Tình Yêu Trong Hôn Nhân
Không một đề tài nào thu hút chúng ta như tình yêu. Xem trong văn chương, thơ nhạc, phim ảnh, kịch nghệ từ xưa đến nay, chủ đề phổ thông và được mọi người yêu mến nhất là tình yêu. Đầu tiên là tình yêu nam nữ, rồi đến tình yêu gia đình, láng giềng, đất nước, dân tộc. Sáng nay nhân dịp kỷ niệm ngày lễ Valentine, lễ tình yêu vào thứ Tư tới, tôi muốn chia xẻ về tình yêu, đặc biệt là tình yêu trong hôn nhân.
Bài chia xẻ gồm ba phần. [1a] Phần đầu tôi sẽ giải thích từ KT rằng tình yêu con người có được đến từ chính Đức Chúa Trời; chính Chúa là nguồn tình yêu. [1b] Phần thứ hai là về hôn nhân. Hôn nhân không phải là sợi dây thừng, dây lòi tói xiềng xích, giam cầm người nam và nữ. Hôn nhân là thể hiện cụ thể và chân thành nhất của tình yêu. [1c] Phần cuối cùng tôi sẽ nói về sự cần thiết của việc thường xuyên bồi đấp tình yêu trong hôn nhân.
[2] ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ NGUỒN TÌNH YÊU
KT nói rất nhiều về tình yêu vì đây là một chủ đề quan trọng nhất. Biết bao nhiêu người đã nghe qua câu KT quen thuộc nhưng hết sức thâm sâu về tình yêu của Đức Chúa Trời cho loài người trong Giăng 3:16. Tin Lành là tinh mừng, tin vui về tình yêu thương của Chúa dành cho tội nhân qua sự cứu chuộc của ĐCJC.
KT cũng dạy chúng ta phải yêu thương nhau như lời ĐCJC trong Giăng 13:34-35 [4]: Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đă yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hăy yêu nhau thể ấy. Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta.
Phao-lô nhắc dạy tín đồ HT Cô-rinh-tô rằng trong mọi ân tứ thì tình yêu thương là ân tứ lớn lao, cao cả, và sâu nhiệm nhất. Trong 1 Cô-rinh-tô 12 PL dạy về các chức vụ, ân tứ, các sự ban cho của ĐTL cho hội thánh và tín đồ trong hội thánh. Và đoạn 12 kết thúc với lời Hăy ước ao cho được sự ban cho lớn hơn hết. Bây giờ, tôi sẽ chỉ dẫn cho anh em con đường tốt lành hơn (12:31). Vậy tình yêu thương PL viết trong đoạn 13 là sự ban cho lớn hơn hết, là con đường tốt lành hơn.
[5] Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng. Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm, và mọi sự hay biết; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì. Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi. (13:1-3)
Rồi PL kết luận: Nên bây giờ còn có ba điều nầy: đức tin, sự trông cậy, tình yêu thương; nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương. (13:13).
Sứ đồ Giăng là người được ĐCJC yêu mến hơn hết, kinh nghiệm được tình yêu của Chúa nên viết rất nhiều về tình yêu thương. Trong ba lá thư Giăng viết gởi hội thánh và tín đồ có ít nhất 30 lần ông nói về tình yêu thương của Chúa cho chúng ta, của chúng ta cho Chúa và tình yêu thương giữa các tín đồ. Chúng ta có thể tự hỏi tại sao Giăng lại lập đi lập lại mạng lệnh yêu thương Chúa dạy cho các tín đồ và hội thánh. Câu trả lời rất đơn giản: Vì khi không còn tình yêu thương trong con tim, trong tâm hồn thì con người trở nên cằn cổi, khô cạn; thì mọi việc làm trở nên thói quen hay gắnh nặng; mọi người trở nên quen thuộc đến độ nhàm chán. Và khi tình yêu khô cạn trong con tim lâu ngày, con tim chúng ta không chỉ trở nên cằn cổi, chai cứng như sỏi đá, nhưng nguy hiểm hơn là nó sẽ trở nên chua chát, cay đắng, hoài nghi. Chính vì vậy mà PL viết Tình yêu trông cậy mọi sự, tha thứ mọi sự.
