Tin Cậy Vào Chương Trình Chúa Định
Giê-rê-mi 29:11 là một câu KT rất quen thuộc và tất cả tín đồ đều yêu thích lời Chúa hứa trong câu KT này: ĐGHV phán: “Vì chính Ta biết chương trình mà Ta hoạch định cho các con; đó là chương trình bình an chứ không phải tai họa, để ban cho các con một tương lai và một hi vọng. (BHĐ). Tuy nhiên rất ít người biết nguyên nhân gì, lý do gì, trong hoàn cảnh thế nào tiên tri Giê-rê-mi viết những lời này. Có thể sau khi biết rõ bối cảnh của đoạn KT này, nhiều tín đồ sẽ rất thận trọng khi đọc câu KT này như một lời hứa của ĐCT cho dân Ngài về một tương lai tươi sáng, một hy vọng tràn đầy về tương lai đó.
Lòng tin cậy vào chương trình Chúa định thể hiện qua ba điều sau đây: 1) Sống trong xứ người, không tách rời, cách ly khỏi xứ người; 2) Sống trong xứ người nhưng không bị đồng hóa, 3) Hy vọng vào tương lai Chúa định
BỐI CẢNH
Tiên tri Giê-rê-mi thường được gọi là tiên tri than khóc. Tại sao? Vì nhiều lý do. Trong suốt 40 năm dài ông dùng lời Chúa để cảnh giác vua, quan, dân rằng nếu không từ bỏ thờ thần Ba-anh, ăn năn tội phạm cùng ĐCT và không chịu đầu hàng giặc Ba-by-lôn thì cả xứ Giu-đa sẽ bị xâm chiếm, thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, dân sự sẽ bị bắt giải sang xứ xa làm phu tù, nô lệ. 40 năm dài nhưng không một ai lắng nghe! Lời tiên tri hoàn toàn như nước đổ lá môn. Mãi cho đến khi họ tin lời tiên tri thì đã quá muộn rồi.
Không những không nghe mà vua quan dân còn âm mưu, tìm nhiều cách để hãm hại, giết chết tiên tri. Chính các thầy tế lễ trong quê hương của ông lại tìm cách giết ông. Khi ông ta thán cùng Chúa, Chúa bảo hãy chờ, sự bắt bớ sẽ càng dữ dội hơn nữa! Thầy tế lễ ở thành Giê-ru-sa-lem ra lệnh đánh ông rồi cùm vào một cổng của thành. Có lúc vua ra lệnh ném vào giếng đầy bùn xìn bị lún chờ chết! Dù được một người ngoại (Ê-thi-ô-bi) cứu ra khỏi giếng, ông vẫn bị tù đày cho đến khi giặc Ba-by-lôn tàn phá thành Giê-ru-sa-lem.
Không chỉ đối nghịch cùng vua quan dân mà còn với nhiều tiên tri giả không tin lời Giê-rê-mi và cả quyết với dân sự sẽ bình an: Vì từ người nhỏ nhất đến người lớn nhất, tất cả đều tham lợi bất chính; Từ nhà tiên tri đến thầy tế lễ, đều sống giả dối. 14Chúng chữa vết thương dân Ta cách sơ sài, Rồi bảo: ‘Bình an! Bình an!’ Mà không bình an chi hết. (6:13-14 – BHĐ).
Trong hơn 2 năm trời thành Giê bị giặc Ba-by-lôn vây hãm, chính mắt ông nhìn thấy những cảnh tượng hết sức đau lòng: dân chúng chết vì đói, đến nôi mẹ cũng muốn ăn thịt con mình. Chính mắt ông cũng nhìn thấy thành Giê bị tàn phá, đền thờ và tường thành đốt rụi. Những cảnh tượng kinh khiếp, hãi hùng đó được viết lại trong sách Ca Thương.
A. W. Tozer viết, Hãy luôn nhớ rằng: qv không thể vác thập giá với đám đông. Mặc dù một người được bao quanh bởi một đám đông, thập giá của anh là của riêng anh và việc anh mang nó đánh dấu anh như một người cách biệt (với đám đông) “Always remember: you cannot carry a cross in company. Though a man were surrounded by a vast crowd, his cross is his alone and his carrying of it marks him as a man apart” (Man—The Dwelling Place of God).
