phản ánh trung thực bề ngoài của chúng ta. Ngày xưa trước khi gương được sáng chế thì con người dùng mặt nước yên lặng để xem phản ánh của chính mình. Khi mặt nước yên lặng thì sự phản ánh phần nào trung thực. Nhưng khi có gió thổi làm gợn sống mặt ao hồ thì hình dọi cũng bị lệch lạc đi.
Mức độ chính xác của hình trong gương cũng tùy thuộc vào loại gương. Dùng một tấm gương không chỉnh sẽ làm lệch lạc, cong quẹo hình ảnh chính mình. Có những loại gương phóng đại khi xem thấy rõ mọi chi tiết mình muốn dấu đi. Cũng có loại gương làm người mập nhìn ốm lại, người ốm lại mập phì ra.
Nhưng không phải chỉ về hình dáng bề ngoài nhưng quan trọng hơn là nhiều tấm gương, tiêu chuẩn chúng ta dùng để đánh giá chính mình cũng ảnh hưởng đến cả nhận xét về mình từ trong ra ngoài. Mèo có thể tự nghĩ rằng mình là cọp. Một thiếu nữ ốm nghĩ mình lúc nào cũng béo phì. Một người lớn tuổi nghĩ mình còn trẻ lắm!
Xã hội cũng có gương, hay là tiêu chuẩn, nền tảng luân lý, đạo đức để nhận định đúng sai, tốt xấu của một người, của một hành động. Đây là ý của ký giả David Brooks khi viết về nền tảng luân lý của xã hội xưa và nay. Xưa: nhận thức rằng con người là tội nhân; nay: tán dương con người là tuyệt vời. Xưa dựa vào lời dạy KT: vì mọi người đều đă phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:23). Nay dựa vào lời khuyên của tâm lý học: đừng nhấn mạnh về sai quấy, tội lỗi, ăn năn mà để tự người sửa đổi. Tấm gương xã hội HK ngày xưa dùng đã đổi khác so với hôm nay. Vì vậy phản ánh của xã hội cũng thay đổi.
Ma quỉ muốn qv dùng tấm gương lệch lạc để nhìn qv và nhìn người chung quanh, nhìn tội mình và nhìn tội người. Nó muốn qv thấy qv tốt, người tội, tội mình nhỏ, tội người to lớn. Nó muốn qv làm nhẹ lỗi mình, xem nặng lỗi người. Bao nhiêu tín đồ mắc mưu đó mà quên đi chính tội mình mà chỉ thấy tội người. ĐCJC cảnh giác: Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình? 4 Sao ngươi dám nói với anh em rằng: Để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh, mà chính ngươi có cây đà trong mắt mình? 5 Hỡi kẻ giả hình! trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình được. (Ma-thi-ơ 7:3-5)
Một lá thư nổi tiếng của Quận Chúa của Buckingham (Duchess of Buckingham) gởi cho Bà Bá Tước của Hungtingdon vào thế kỷ 19. Sau khi nghe một mục sư truyền giáo tên George Whitefield, bà Bá Tước của Hungtingdon tin Chúa và tìm nhiều cách để nói về sự cứu rỗi của ĐCJC cho những người bạn trong giòng quí tộc. Bà gởi các bài giảng của MS Whitefield cho nhừng người bạn thuộc giòng quí tộc, gồm có Quận Chúa của Buckingham. Khi đọc qua bài giảng về tội con người, Quận Chúa viết một lá thư có lời như sau: Tôi cám ơn Bá Tước [đã gởi bài giảng cho tôi.] Nhưng những giáo điều này là những lời dạy đáng ghê tởm, và vô nghĩa. Nó bày tỏ sự vô lễ, thiếu tôn trọng với những người bề trên, loại bỏ đi mọi giai cấp, và khác biệt. Thật kinh khiếp khi bị bảo rằng tâm hồn, con tim tôi cũng tội lỗi như bọn thường dân khốn khổ bò trên mặt đất. Đây là điều xúc phạm, mạ lỵ, nên tôi không thể không tự hỏi lý do gì Bá Tước lại vui lòng nhận những ý nghĩ này, hoàn toàn khác biệt với nhừng người có cấp bậc cao trọng và danh giá như vậy.
Quận chúa của Buckingham tin chắc rằng bà không phải là người tội lỗi như bọn thường dân khốn khổ bò trên mặt đất. Bà quên rằng chính lòng kiêu hảnh về đạo đức này là một tội lớn dưới mắt ĐCT. Nhưng một điều quận chúa của Buckingham nhận xét đúng: nếu tin lời KT dạy mọi người đều có tội, thì mọi người đều như nhau! Không ai có thể nói với người khác đúng là hạng người tội lỗi. Hay nhóm này với nhóm khác đúng là giai cấp tội lỗi. Dưới chân thập giá, đất bằng phẳng, không phân biệt địa vị, học thức, giai cấp, chủng tộc, màu da, nhưng cả tội lỗi: vì mọi người đều phạm tội.