Tuy nhiên một điều quan trọng nhất Giăng giải thích rõ cho các tín đồ là chính ĐCT là nguồn của mọi tình yêu thương. Như mưa tuyết đem đến nước cho đất, như nắng gió đem đến sự sống cho cây cỏ, chính Chúa là Đấng ban cho con tim, tâm hồn chúng ta tình yêu thương. Giăng viết [6]: Hỡi kẻ rất yêu dấu, chúng ta hăy yêu mến lẫn nhau; vì sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời, kẻ nào yêu, thì sanh từ Đức Chúa Trời và nhìn biết Đức Chúa Trời. Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương. (1 Giăng 4:7-8).
Chính theo lời Giăng thì sự hiện diện rõ của ĐCT trong đời sống tín đồ là tình yêu thương. Cũng vậy thể hiện rõ nhất của sự vắng mặt của ĐCT trong đời sống tín đồ là sự vắng mặt của tình yêu thương.
Tình yêu thương Chúa ban cho loài người là một ân điển chung như mưa nắng, như khí thở bởi vì từ ngàn xưa đến nay dù biết hay không biết Chúa thì con người trong mọi thời đại, thuộc mọi chủng tộc, giống dân đều có tình yêu thương trai gái, chồng vợ, gia đình, làng xóm, quê hương dân tộc. Nếu có thể có một định nghĩa cho địa ngục thì định nghĩa đó là: Địa ngục là nơi hoàn toàn không có tình yêu.
Dù sống trong chiến tranh, nghèo khó, đói khổ, tù đày nhưng khi vẫn còn biết rằng mình được yêu thương thì còn có ý nghĩa để sống. Nhưng dù có đầy đủ về vật chất, dù có tiền tài, danh vọng, quyền thế nhưng không nhận được một chút tình yêu thương nào trong đời sống thì quả thật là sống trong địa ngục.
[7] HÔN NHÂN THỂ HIỆN TÌNH YÊU
[7a, b] Chúa là nguồn tình yêu và Ngài ban tình yêu cho loài người.
Chuyện tình yêu trong văn chương, phim ảnh từ xưa đến nay kể hoài cũng không hết. Trong văn chương VN có biết bao nhiêu câu chuyện tình vô cùng éo le, thương tâm: chuyện hai anh em thương một người con gái con thầy học rồi cả ba chết để trở nên cây cao, dây trầu, và hòn đá vôi; hay chuyện người thiếu phụ chờ chồng đến nỗi hóa ra đá. Lịch sử VN cũng có câu chuyện Trọng Thủy và Mỵ Châu.
Chuyện kể như sau: Khi vua An Dương Vương xây thành Cỗ Loa, xây mãi vẫn gặp trở ngại, không xong. Một con rùa vàng hiện đến giúp vua xây thành. Thành xây xong, rùa còn tặng vua một cây nõ thần để chống giặc giữ thành. Khi Triệu Đà, vua xứ Bắc đem quân đến định chiếm thành, vua Dương Vương lấy nỏ thần mà phá giặc khiến Triệu Đà thua lớn phải xin hòa. Không lâu sao đó Triệu Đà cầu hôn cho con trai mình là Trọng Thủy. An Dương Vương gã con gái là Mỵ Châu cho Trọng Thủy.
Mục đích chính của Trọng Thủy là cưới Mỵ Nương để đoạt lấy nỏ thần cho cha để chiếm thành Cổ Loa và xứ Nam. Sau khi lấy nhau, Trọng Thủy dỗ dành Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần cho xem, rồi ngấm ngầm làm lấy một cái nỏ giả thay nỏ thật. Rồi nói dối vợ phải về xứ Bắc thăm cha. Trước khi ra đi, Trọng Thuỷ hỏi vợ: "Tình chồng vợ không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, bắc nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?" Mỵ Châu trả lời chồng: "Thiếp là phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng, thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ dứt lông mà rắc ở ngã ba đường làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau".
