Tội Phạm Dẫn Đến Sự Chết – Phần 2
Bài giảng tuần qua là về 3 câu chuyện về tội phạm dẫn đến sự chết. Tôi giải thích tại sao ĐCT lại xử chết những người này vì tội tưởng như không đáng chết, Na-đáp & A-bi-hu, 2 con trai của A-rôn (Lê-vi-ký 10), U-xa (2 Sam 6), A-na-nia & Sa-phi-ra (CV 5). 3) bài học: 1) Thờ phượng theo cung cách Chúa định. Đây cũng là lần đầu tiên dân sự bắt đầu thờ phượng ĐGHV tại Đền Tạm; 2) Phục vụ theo cách Chúa định – đây là thời kỳ đầu tiên của dân tộc, đất nước DT hoàn toàn thống nhất và độc lập dưới thời vua Đa-vít; 3) Dâng hiến với tấm lòng chân thành – đây là thời kỳ đầu tiên của hội thánh đầu tiên.
Những nắm mộ này là 3 bản chỉ dẫn, 3 ví dụ cụ thể trong 3 giai đoạn quan trọng trong chương trình cứu rỗi của ĐCT để dân sự biết rằng dù ĐCT là Đấng nhân từ, chậm nóng giận nhưng cũng là Đấng hoàn toàn thánh khiết. Nhưng bài học quan trọng hơn hết là nếu không có sự chỉ dẫn, dạy bảo, tha thứ của Chúa thì không mọi người chỉ phải chịu xử chết trước sự thánh khiết và công chính của ĐCT.
Bài giảng sáng nay về 1 đoạn KT có phần khó hiểu trong 1 Giăng 5:14-16 về câu hỏi: tội phạm gì dẫn đến sự chết đến nỗi người trong Chúa không thể cầu nguyện cho người phạm tội này? Chắc chắn khi đọc đoạn KT này tất cả chúng ta đều có 3 câu hỏi này: 1) tội này là gì? 2) người tin Chúa có phạm tội này hay không? 3) làm thế nào có thể biết sự khác biệt giữa tội không chết và tội dẫn đến sự chết?
TỘI DẪN ĐẾN SỰ CHẾT NÀY LÀ GÌ?
Đầu tiên chúng ta cần phân biệt rõ 2 sự chết như trong lời dạy của KT: thể xác, tâm linh. Đừng sợ những kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn, nhưng thà sợ Đấng có thể hủy diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục. (Matt 10:28). Cái chết tâm linh đáng sợ ngàn lần hơn. Tín đồ cũng sẽ chết như mọi người nhưng sẽ nhận được cứu rỗi trong ĐCJC. KT cũng dạy rõ mọi tội đều thiếu mất vinh hiển đem đến sự chết tâm linh. Nhưng người không tin Chúa lại nghĩ là sự chết thể xác là quan trọng nhất.
Chính lý do này khi đọc 5:16-17 về sự chết, lập tức chúng ta nghĩ đến cái chết về thể xác: tim ngừng đập, phổi không còn hơi thở, não bộ không còn hoạt động. Chết như ba cái chết trong bài giảng tuần qua của 2 con A-rôn, U-xa và 2 vợ chồng A-na-nia & Sê-phi-rơ. Nhưng thật sự là sự chết tâm linh. Sẽ giải thích sau.
Hôm nay chúng ta, xã hội định nghĩa, phận loại tội lỗi thế nào? Định nghĩa, đánh giá của con người thay đổi theo xã hội, thời gian. Ví dụ: trộm cướp (dưới $1000 không bị bắt hay xử như tại một số tiểu bang), hôn nhân, giới tính…
Trong thời ân điển TU ngày nay có những tội trước đó trong thời CU phải chết, nhưng lại được tha thứ [xem danh sách]. Trong lịch sử HT có nhiều cách giải thích, phân loại về tội lỗi:
Chủ ý và thường xuyên phạm tội (không ăn năn) vs không chủ ý (phạm vì không biết, lỡ lầm) (Lev 4:2; 5:1; DSK 15:30-31, 18:22).