Khoảng 600 năm trước khi ĐCJC giáng sinh, vua Nê-bu-cát-nê-xe đánh chiếm thành Giê-ru-sa-lem, tàn phá đền thờ và cả thành phố rồi bắt dân sự đày sang xứ Ba-by-lôn. G29:4-14 là một phần của lá thư tiên tri Giê-rê-mi viết gởi cho các vị trưởng lão còn sống giữa vòng những người bị lưu đày, cùng gởi đến các tư tế, các tiên tri tức những người lãnh đạo tôn giáo, và toàn dân đã bị Nê-bu-cát-nê-xa bắt phải rời khỏi Giê-ru-sa-lem đem lưu đày ở Ba-by-lôn.
Đây là lời lẽ trong bức thư mà nhà tiên tri Giê-rê-mi gửi từ Giê-ru-sa-lem cho các trưởng lão còn sót lại trong những người bị lưu đày, cho các thầy tế lễ, các nhà tiên tri và tất cả những người dân bị vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt từ Giê-ru-sa-lem đày sang Ba-by-lôn. (29:1 – BHĐ)
Babylon là tiếng Hy Lạp của Ba-bên (tiếng Hê-bơ-rơ). Ba-bên, tháp Ba-bên, là nơi con người muốn xây một cái tháp cao đến tận trời vì lòng kiêu hảnh về khả năng và thành tích. Hình ảnh thành phố lớn Babylon trong KT tượng trưng cho một xã hội, một chế thể, một tà giáo tội lỗi hoàn toàn nghịch lại với đường lối, lời dạy của ĐCT. Thành Babylon trong KT là biểu tượng của một thành phố, một xã hội với những niềm tin, giá trị, mơ ước hoàn toàn tương phản với ĐCT, và những điều Chúa dạy trong KT. Thế giới hôm nay đầy những Babylon, thu hút, cám dỗ tuổi trẻ làm cho họ không tin Chúa, hay ngày càng xa Chúa.
Hầu hết qv đây đều có nghe về một nhân vật tên Đa-ni-ên. Đ. là một trong hàng ngàn người trẻ tuổi, gồm cả những người thuộc dòng hoàng tộc bị vua N. bắt giải từ thành Giê-ru-sa-lem sang đến tận thành Ba-by-lôn, thủ đô đế quốc B. thời bấy giờ. Khi tiên tri G. viết gởi thư này thì Đ. và các bạn của ông đã bị giải đến tại thành B.
Tại sao vua Nê-bu-cát-nê-xa lại giải những người có chức vị, có khả năng sang Babylon? Thông thường thì nước này cai trị nước khác, dân này cai trị dân khác bằng 3 cách. Cách thứ 1 là đuổi họ ra khỏi xứ. Theo thời gian, dân bị đuổi khỏi xứ sẽ tìm cách tập họp trở về làm loạn. Cách thứ 2 là thống trị cách tàn nhẫn để giết dần giết mòn. Nhưng chính sự tàn nhẫn, độc ác làm cho dân sự nổi loạn. Cách thứ 3 là đồng hóa. Và đây là mục đích vua N. bắt giải Đ., những người trẻ tuổi thuộc dòng hoàn tộc từ G. sang B.
Đồng hóa là gì? Là theo thời gian sẽ làm cho những người DT từ xứ Giu-đa trở nên như người Babylon. Sẽ ăn nói, sinh sống, suy nghĩ như người B. Như Đa-ni-ên và các bạn ông được đổi tên từ Đa-niên có nghĩa là ĐCT là quan xét của tôi sang Bên-tơ-xát-sa, có nghĩa là thần Ba-anh là đấng bảo vệ mạng sống. Đổi tên để làm cho họ quên đi niềm tin vào ĐCT, quên đi phong tục, xứ sở. Cũng như ngày xưa Trung Quốc khi đô hộ xứ VN chúng ta tìm mọi cách để đồng hóa qua ngôn ngữ, phong tục, tập quán.