Lấy được nỏ thần, Triệu Đà chiếm thành Cổ Loa. Vua Dương Vương phải cởi ngựa đặt Mỵ Châu ngồi sau lưng mà bỏ thành chạy trốn. Theo lời hứa với chồng, Mỵ Châu dứt lông áo làm dấu để Trọng Thủy biết tìm mình. Vua chạy tới bờ biển đường cùng, sau khi nghe rùa vàng cho biết chính con gái mình là kẻ hại mình nên tuốt kiếm chém nàng. Mỵ Châu trước khi mất tan thán: "Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch, mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành hạt bụi. Nếu một lòng trung hiếu, mà bị lừa dối thì chết đi sẽ biếnt thành châu ngọc để tậy sạch mối nhục thù". Mỵ Châu chết, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải, lập tức biến thành hạt trân châu. Trọng Thủy đem xác vợ về táng ở Loa Thành, xác liền biến thành ngọc thạch. Vợ chết, Trọng Thủy nhớ nhung thương tiếc, khi đi tắm tưởng thấy bóng dáng Mỵ Châu nên lao đầu xuống giếng mà chết theo.
Nếu Chúa đã đặt trong lòng của mỗi người, dù tin hay không tin Chúa, tình yêu thì không lý gì Ngài lại không thêm điều đó, thêm tình yêu thương cho người tin Ngài. Thật vậy khi tin Chúa chúng ta kinh nghiệm được tình yêu của Chúa dành cho chúng ta. Kinh nghiệm được tình yêu trong vòng các tín hữu. Kinh nghiệm được một tình yêu thương mới mà trước đó như bị đóng bởi một bụi bẩn, bị che đậy bởi tội lỗi, ích kỷ, hận thù trong đời sống. Và khi kinh nghiệm sự thay đổi mầu nhiệm này trong lòng thì chúng ta mới có thể có được một tình yêu mới cho hôn nhân.
Những câu chuyện tình thương tâm như Trọng Thủy, Mỵ Châu khiến cho người ta có nhiều suy nghĩ khác nhau về hôn nhân và tình yêu. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có bài nhạc ví tình yêu như trái phá, con tim thì mù loà. Nếu con tim mù loà thì làm sao có thể sáng suốt trong hôn nhân. Cũng có người ví hôn nhân như chim vào lòng, như cá cắn câu. Cá cắn câu biết đâu mà gỡ. Chim vào lòng biết thưở nào ra! Vì vậy nên chúng ta thường nghe Tình chỉ đẹp khi còn dang dở. Đời mất vui khi đã vẹn câu thề. Hay nghe hai câu thơ nảo ruột này: Bướm vàng đậu đọt mù u. Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn. Nghe xong những lời này thanh niên thiếu nữ không dám nghĩ đến hôn nhân!
Có phải thật như vậy không? Thật trong nhiều hôn nhân. Trong đời sống có biết bao nhiêu hôn nhân đổ vở, tan rã, sầu khổ. Có biết bao nhiêu hôn nhân không phải bởi tình yêu nhưng bởi hoàn cảnh, bởi sự bắt buộc, bởi trăm ngàn lý do khác ngoài tình yêu cho nhau.
Tuy nhiên có nam nữ nào yêu thương nhau, hẹn biển thề non, lại không muốn tiến đến hôn nhân, muốn thành vợ thành chồng? Cũng có câu thơ Tóc mai sợi vắng sợi dài, lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm. Tình yêu nam nữ dẫn đưa đến hôn nhân là điều vô cùng tự nhiên. Hãy nghe những lời dễ thương này giữa người nam và nữ hỏi nhau:
Bây giờ Mận mới hỏi Đào,
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì Đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Một bài thơ khác:
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu, mời anh sơi trầu
Trầu này têm những vôi tàu,
Giữa đệm cát cánh, hai đầu quế cay.
Trầu này ăn thiệt là say,
Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng,
Dùng chăng nên đạo vợ chồng
Xoi dăm ba miếng kẻo lòng nhớ thương!
Trong bài giảng này tôi cũng sẽ không đề cập đến những suy nghĩ và quan điểm trong xã hội ngày nay như sống chung với nhau mà không cần đến hôn nhân, như hôn nhân giữa hai người đồng phái. Thiết nghĩ rằng nếu ĐCT đã ban cho loài người tình yêu thì ma quỉ cũng sẽ làm siêu vẹo, xuyên tạc, bóp méo ra đủ loại, đủ thể khác với Chúa.