Trọng tội khiến chết (mortal sins) theo ngôn ngữ Catholic, gồm có: giết người, phạm tội tà dâm, thờ hình tượng vs tội có thể tha thứ (venial sins)
Phạm thượng cùng ĐTL (Mác 3:28-30, Lu-ca 12:10)
Bội đạo, chối bỏ đức tin, chối bỏ Chúa như trong Hê-bơ-rơ 6:4-6
Chủ ý và tiếp tục không ngừng từ chối, chống đối lẽ thật trong ĐCJC
Tội chủ ý và thường xuyên phạm sẽ tàn phá sự bảo đảm chắc chắn về sự cứu rỗi như Giăng gọi những người này đi trong bóng tối. Họ tự dối mình rằng họ có sự tương giao với ĐCT (1:6) Nếu chúng ta nói mình được tương giao với Ngài mà vẫn bước đi trong bóng tối thì chúng ta nói dối và không làm theo chân lý.
Vài vấn đề khi chia ra 2 loại tội: nặng không thể tha thứ và nhẹ có thể tha thứ. ĐCJC dạy trong Bài Giảng Trên Núi, ai nóng giận cũng đã phạm tội giết người; ai ngó ngươi phụ nữ với lòng ham muốn thì đã phạm tội tà dâm. Theo CU người phụ nữ tà dâm phải chịu xử chết, nhưng ĐCJC lại tha thứ cho bà.
Hơn thế nữa, làm thế nào có thể giải thích về những trọng tội Mô-se, Đa-vít, Phao-lô đã vi phạm? 3 vụ giết người của 3 anh hùng đức tin này đều cố ý, toan tính trước, chờ cơ hội. Nhưng ĐCT vẫn tha thứ.
Tựu chung có 3 cách giải thích về tội dẫn đến sự chết trong 1 Jn 5:16-17. Cách giải thích thứ nhất là chủ ý, tiếp tục vi phạm những trọng tội (giết người, tà dâm, phạm thượng, thờ thần tượng). HT Công Giáo La-mã phân loại làm 2 thứ tội như (2) trên. Tôi muốn giải thích sự khác biệt giữa việc tiếp tục phạm tội cùng Chúa của tín đồ. Chủ ý và thường xuyên trong trường hợp này khác với khi người tin Chúa có thể tiếp tục phạm cùng một tội như nóng giận hay ghen tị, tham lam, nói dối…
Tín đồ có thể bị cám dỗ để phạm tội nhưng sau đó cảm thấy vô cùng hối hận. Trong tận đáy lòng vẫn yêu mến ĐCT, vẫn cố gắng sống đẹp lòng Chúa, vẫn tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa. ĐTL cũng chắc chắn sẽ nhắc nhở, cáo tội và kêu gọi thú tội, ăn năn nên dù phạm tội vẫn luôn mong mỏi, cầu nguyện xin Chúa giải cứu, thay đổi để không phạm lại tội này.
Nhưng người không thật sự tin Chúa, sẽ không hề ăn năn, cảm thấy tội lỗi vì không có sự nhắc nhở của ĐTL.