Dân bị đồng hóa sẽ mất đi nền văn hóa, ngôn ngữ, mất đi phong tục, tập quán của xứ họ để hoàn toàn trở nên như dân của xứ nơi họ sinh sống. Đây là một cách thức hữu hiệu để làm cho kẻ chiến bại theo thời gian quên đi quá khứ rồi dần dần sẽ hòa nhập vào xã hội, văn hóa, tôn giáo, chính trị của quốc gia thắng trận. Trước mưu mô đồng hóa của vua N. thì dân sự DT làm gì? Tách biệt, cách ly. Không chung đụng, không giao tiếp. Giữ khoản cách thật xa, tìm mọi cách để tránh né, khỏi chung đụng với dân B.
TIN CẬY QUA VIỆC SỐNG TRONG XỨ NGƯỜI, KHÔNG TÁCH RỜI XÃ HỘI XỨ NGƯỜI
ĐCT qua thư G. gởi cho những người lãnh đạo và dân sự dạy rõ một điều vô cùng quan trọng: dù B. là thủ đô của kẻ nghịch đã bắt bớ, lưu đày họ nhưng trong thời gian 70 năm đừng tách rời, cách ly, đừng bỏ thành phố nhưng hòa nhập. Hòa nhập nhưng không bị đồng hóa.
Babylon muốn đồng hóa dân sự Y-sơ-ra-ên. Dân sự Y-sơ-ra-ên tìm đủ mọi cách để tách rời, sống riêng biệt, không đụng chạm, trách giao tiếp. Babylon là xứ sở, thủ đô của quân thù. Thành phố này, dân chúng này thờ thần Ba-anh, và bao nhiêu tà thần khác. Ở Giê-ru-sa-lem chỉ một đền thờ, một niềm tin vào Đức Giê-hô-va. Làm sao hai niềm tin, hai cách sống, hai phong tục, hai thành phố có thể hòa nhập.
Khi đọc lá thư này, chắc chắn dân sự và những người lãnh đạo chắc vô cùng ngạc nhiên. Họ nghĩ ĐCT sẽ gọi họ như Chúa gọi dân Ngài trong KH hãy ra khỏi Ba-by-lôn. Nhưng không. Trái lại ĐCT bảo họ hãy ở lại thành, làm ăn sinh sống trong thành, sanh con đẻ cái, lấy vợ cho con trai, lấy chồng cho con gái, sinh sảnh thêm lên. Chúa còn gọi họ hãy cầu nguyện với Chúa cho sự hòa bình, thịnh vượng của thành. Cầu nguyện với Chúa có nghĩa là ĐCT sẽ lắng nghe và sẽ ban phước cho thành phố, cho dân sự Ngài trong thành phố ấy.
Hãy tìm cầu sự bình an thịnh vượng cho thành phố, nơi Ta đày các ngươi đến. Hãy vì thành ấy cầu khẩn CHÚA, vì sự bình an thịnh vượng của các ngươi tùy thuộc vào sự bình an thịnh vượng của thành ấy, (v7) ĐCT dạy dân sự phải hòa nhập (không bị đồng hóa, nhưng hòa nhập): cầu nguyện cho thành và biết rõ rằng sự bình an, thịnh vượng của dân sự Chúa tùy thuộc vào sự bình an, thịnh vượng của thành B. Có nghĩa rằng dân Chúa phải tham gia vào sự phát triển kinh tế, xã hội của thành B. chứ không tách rời.
Trong G. 28, tiên tri Ha-na-nia nói với dân sự rằng chỉ hai năm sau đó họ sẽ trở về lại Giê-ru-sa-lem. Nên hãy chờ ngày trở về. Nhưng ĐCT dùng tiên tri Giê-rê-mi để nói với dân sự rất rõ rằng họ ở lại thành B. trong 70 năm, sinh sống như dân trong thành, chứ không phải như phản dân, gián điệp chờ đến lúc sẽ nổi loạn. Sau 70 năm chính Chúa sẽ đem dân sự Ngài trở về lại thành Giê-ru-sa-lem để xây lại đền thờ, xây lại thành phố. Trong thời gian này, dân Chúa phải hòa nhập vào đời sống tại B.
