Tin Mừng Lớn Cho Muôn Dân
Câu chuyện GS tôi muốn chia sẻ cùng qv đêm nay dựa theo Phúc Âm Lu-ca 2:10-15. Tôi xin đọc lời Chúa: Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân; 11 ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. 12 Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. 13 Bỗng chúc có muôn vàn thiên binh với thiên sứ đó ngợi khen Đức Chúa Trời rằng: 14 Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!
Theo lời thiên sứ cùng các mục đồng trong đêm GS đầu tiên thì hài nhi Giê-xu vừa mới sinh chính là Đấng Cứu thế, là Chúa. Và sự giáng sinh của Ngài là một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân; không chỉ cho một dân nhưng cho muôn dân, cho toàn thế giới, cho mọi dân tộc trên đất. Lời thiên sứ thật sự đã ứng nghiệm vì hàng năm vào đêm GS, hàng tỉ người, 1/3 dân số trên toàn thế giới vui mừng đón mừng tin lành, tin ĐCT đã hạ thế làm người.
11 ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. 12 Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. Dấu gì để nhận ra Đấng Cứu Thế? một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ.
Từ khăn đây là vải thô quấn em bé mới sinh của người dân dã tầm thường, nghèo khó. Máng cỏ là nơi súc vật, chiên lừa ở, hôi hám, tối tăm, dơ bẩn. Đó là dấu để nhận ra Đấng Cứu Thế, là Chúa thật sao? Thật ngạc nhiên và lạ lùng là dấu của Đấng Cứu Thế vừa ra đời là một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ, con của một thiếu nữ tầm thường từ một làng thôn quê mùa, hẻo lánh, không ai coi trọng.
Đấng Cứu Thế có thể chọn để hạ sinh trong cung điện cao sang quyền quí, hay nơi giàu có, sang trọng. Nhưng Ngài lại chọn để hạ sinh trong chuồng chiên máng cỏ thấp hèn. Điều này không chỉ nói lên tình yêu thương bao la đối với con người nhưng còn nói lên sự khiêm nhường và nhu mì của ĐCT. Chúa đến thế gian này cho những người dân dã tầm thường, thấp hèn như các mục đồng, như tôi và qv. Chúa đến với những người có lòng khiêm nhường, đặt trọn niềm tin trong cuộc sống vào Ngài.
Nhưng tại sao ĐCT lại giáng thế làm người, để làm gì, với mục đích gì? Câu trả lời là để hòa giải quan hệ giữa Trời và người, để con người có thể hồi phục lại quan hệ đã gãy vỡ vì tội lỗi với ĐCT. Như lời của một bài thánh ca rất quen thuộc: Kìa, thiên binh cùng vang tiếng hát, Chúc Thánh Đế mới sinh trên đất! Bình an ân trạch ban khắp cả, Chúa và người đôi bên thuận hòa. Trong bản bài hát nguyên thủy Anh ngữ câu Chúa và người đôi bên thuận hòa thật là Chúa và tội nhân, người có tội đôi bên thuận hòa (God and sinners reconciled). Ngôi Hai ĐCT hạ thế làm người chịu chết cứu tội cho con người nhằm để người có tội được hòa giải cùng ĐCT. Đây là ý nghĩa của GS. Đây là lý do ĐCJC hạ sinh.
Một câu chuyện thật, một sự kiện lịch sử có một không hai, xảy ra trong thế chiến thứ nhất. Dù mấy giờ trước đó quân đội Đức và đồng minh là Pháp và Anh là kẻ thù tìm mọi cách để giết nhau thì trong đêm GS và ngày GS họ đồng ý ngừng chiến, họp lại để trao đổi bánh kẹo, thuốc lá và cùng nhau hát các bài hát GS. Qv nghĩ mơ ước to lớn nhất của những người lính trong thời chiến tranh trong mùa GS đó là gì? Là hòa bình. Không còn chiến tranh, thù hận, giết hại lẫn nhau.