Đức Chúa Trời sáng tạo ra loài người chúng ta và chính Ngài cũng đã tạo dựng hôn nhân cho người nam và người nữ. [8c] Tình yêu thương đầu tiên của loài người là tình yêu thương hôn nhân giữa A-đam và E-va, giữa chồng và vợ. Theo lời Kinh Thánh, đầu tiên Chúa tạo nên người nam, rồi người nữ vì nhận thấy rằng người nam ở một mình không tốt. Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Loài người ở một mình không tốt; ta sẽ tạo nên một kẻ giúp đỡ giống nó. Rồi Đức Chúa Trời kết hợp họ qua hôn nhân: [9] A-đam nói rằng: Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người sẽ được gọi là người nữ, vì do nơi người nam mà có. Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt.
Một số quý bà khi nghe lời Kinh Thánh có thể lấy làm phật lòng vì nghĩ rằng nếu tổ phụ E-va từ xương của xương, thịt của thịt A-đam, từ hông của A-đam thì chẳng phải Kinh Thánh đã hạ thấp giá người phụ nữ hay sao? Tôi xin nhắc để chúng ta nhớ rằng A-đam được Thượng Đế nắng ra từ bụi đất. Bụi đất thì có gì giá trị, có gì cao quý? Nếu có chăng chỉ bởi sinh linh Đức Chúa Trời ban cho A-đam để trở thành người, là điều mà chính E-va vẫn có. Nhưng người nữ đã được Đức Chúa Trời sáng tạo từ xương từ thịt của người nam thay vì từ bụi đất. Hơn nữa người nữ được tạo từ xương thịt bên hông nơi gần con tim của A-đam nhất để được ôm ấp, trìu mến, yêu thương. Người nam giờ đây thiếu mất một phần thân thể, mang trong mình một vết thương mà chỉ có người nữ mới có thể làm cho toàn vẹn, mới có thể chửa lành. Hình ảnh E-va từ hông A-đam cũng để cho thấy rằng trong quan hệ hôn nhân giữa chồng và vợ phải có sự bình đẳng. Bên hông để vợ cùng sát cánh với chồng, cùng chia ngọt xẻ bùi, cùng cam cộng khổ bên nhau.
Vì là xương là thịt của người nam, người nữ cần được trân trọng, quý giá như người phái yếu. Lời Kinh Thánh dạy [10]: Hỡi người làm chồng, hãy tỏ điều khôn ngoan ra trong sự ăn ở với vợ mình, như là với người yếu đuối hơn; vì vợ sẽ cùng anh em hưởng phước sự sống, nên phải kính nể vợ, hầu cho không có điều gì làm rối loạn sự cầu nguyện của anh em (I Phierơ 3:7). Chồng phải đối với vợ mình dịu dàng vì là người phái yếu và phải kính nể vợ mình. Vậy hình ảnh về sự sáng tạo loài người và hôn nhân đề cao giá trị của người nữ và vai trò đặc biệt trong hôn nhân.
[11] TÌNH YÊU TRONG HÔN NHÂN CẦN ĐƯỢC BỒI ĐẤP
Đoạn KT chúng ta đọc từ Nhã Ca 8:6-7 nói lên tình yêu hết sức chân thành, đầm thấm, nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ trong hôn nhân. [12] Hãy để tôi như một cái ấn nơi lòng chàng, Như một cái ấn trên cánh tay chàng; Vì ái tình mạnh như sự chết, Lòng ghen hung dữ như âm phủ; Sự nóng nó là sự nóng của lửa, Thật một ngọn lửa của Đức Giê-hô-va. Nước nhiều không tưới tắt được ái tình, Các sông chẳng nhận chìm nó được; Nếu người nào đem hết tài sản nhà mình, Đặng mua lấy ái tình, ắt người ta sẽ khinh dể nó đến điều. (Nhã Ca 8:6-7)
Hôn nhân là một dấu ấn chứng của ĐCT trên cuộc sống của hai người nam nữ trước đó là hai nay trở nên một. Nhẩn mà chúng ta đeo trong tay cũng là tượng trưng cho ấn chứng đó. Nhưng nhẩn cưới chỉ là những ấn chứng bên ngoài. Có người dù giữ cẩn thận ấn chứng bên ngoài nhưng trong lòng đã phai nhạt tình yêu thương cho người phối ngẫu mình. Lời Chúa trong Nhã Ca nhắc chúng ta rất nhiều về tình yêu thương, về đời sống lứa đôi trong hôn nhân, gồm trong cả vấn đề chăn gối. Chính vì điều này mà xưa đến nay Nhã Ca rất ít được đọc (hay có thể đọc nhiều nhưng không ai dám nhận!) và ít được giảng.