Vậy nếu qv tin lời dạy KT về tội lỗi, từ A-đam & E-va lan đến mọi người từ xưa mãi đến nay và còn đến khi loài người còn hiện diện trên quả đất này, thì không ai hơn ai về tội cả. Qv không thể hỉnh mũi mà nhìn người này, người nọ mà tự hào Họ tội, tôi không; họ xấu, tôi tốt. Lời dạy về tội tổ tông (original sin) lấy đi sự kiêu hảnh, tự phụ về sự công chính trong lòng một người. Nếu họ thật sự hiểu rõ lời dạy này! Và vì tôi có tội như mọi người nên như mọi người tôi cần sự cứu rỗi, tha thứ, cần ân điển.
Thường thì với tội mình chúng ta van xin được ĐCT ban cho ân điển, được tha thứ, xóa bỏ, quên đi. Với tội người chúng ta đòi hỏi công bình: đáng bị ĐCT trừng phạt! Tội tôi khác với tội người! Ma quỉ muốn qv nghĩ lầm lẫn như vậy.
Khi đọc trong 4 sách Phúc Âm, loại người ĐCJC lên án nặng nề nhất là ai? Có phải người thu thuế, những người mà thế gian gọi là phường đĩ điếm, hay người bắt quả tang phạm tội tà dâm? Đối với những người này, một khi họ đã ý thức tội, Chúa tha thứ, yêu thương dạy bảo đừng phạm tội nữa. Nhóm người Chúa lên án nặng nề nhất là những người Pha-ri-si (đọc Ma-thi-ơ 23). Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi rửa bề ngoài chén và mâm, nhưng ở trong thì đầy dẫy sự ăn cướp cùng sự quá độ. 26 Hỡi người Pha-ri-si mù kia, trước hết phải lau bề trong chén và mâm, hầu cho bề ngoài cũng được sạch sẽ. 27 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy. 28 Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi. (Ma-thi-ơ 23:25-28)
THÚ NHẬN TỘI ĐỂ ĐƯỢC THA THỨ
KT là tấm gương giúp chúng ta biết rõ tội mình: Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong ḷng. Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại. (Hê-bơ-rơ 4:12-13)
ĐTL dùng lời Chúa trong KT để cho chúng ta thấy rõ những động cơ sai lầm, những kiêu ngạo mặc áo khiêm nhường, những đen tối trong ý nghĩ, trong sự đánh giá, lên án người khác. ĐTL dùng lời Chúa trong KT để cáo trách, sửa dạy. Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình. Vì, nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo thì khác nào người kia soi mặt mình trong gương, thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào. Nhưng kẻ nào xét kỹ luật pháp trọn vẹn, là luật pháp về sự tự do, lại bền lòng suy gẫm lấy, chẳng phải nghe rồi quên đi, nhưng hết lòng giữ theo phép tắc nó, thì kẻ đó sẽ tìm được phước trong sự mình vâng lời. (Gia-cơ 1:22-25)
Thay vì đổ thừa hay so sánh tội, KT dạy chúng ta phải nhận thú tội của chính mình để được tha thứ. Qv nhớ câu chuyện ngụ ngôn Chúa kể về người thu thuế tội lỗi và người Pha-ri-si cầu nguyện tại đền thờ. Ngài lại phán thí dụ nầy về kẻ cậy mình là người công bình và khinh dể kẻ khác: Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người Pha-ri-si và một người thâu thuế. 11 Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy. 12 Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. 13 Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! 14 Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên. (Lu-ca 18:10-14)
Người Pha-ri-si tự hào về sự công chính, giữ trọn mọi luật lệ: không tham lam, bất nghĩa, gian dâm, kiêng ăn, dâng hiến 1/10. Hắn không hề ý thức rằng dù giữ bao nhiêu luật lệ thì vẫn phạm tội trong tâm hồn, tư tưởng, động cơ. KT xác nhận rõ rằng mọi việc công chính con người dưới mắt ĐCT cũng chỉ như một tấm dẽ nhơ nhớp. Tại sao? Bởi vì sự công chính, sự thánh khiết của ĐCT là tuyệt đối.
Vậy thay vì tự hào về sự công chính của mình, chúng ta phải biết nhận tội và ăn năn, xin Chúa tha thứ. Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu. (TT 51:1)
Nếu có một người xem là thánh khiết, trung trực, hết lòng với ĐCT, cuộc sống gương mẫu, người đó là sứ đồ Phao-lô. Vậy đó mà chính ông cũng đã viết: Ân điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong ta, với đức tin cùng sự thương yêu trong Đức Chúa Jêsus Christ. 15 Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu. 16 Nhưng ta đã đội ơn thương xót, hầu cho Đức Chúa Jêsus Christ tỏ mọi sự nhịn nhục của Ngài ra trong ta là kẻ làm đầu, để dùng ta làm gương cho những kẻ sẽ tin Ngài được sự sống đời đời. (1 Ti-mô-thê 1:14-16)
PL ý thức một điều mới xem qua như nghịch lý, mâu thuẫn nhau: He càng gần Chúa, ông càng ý thức rõ hơn về bản chất tội lôi, nhưng đời sống của ông ngày lại càng thánh khiết hơn. Và lý do, nguyên nhân của đời sống thánh khiết không phải vì sự tự chủ bản thân nhưng bởi quyền năng ĐTL, bởi ân điển Chúa. Chính vì hiểu được điều này nên không có gì để so sánh mình với người để lên mình kiêu ngạo.