Có thế hệ nào, có dân tộc nào lại không mong ước hòa bình? Chúng ta ước mơ hòa bình trên thế giới, mong mỏi được sự bình yên, hòa thuận trong gia đình, với mọi người. Nhưng đến nay ước mơ này cũng chỉ là mơ ước. Chiến tranh vẫn đầy dẫy trên thế giới. Gia đình vẫn đỗ vỡ. Quan hệ, tình cảm rạn nứt, tan vỡ. Rồi mỗi GS đến, chúng ta lại mơ ước hòa bình.
Mọi người tự hỏi: không phải lời thiên sứ đã phán: 14 Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người! hay sao? Chẳng phải ĐCT hứa ban bình an, hòa bình dưới đất này hay sao? Tôi xin được giải thích để qv khỏi hiểu lầm về sự bình an dưới đất này.
Sự bình an này chắc chắn không phải đến từ hòa bình giữa các quốc gia, dân tộc trên đất. Qv có thể nhìn thấy thực tế của thế giới từ đầu thế kỷ 21 này, chiến tranh không ngừng. Hiện chiến tranh vẫn đang xảy ra giữa Ukraine và Nga Sô, giữa Do Thái và Hamas. Hơn thế chính ĐCJC cũng đã xác nhận rõ rằng một trong những dấu hiệu của ngày sau rốt là sự gia tăng về chiến tranh, giặc giã, loạn lạc: Lại khi các ngươi nghe nói về giặc giã loạn lạc, thì đừng kinh khiếp, vì các điều đó phải đến trước; nhưng chưa phải cuối cùng liền đâu… Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia. (Lu-ca 21:9-10)
Sự bình an thiên sứ báo cũng không phải sự bình an cho đời sống cá nhân trong công việc làm, cho gia đình được vui vẻ, hạnh phúc, cho xã hội được an ninh, trật tự. Từ xưa đến nay xã hội vẫn luôn có tội ác, cá nhân vẫn gặp những nan đề lớn trong đời sống, gia đình vẫn còn đỗ vỡ. Lòng người lo sợ, bất an.
Vậy bình an dưới đất thiên sứ phán, ĐCT hứa không phải là hòa bình giữa các dân tộc, quốc gia. Cũng không phải là sự bình an cho đời sống cá nhân, gia đình hay trong xã hội.
Vậy bình an, hòa bình dưới đất này là gì? Câu trả lời: đây là sự bình an cho những người có tội được hồi phục lại quan hệ với ĐCT đã bị ngăn cách bởi chính tội lỗi họ. Nhưng làm thế nào để chúng ta có thể được hòa giải cùng ĐCT, và ơn phước của sự hòa giải này là gì? Khi chúng ta ý thức và ăn năn về tội lỗi vi phạm cùng ĐCT, và đặt trọn niềm tin vào sự cứu tội của Đấng Cứu Thế giáng sinh trên thập giá.
KT viết về một nhân vật tên Xa-cha-ri, một thầy tế lễ. ĐCT hứa sẽ ban cho ông và vợ ông một con trai để dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Con trai đó là Giăng Báp-tít. Sau khi Giăng Báp-tít sinh ra, Xa-cha-ri nói về việc con mình là để dọn đường cho Chúa, để cho dân Ngài biết sự cứu rỗi, bởi ơn tha tội, để soi sáng cho những người ngồi trong nơi tăm tối và trong bóng sự chết, để dìu dắt bước chân họ vào nẻo bình an: Còn con, hài nhi, con sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao. Vì con sẽ đi trước mặt Chúa, dọn đường cho Ngài, 77để cho dân Ngài biết sự cứu rỗi, bởi ơn tha tội, 78do lòng thương xót của Đức Chúa Trời chúng ta, bình minh từ trời cao sẽ tỏa sáng trên chúng ta, 79soi sáng cho những người ngồi trong cõi tối tăm và trong bóng sự chết, để dìu dắt bước chân chúng ta vào nẻo an bình. (Lu 1:76-79).
Tại sao ĐCJC giáng sinh làm người? Để qua ĐCJC chúng ta nhận biết sự cứu rỗi, nhận được ơn tha tội, để được hồi phục quan hệ đã gãy vỡ vì tội lỗi với ĐCT. Đây chính là con đường duy nhất đem đến sự bình an thật sự trong cuộc sống.