Đoạn KT này là những lời trao đổi giữa vua Sô-lô-môn và một thiếu nữ vùng nông thôn mà vua yêu mến rồi lấy làm vợ. MSTS Lê Hoàng Phu phổ thơ đoạn KT này rất khéo léo và đượm tình cảm:
(Tha thiết) Xin anh đừng kể hèn sang. Coi em như chiếc ấn vàng trong tâm. Ái tình mạnh tợ tử thần. Lòng ghen bốc cháy như Âm phủ kề. Tình yêu, đám lửa thật ghê. Phừng phừng cao ngọn, tư bề cháy thiêu. Dù sông biển nước thật nhiều. Cũng không dập tắt tình yêu được nào. Dù ai tiền bạc chất cao. Ái tình không thể mua vào được đâu. Tình đôi ta vững xiết bao! Có gì phá nổi tình sâu bao giờ?
Nếu hỏi trong vòng quí vị đã có gia đình, ai có thể nói được những lời này với người phối ngẫu mình? Phải chăng ngọn lửa tình yêu luôn luôn cháy bừng từ khi gặp nhau đến khi lấy nhau rồi vẫn cháy sáng rực đến hôm nay? Có người cười thầm cách chua chát, cay đắng. Có người nghĩ đây chỉ là mộng tưởng, sách báo không thực. Cũng có người bảo rằng tình cảm này chỉ có nghĩa bóng nói về hôn nhân giữa ĐCJC và con dân, hội thánh Ngài.
Tôi tin vào lời Chúa dạy. Tôi tin rằng tình yêu thương trong hôn nhân Chúa đem lại vẫn có thể bền vững, nồng thắm theo thời gian. Dĩ nhiên hễ càng chung sống lâu với nhau thì người ta nói giữa vợ và chồng dù không tình cũng có nghĩa. Chúng ta gọi nghĩa vợ chồng là nghĩa tao khang. Tao là trấu, là tấm; khang là bã rượu. Từ tao khang để chỉ cảnh nghèo nàn lúc còn hàn vi hay dùng để chỉ người vợ đã có công lo lắng cho gia đình, chồng con từ thưở hàn vi. Qua những cảnh ngộ khó khăn, những ngày lao khổ, tình trở thành nghĩa. Có thể lúc đầu tình bồng bột, nhất thời hay có lúc tình cũng có thể cạn cợt, đổi thay nhưng với thời gian tình và nghĩa như sợi dây bện chặt vào nhau trở nên tình chồng vợ bền vững, thâm sâu, nồng thắm.
Sống chỉ có nghĩa mà không có tình thì cũng không thấy ấm áp lắm. Vậy làm thế nào để có cả tình lẫn nghĩa như sợi dây bện chặt vào nhau? Câu trả lời là phải cần tiếp tục, thường xuyên bồi đấp, xây dựng. Luật tự nhiên của đời sống là mọi điều để tự nhiên sẽ trở nên cũ kỷ, yếu ớt, nhợt nhạt, cằn cổi. Có ai theo thời gian lại trẻ hơn? Tình yêu thương trong hôn nhân cũng vậy, nếu không được tiếp tục, thường xuyên bồi đấp thì không sớm thì muộn cũng sẽ nhợt nhạt rồi tan mất. Quý vị hỏi bồi đấp, xây dựng thế nào?
[13a] Kính trọng nhau.
Hôn nhân cần sự kính trọng giữa vợ và chồng: "tương kính như tân" hay kính trọng nhau như lúc ban đầu. Thiếu sự kính trọng thì cũng không thể nào có tình yêu thương bền vững. Trong hôn nhân chồng vợ, dù khác bổn phận, trách nhiệm, vai trò Chúa giao phó nhưng hai người hoàn toàn bình đẳng trước Chúa. Chồng không hơn vợ, vợ không hơn chồng. Cũng không phải vì người này học thức cao hơn, thông minh hơn, giỏi hơn nên có quyền coi rẽ người phối ngẫu mình. Nếu vậy đừng tiến đến hôn nhân.