Cách giải thích thứ II: Bội đạo, bỏ đạo (4 trên) như trong Hê 6:4-6, 10:26 và 12:16-27. Nhưng câu hỏi là nếu từ anh em trong đoạn KT trong 5:16-27 chỉ về tín đồ trong HT, người tin Chúa thì câu hỏi là một người thật sự tin Chúa có thể nào bội đạo hay không? Trong 3:9, 5:18 Giăng xác nhận rằng người đã thật sự tái sinh sẽ không tiếp tục phạm tội: Ai do Đức Chúa Trời sinh ra thì không phạm tội, vì hạt giống của Đức Chúa Trời ở trong người ấy; người ấy không thể cứ phạm tội, vì đã được Đức Chúa Trời sinh ra. (3:9) Chúng ta biết rằng ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì không phạm tội, vì Đấng sinh bởi Đức Chúa Trời gìn giữ người ấy, và ma quỷ không đụng đến người ấy được (5:18). Nếu đã không còn tiếp tục phạm tội thì làm sao có thể bội đạo? Vậy đây là cách giải thích không giải thích thỏa đáng
Cách giải thích thứ III: là tội phạm thượng cùng ĐTL. Phạm thượng cùng ĐTL nghĩa là gì? Là tiếp tục cứng lòng từ chối lời nhắc nhở, kêu gọi của ĐTL hãy đến, nghe, hiểu và tin vào sự cứu tội của ĐCJC trên thập giá. Dù có biết bao nhiêu cơ hội để nghe, để học lời Chúa trong KT, được chân tình giải thích về sự cứu chuộc tội của ĐCJC nhưng vẫn từ chối, bác bỏ, thậm chí chống đối.
Và như ĐCJC đã dạy trong Mác 3:28-30, tội phạm này chắc chắn sẽ dẫn đến sự chết đời đời trong địa ngục vì đã khước bỏ, khinh thường, xem rẽ ĐTL của ĐCT: Thật, Ta bảo các ngươi, mọi tội lỗi sẽ được tha cho con cái loài người, kể cả những lời phạm thượng mà chúng nói ra. 29Nhưng ai xúc phạm đến Đức Thánh Linh thì sẽ chẳng bao giờ được tha, mà phải mắc tội đời đời. (Mác 8:28-29).
Nói cách khác là tội từ chối sự cứu rỗi của ĐCT, tội gọi lời chứng của ĐCT là lời dối như 1:10 - Nhưng nếu chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội thì chúng ta cho Ngài là người nói dối, và lời Ngài không ở trong chúng ta., 2:22 - Ai là kẻ nói dối nếu chẳng phải là kẻ không thừa nhận Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ? Ấy là kẻ chống Đấng Christ, kẻ không thừa nhận Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con! 5:10 - Ai tin Con Đức Chúa Trời thì có lời chứng ấy trong chính mình. Còn ai không tin Đức Chúa Trời thì cho Ngài là người nói dối, vì không tin lời mà Đức Chúa Trời đã làm chứng về Con Ngài.
Đây chính là tội phạm dẫn đến sự chết! Không phải chỉ chết về thể xác, nhưng còn đáng sợ hơn nữa tội phạm này đưa đến sự chết tâm linh, chết đời đời trong địa ngục.
Vậy người thật tâm tin Chúa sẽ không mắc tội dẫn đến sự chết này, tức sự chết tâm linh đời đời. Và chúng ta thấy và biết sự khác biệt giữa 2 tội là khi một người tiếp tục từ chối Tin Lành.
Khi nghe về sự chết, lập tức chúng ta nghĩ đến cái chết về thể xác: tim ngừng đập, phổi không còn hơi thở, não bộ không còn hoạt động. Chết như ba cái chết trong bài giảng tuần qua của 2 con A-rôn, U-xa và 2 vợ chồng A-na-nia & Sê-phi-rơ. Qv hỏi: Làm thế nào để có thể khẳng định là tội dẫn đến sự chết trong 1 Jn 5:16-17 thật là sự chết tâm linh, sự chết đời đời trong địa ngục?
Đọc lại đoạn KT: Nếu ai thấy anh em mình phạm tội, mà tội ấy không đến nỗi chết, thì hãy cầu xin, và Đức Chúa Trời sẽ ban sự sống cho người ấy, tức là cho những người mà tội không đến nỗi chết. Cũng có tội dẫn đến sự chết; tôi không bảo anh em phải cầu xin cho tội nầy. 17Mọi điều không công chính đều là tội, nhưng cũng có tội không đến nỗi chết. (5:16-17)
Làm sao biết sự chết là chết về tâm linh đời đời? 2 lý do chính yếu
Bối cảnh thư:
Viết bởi sứ đồ Giăng sau khi được thả ra sau thời tù đày trên đảo Pát-mô. Viết từ thành Ê-phê-sô.