KT cho biết vì tội lỗi nên giữa loài người và ĐCT có một vực thẳm, hố sâu không đáy, một khoảng cách mênh mông, bao la mà không có công đức nào, việc lành nào, tôn giáo nào có thể nối lại. Tội lỗi khiến con người xa cách với ĐCT, khiến Ngài không còn nghe lời cầu xin, khấn vái của họ. Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa. (Ê-sai 59:2). Quan hệ đó chỉ có thể được hòa giải qua sự tha thứ và giá trả của ĐCJC trên thập giá để chuộc tội cho chúng ta.
Một số người nghĩ rằng ĐCT là Đấng yêu thương, mau tha thứ, chậm nóng giận nên sẽ tha thứ cho mọi người. Chuyện kể về một triết gia người Pháp, có thể là Voltaire, trước khi qua đời, người thân hỏi: ông có sợ khi phải đứng trước ĐCT hay không? Trả lời: Hoàn toàn không. Vì ĐCT sẽ tha thứ mọi tội. Đó là công việc của Ngài.
Thật là ngạo mạn và vô lý. Giả sử một người bạn cho qv mượn chiếc xe Lexus mới để đi dự tiệc cuối năm. Trên đường về, vì bất cẩn nên gây ra tai nạn làm thiệt hại chiếc mới đắt tiền của bạn mình. Có thể nào qv chỉ đến gặp bạn mình: tôi xin lỗi anh nha! Vậy là đủ sao? Dĩ nhiên không. Làm thế nào để qv có thể hồi phục lại quan hệ với bạn mình? Chỉ khi đến gặp người đó, chân thành nhận lỗi, xin được tha thứ, chỉ khi người bạn tha thứ cho qv. Nhưng tha thứ không chưa đủ, qv còn phải bồi thường thiệt hại đã gây, trả tiền để sửa lại phần hư hao của xe. Nếu qv không trả nổi thiệt hại đã gây ra thì chính người bạn phải nhận lấy phí tổn của thiệt hại đó.
Tha thứ đến từ tình yêu thương, từ lòng nhân từ, thương xót. Nhưng công bình đòi hỏi giá trả cho thiệt hại đã vi phạm. Khi chúng ta phạm tội, gây thiệt hại, chúng ta cần cả hai: sự tha thứ và giá trả. Chúng ta cần cả tình yêu thương, lòng nhân từ, thương xót từ người mình phạm tội. Nhưng tha thứ không chưa đủ, công bình đòi hỏi chúng ta phải trả giá cho tổn thương, thiệt hại đã gây ra.
Vậy làm thế nào chúng ta có thể nói ĐCT sẽ tha thứ cho tôi, khi chúng ta không thật sự, chân thành nhận tội mình đã phạm để được tha thứ. Nhưng còn thiệt hại gây ra từ tội phạm thì sao? ĐCT là Đấng vô hạn, vô biên, hoàn toàn thánh khiết, làm thế nào con người tội lỗi chúng ta có thể trả hết nợ cho Ngài? Đây là lý do Chúa Giê-xu hạ thế làm người để tha thứ tội và để trả giá đắt do tội lỗi con người gây ra cùng ĐCT.
Lời phán của thiên sứ: Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người! thật phải được dịch là bình an dưới đất cho người được ơn, hay cho người Chúa thương như trong các bản dịch mới. Ai là nhận được sự bình an dưới đất, là người được ơn, người Chúa thương? Đây là những người có lòng khiêm nhường, nhận mình có tội, tìm đến với Giê-xu xin tha thứ, nhận lấy sự cứu chuộc tội lỗi qua sự chết của Ngài trên thập giá.
Đây chính là tin mừng lớn cho muôn dân. Vì qua ĐCJC con người có một con đường duy nhất để nhận được sự tha thứ, để được hòa giải với ĐCT, để nối lại quan hệ đã gãy vỡ vì tội lỗi. Chính sự hòa giải này đem đến sự bình an với ĐC. Vì vậy, đã được xưng công chính bởi đức tin, chúng ta được bình an với Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta. (Rô-ma 5:1 – BDM)
Vậy bình an, hòa bình thiên sứ phán là gì? Là sự bình an cho những người có tội muốn hòa thuận với ĐCT, những người có tội thật tâm tin nhận ĐCJC đã đến để chịu chết cứu tội cho họ.