Thiếu sự kính trọng lẫn nhau, tình yêu chỉ là sự chiếm hữu vô điều kiện; người kia muốn gì, thích gì cũng không được. Không phải bởi vì chồng lo cho vợ nên một vợ cũng phải theo ý mình, hai vợ cũng phải theo cách mình. Thiếu sự kính trọng lẫn nhau, khi có sự khác biệt, khi có lời qua tiếng lại, e rằng vợ sẽ có thể làm cho chồng mình phải mất mặt với những người chung quanh. Chính vì vậy Kinh Thánh dạy chồng vợ phải kính trọng lẫn nhau (I Pet 3:7, Eph 5:33): Những người làm chồng cũng vậy, khi chung sống với vợ hãy quan tâm đến vợ vì họ là phái yếu. Hãy tôn trọng vợ mình vì anh em cùng họ thừa hươ/ng ân phúc sự sống, hầu cho sự cầu nguyện của anh em không bị trở ngại.
Nếu chúng ta kính trọng người bạn đời của mình, chúng ta cũng phải biết kính trọng hay nể nang điều người vợ người chồng mình quý trọng. Có buồn phiền đến mấy cũng phải tôn trọng gia đình, nể nang bạn hữu của người phối ngẫu mình. Một số có thể nghĩ trường hợp của mình là ngoại lệ: bởi vì không cách nào tôi có thể kính trọng chồng tôi hay vợ tôi được, huống chi đến gia đình, bè bạn. Trước hết tôi xin thưa, bất kỳ một cuộc hôn nhân nào nếu mất đi sự tương kính thì chắc chắn sẽ có rạn nứt, đổ vỡ. Vậy phải tìm hiểu cho ra lý do gì khiến mất đi sự kính trọng và tìm người giúp chúng ta giải quyết đến tận căn cơ. Hai vợ chồng nọ có chuyện lục đục. Tiếng qua lời lại, ông chồng buột miệng: sao em dữ giống như má em vậy! Người vợ nghe lời chồng động đến mẹ mình nên nổi giận: anh có thua gì ba anh, ngày nào cũng bia với rượu, say sưa lè nhè. Từ đó sự tranh cải lan ra không những tới cha mẹ hai bên mà còn đến cả ông bà, dòng họ. Đụng đến một người còn bỏ qua được, chạm đến cả cha mẹ, ông bà, dòng họ hai bên dễ dầu gì bỏ qua cho được?
Tương kính cũng phải bày tỏ qua lời ăn tiếng nói với chồng vợ mình trước mặt mọi người. Ai hay chê bai vợ mình, chồng mình thì chúng ta nên tránh chớ làm bạn với họ. Họ nói xấu chồng, nói xấu vợ là người đầu ấp tay gối thì có khó gì cho họ nói xấu chúng ta? Vậy nên tất cả chúng ta là những người đã lập gia đình, phải tập khen tặng chồng mình, vợ mình.
Khi chung sống với nhau nhiều năm chúng ta thường quên đi những điều này. Kính trọng người phối ngẫu phải được bày tỏ trước con cái. Phải cho các con biết rằng cha trọng mẹ, mẹ trọng cha. Bằng không làm sao con cái kính trọng cha mẹ.
[13b] Khuyến khích, khen tặng, cảm ơn
Khi mới gặp nhau, quen nhau mỗi điều lớn nhỏ đều thấy dễ thương. Khen hoài mà không hết lời. Làm gì cho nhau cũng cám ơn rối rít. Nhưng lấy nhau rồi mọi việc đều như thường lệ, thậm chí nhàm chán. Lời nói ngày xưa dễ thương làm sao nhưng bây giờ nghe lại khó chịu biết bao. Lời khen tặng dần thay vào với lời chê bai, chỉ trích. Cả vợ lẫn chồng đều cần nghe lời khuyến khích, động viên, khen tặng từ người phối ngẫu mình. Em mặc áo này đẹp lắm đó. Thức ăn này em nấu thiệt là ngon. Cám ơn anh đã con chừng mấy đứa con cho em đi shopping.