Irenaeus tiết lộ giáo lý dị giáo của Cerinthus và những người theo ông. Họ phân biệt giữa 'Chúa Giê-xu' và 'Đấng Christ'. Họ cho rằng Chúa Giêsu chỉ là một con người, được sinh ra bởi Giô-sép và Ma-ri trong giá thú tự nhiên, người mà Chúa Kitô đã giáng xuống trong phép báp têm và từ đó Đấng Christ đã rời đi trước thập tự giá. Theo lý thuyết này của các giáo sư giả, Chúa Giê-xu đã kết hợp với Đấng Christ tại lễ báp-têm, nhưng lại bị tách ra trước thập tự giá. Để bác bỏ sai lầm cơ bản này, Giăng, khi biết rằng Chúa Giêsu là Đấng Christ trước và trong khi chịu phép báp têm và trong và sau thập tự giá, đã mô tả ông là "Đấng đã đến qua nước và máu".
Đây là những người đã từng trong HT nhưng nay đã rời HT vì tin theo lời dạy này. Hỡi các con bé nhỏ, đây là giờ cuối cùng! Các con đã nghe nói kẻ chống Đấng Christ phải đến, và hiện nay có nhiều kẻ chống Đấng Christ đã đến. Do đó, chúng ta biết đây là giờ cuối cùng. 19Chúng phát xuất từ chúng ta, nhưng không thuộc về chúng ta. Vì nếu chúng thuộc về chúng ta thì phải ở với chúng ta; điều nầy xảy ra để minh chứng rằng tất cả những kẻ ấy không thuộc về chúng ta. (1 Giăng 2:18-19)
Vì vậy một mục đích chính yếu ngoài việc giúp tín đồ biết chắc về sự cứu rôi trong ĐCJC: Ta viết cho các con, không phải vì các con không biết chân lý, mà vì các con đã biết chân lý và hiểu rằng chẳng có điều gì dối trá ra từ chân lý. 22Ai là kẻ nói dối nếu chẳng phải là kẻ không thừa nhận Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ? Ấy là kẻ chống Đấng Christ, kẻ không thừa nhận Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con! (1 Giăng 2:21-22)
Đây cũng là lý do Giăng dạy đừng cầu nguyện cho tội dân đến sự chết.
Is John being hard-hearted by instructing prayer only for those whose sin does not led to death? At the time John wrote, it is likely he was referring to those who had left his church(es) as committing the sin that leads to death (2:19). They denied that Jesus is the Christ come in the flesh, denied that he came in both water and blood, and thereby denied the significance of his atoning death. They had put themselves beyond the fellowship of apostolic Christian belief, and therefore John is focusing his pastoral attention on strengthening the fellowship of those who remain. There is no point in interceding for the sins of those who persist in beliefs about Jesus that prevent them from receiving God’s forgiveness. John simply says, “I am not saying that you should pray about the sin that leads to death.” He does not forbid praying for those who have left the church and are still in need of God’s transforming grace in Christ; that is just not the situation he is addressing here.
2) Lý do thứ hai: từ sự sống và sự chết trong thư
Trong thư 1 Giăng, từ sự sống được sứ đồ Giăng dùng 15 lần trong 12 câu. Ngoại trừ 1 Jn 3:16 từ này có nghĩa là sự chết về thể xác: Bởi điều nầy, chúng ta biết được tình yêu thương: Ấy là Ngài đã hi sinh mạng sống vì chúng ta. Vậy, chúng ta cũng phải hi sinh mạng sống vì anh em mình. (BHĐ) (các bản dịch khác: tính mạng, sinh mạng). Tất cả 14 lần khác từ này đều mang ý nghĩa sự sống tâm linh, sự sống đời đời Chúa ban, gồm cả 1 Jn 5:16-17.