Tôi tin rằng hầu hết qv hiện diện tại đây rất thành công trong đời sống: trong công ăn việc làm, trong con đường học vấn, hay trong tình cảm, quan hệ. Tôi không phủ nhận những thành đạt này đem lại một mức độ bình an trong đời sống. Tiền tài, chức vị, sắc đẹp, tài năng cũng đem lại một mức độ bình an trong đời sống. Tuy nhiên sự bình an này rất tạm thời, có thể ngắn ngủi, và hoàn toàn tùy thuộc vào hoàn cảnh trong đời.
KT viết về 3 sự mê tham của con người trong đời này: mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời. Mê tham của xác thịt là về quan hệ, tình cảm, nhất là dục vọng thể xác. Mê tham của mắt là về vật chất, nhà cửa, xe cộ, của cải, tài sản. Kiêu ngạo của đời là về danh vọng, tiếng tăm, bằng cấp, quyền thế, chức vị.
Khi con người đạt được những ham muốn, mê tham này trong đời, họ cảm thấy hãnh diện, tự hào, cảm thấy bình an. Nhưng tất cả thành đạt và bình an này đều tạm thời, mong manh, có đó mất đó. Đến cuối đời cũng không một ai có thể đem theo bất cứ thành đạt gì với mình. Mọi người sinh ra với 2 bàn tay trắng thì cũng sẽ qua đời với 2 bàn tay trắng.
Ai có thể nghĩ rằng những thanh niên, thiếu nữ tham dự một đại nhạc hội tại Do Thái gần vùng Gaza lại trong một phút chốc lại bị bọn khủng bố Hamas tấn công, bắn giết, hãm hiếp, bắt cóc làm con tin. Ngày 06 tháng 10 quốc gia DT sống trong hòa bình, dân chúng bình an. Chỉ một ngày sau đó mọi việc hoàn toàn thay đổi: 1200 người bị thảm sát, 200 người bị bắt cóc, nhà cửa bị tàn phá, gia đình tan nát, đất nước chiến tranh. Đến hôm nay cuộc chiến tranh giữa DT và Hamas vẫn đang diễn ra khốc liệt. Tôi và Lan dự định sẽ đi thăm đất thánh vào tháng 2 tới nhưng dự tính đó phải hủy bỏ vì chiến tranh.
Ai có thể bảo đảm cho qv rằng những thành quả đạt được, tài sản, của cải, chức vị ngay cả hạnh phúc và tính mạng chính mình sẽ không bao giờ mất đi? Không ai cả.
Nhưng sự bình an cho những người được hòa giải trong quan hệ với ĐCT là một bình an tuyệt đối, chắc chắn, bảo đảm, hoàn toàn không tùy thuộc vào hoàn cảnh, không ai có thể cướp lấy, không bao giờ mất đi dù trong đời này hay sau khi từ giả đời này.
Hơn thế nữa, trong đời này họ còn được ban cho sự bình an theo lời hứa chắc chắn của ĐCJC cho những ai tin nhận Ngài. Đây là sự bình an trong tâm hồn dù ngay trong những nghịch cảnh của đời sống: Ta để sự bình an lại cho các con; ta ban sự bình an ta cho các con; ta cho các con sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các con chớ bối rối và đừng sợ hãi. (Giăng 14:17).
Chính tôi đã kinh nghiệm được bình an này. Mọi người thật lòng tin nhận Chúa đều kinh nghiệm được sự bình an này trong đời sống. Qv có thể tìm hỏi những người tin nhận Chúa về sự bình an này
Tôi mong tất cả qv hãy lắng lòng suy nghĩ về ý nghĩ thật của GS: sự bình an cho những người có tội được hòa giải với ĐCT qua sự giáng thế làm người, sự chết và sống lại của ĐCJC. Đây chính là tin mừng lớn cho muôn dân.