Không có gì đáng buồn bằng khi gặp những cặp vợ chồng khác chỉ toàn nghe những lời than trách về điều này không tốt, điều kia không trọn về người phối ngẫu họ. Lần tới khi nghe như vậy quí vị có thể dừng người đó lại và hỏi họ Thế còn anh (chị) thì sao? Một điều hết sức rõ trong Nhã Ca là những lời khen tặng hai người dành cho nhau: Hỡi bạn tình ta, nầy mình đẹp đẽ thay, mình đẹp đẽ thay!... Hỡi em gái ta, tân phụ ta ơi, ái tình mình đẹp là dường nào! ái tình mình ngon hơn rượu, Và mùi thơm của dầu mình tốt hơn các thức hương! Hỡi tân phụ ta, môi mình nhỏ mật ong xuống, Dưới lưỡi mình có mật ong và sữa; Hơi thơm của quần áo mình như hơi thơm của Li-ban. (4:1, 10-11)
Khi chồng vợ có lầm lỗi, sai quấy thì sau khi chỉ sai, cũng nên có lời động viên, khích lệ. Đừng làm mất đi sự tự tin của người vợ chồng mình. Trong gia đình chúng tôi có một điều lệ: không chê thức ăn mẹ nấu. Không ngon thì ăn ít, chớ không chê. Luật này không phải chỉ dành cho các con nhưng cho cả tôi nữa. Một trong những biểu lộ của những lời động viên là sự tự tin của người phối ngẫu mình theo thời gian chung sống. Đọc CN 31 chúng ta thấy rất rõ rằng người phụ nữ tài đức là người tự tin vào khả năng của bà, bởi vì Một người nữ tài đức ai sẽ tìm được? Giá trị nàng trổi hơn châu ngọc. Lòng người chồng tin cậy nơi nàng. Trọn đời nàng làm cho chồng được ích lợi, Chớ chẳng hề sự tổn hại… Con cái nàng chổi dậy, chúc nàng được phước; Chồng nàng cũng chổi dậy, và khen ngợi nàng rằng: Có nhiều người con gái làm lụng cách tài đức, Nhưng nàng trổi hơn hết thảy (31:10-12, 28-29).
[13c] Dành thời gian cho nhau
Hôn nhân được bồi đấp qua thời gian chồng vợ dành cho nhau để chuyện trò, tâm sự. Đây không phải là điều dễ dàng bởi vì công việc, con cái, thậm chí có những cặp vợ chồng còn phải lo cho cha mẹ. Tuy nhiên hôn nhân cần thời gian cho nhau. Có thể 10-15 trong buổi ăn tối, hay nửa tiếng sáng sớm trước khi các con thức dậy, hay phải chuẩn bị đi làm. Hoặc những ngày cuối tuần trong bửa ăn trưa sau nhà thờ. Mỗi cặp vợ chồng đều có hoàn cảnh, thì gian khác nhau. Dù sao đi nữa cũng cần phải có thời gian để tâm sự. Chỉ có qua những giờ phút đó chồng vợ mới có thể thật sự hiểu nhau, thông cảm nhau và càng gắn bó, thương yêu nhau hơn.
[13d] Cùng hầu việc Chúa
Một nhà văn Pháp tên Saint Exupery viết Yêu nhau không phải để nhìn nhau nhưng để cùng nhìn một hướng. Vợ chồng trong Chúa nhìn cùng một hướng đi hầu việc Chúa. Dạy dỗ con cái trong đường lối Chúa. Sống theo lời Chúa dạy. KT là nền tảng của đời sống chồng vợ, chứ không phải một cuốn sách giáo khoa hay tâm lý nào (nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận giá trị của những quyển sách rất có giá trị trong việc dạy dổ con cái, trong việc giao thương trong hôn nhân).
Quan hệ của vợ chồng và ĐCJC như một hình tam giác mà đỉnh là Chúa. Hễ càng gần đỉnh bao nhiêu thì khoảng cách giữa hai người càng gần nhau bấy nhiêu.