Tin lành, sự cứu chuộc tội của ĐCJC không phải đem lại sự sống thể xác. 3 cái chết như đã giảng tuần rồi là chết về thể xác của những người tin Chúa, dù chết về thể xác nhưng sẽ có sự sống đời đời. Hay như các tín đồ HT Cô-rinh-tô; tôi tin họ là những người đã được cứu.
Mục đích chính của PA Giăng là để người nghe có thể tin nhận ĐCJC mà được sự sống. Không phải xác thịt nhưng tâm linh, không phải tạm bợ nhưng trường cữu, đời đời: Nhưng các việc nầy được ghi chép để anh em tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, và để khi anh em tin thì nhờ danh Ngài mà được sự sống (Giăng 20:31)
Mục đích chính của thư 1 Giăng (ngoại chỉ rõ tà giáo) là để giúp tín đồ biết chắc chắn rằng khi thật sự tin nhận ĐCJC vào đời sống họ sẽ được sự sống đời đời. Như viết trong 1 Jn 5:11-13 Đây là lời chứng: Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống nầy ở trong Con Ngài. 12Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống. 13Tôi viết điều nầy cho anh em, là những người đã tin đến danh Con Đức Chúa Trời, để anh em biết mình có sự sống đời đời. (1 Giăng 5:12-13)
Cũng vậy 3 lần Giăng dùng từ sự chết đều có nghĩa là sự chết về tâm linh, sự chết đời đời trong địa ngục (3:14, 5:16-17). Làm thế nào để biết? Vì tất cả nơi có từ sự sống đều có nghĩa là sự sống tâm linh, sự sống đời đời nên sự chết viết trong thư 1 Jn cũng có nghĩa là chết tâm linh, chết đời đời. Như xem trong: Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết mà đến sự sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Ai không yêu thương thì ở trong sự chết. (1 Giăng 3:24)
Câu hỏi: nếu là người phạm thượng cùng ĐTL, tức từ chối Tin Lành thì tại sao Giăng lại gọi là anh em trong HT? Câu trả lời theo John Stott với 2 nhận xét rất tinh tế và quan trọng:
1) Cả 2 trường hợp đều cho 2 người chưa tin Chúa. Tại sao? Vì kết quả của cầu nguyện thay là gì? Nếu ai thấy anh em mình phạm tội, mà tội ấy không đến nỗi chết, thì hãy cầu xin, và Đức Chúa Trời sẽ ban sự sống cho người ấy, tức là cho những người mà tội không đến nỗi chết. Chúa ban cho sự sống, tức sự sống đời đời (xem giải thích về sự sống). Nếu đã có Chúa trong đời thì chắc đã có sự sống đời đời. Vậy tại kết quả cầu nguyện thay là sự sống?
2) Nếu đọc cho kỷ thì phần thứ 2 không có từ anh em.
Một câu hỏi khác theo John Sott: Làm thế nào một người (nếu cách giải thích ở trên là chính xác) không phải là Cơ đốc nhân có thể được gọi là anh em? Câu trả lời duy nhất là ở đây Giăng phải sử dụng từ này theo nghĩa rộng hơn hoặc của một 'người hàng xóm' hoặc của một Cơ đốc nhân danh nghĩa, một thành viên nhà thờ tự xưng là 'anh em'. Chắc chắn trong 2:9, 11 từ 'anh em' không được sử dụng một cách nghiêm ngặt, vì ai ghét anh ta hoàn toàn không phải là Cơ đốc nhân mà là 'trong bóng tối'. Trong 3:16-17, từ này dường như cũng có ý nghĩa rộng lớn hơn, nơi chúng ta được phép hy sinh mạng sống mình 'vì anh em mình' và cung cấp những nhu cầu vật chất của một 'anh em thiếu thốn'.