Vậy KT dạy rất rõ rằng khi dân Chúa bị bắt giải sang Babylon, Chúa ra lệnh cho họ phải định cư, làm ăn, sinh sống, như một người thường trú, chứ không phải chỉ làm một kẻ xa lạ, người du lịch bàng quang, mặc kệ, dững dưng trước sự việc xảy ra trong xứ. Lý do? Thứ nhất bởi vì thời điểm chưa đến để họ trở về lại thành Giê-ru-sa-lem thân yêu; thứ hai để họ là một ảnh hưởng tích cực cho xã hội, là những nhân chứng sống cho ĐCT qua cuộc đời, cách sống, cách cư xử với mọi người, qua quan hệ của họ với Chúa.
Qv có thấy sự liên hệ của lá thư Giê-rê-mi và hoàn cảnh hiện tại chúng ta đang sống hay không? Bài học gì từ lá thư này? KT TU gọi những người tin Chúa trong sách Hê-bơ-rơ, trong thư Phi-e-rơ là những người kiều ngụ trong xứ, hay kiều dân. Kiều dân là gì? Là những người thường trú trong xứ nhưng không phải là người bản xứ. Permanent resident nhưng là permanent alien resident!
11 Anh chị em yêu dấu, tôi xin anh chị em, là khách tha hương và kẻ lưu lạc trong trần gian, chớ để cho dục vọng xác thịt lôi cuốn vì nó chống nghịch với linh hồn anh chị em. 12 Hãy sống một cuộc sống lương thiện giữa những dân ngoại, là những kẻ vẫn nói xấu anh chị em như là người làm ác, họ sẽ thấy các việc lành của anh chị em mà tôn vinh Đức Chúa Trời trong ngày Ngài thăm viếng. (1 Phi-e-rơ 2:11-12 – BDM)
Chúng ta sống trong thế gian này, nhưng không thuộc về thế gian. Nơi chốn, thời gian sinh sống trên đất này, tại nơi này nơi khác chỉ là tạm thời, trong một giai đoạn, sau đó chúng ta sẽ trở về quê hương đời đời trên thiên đàng.
Trong bài giảng trên núi ĐCJC dạy rằng môn đồ là muối của đất, là ánh sáng của thế gian, là cái thành xây trên ngọn đồi. Người tín đồ là muối của đất, ánh sáng của thế gian, là cái thành xây trên ngọn đồi. Điều này có nghĩa là gì? Chúng ta cần phải có một ảnh hưởng tốt đẹp với dân chúng và xã hội quanh mình qua quan hệ, làm bạn, kết thân, qua cách sinh sống, làm ăn buôn bán nơi đang sinh sống. Chúng ta cần phải nghĩ đến lợi ích của nơi mình đang sống và của những người chung quanh: Hãy mưu cầu hòa bình thịnh vượng cho thành nơi Ta sai các ngươi đến sống trong thân phận kẻ lưu đày. Hãy cầu nguyện với CHÚA cho thành ấy (BD2011)
Qv có nghĩ phải chăng ngẫu nhiên mà ĐCT đặt qv và tôi sinh sống tại thành phố này hay không? Dĩ nhiên không. Như ngày xưa ĐCT dùng vua Nê-bu-cát-nê-xa và những biến cố xã hội, thời sự để đem dân Chúa sang Babylon, thì ngày nay cũng không phải ngẫu nhiên mà hằng triệu người VN đang sinh sống tại HK, Úc, Canda… Tất cả những điều này đều nằm trong ý chỉ và dự tính của ĐCT. Không có tình hình thời sự, chính trị, kinh tế; không một biến cố lịch sử nào ngạc nhiên Chúa cả.
KT xác định rất rõ trong CV 17:26-27: Từ một người, Ngài dựng lên tất cả các dân tộc trong nhân loại cho họ ở khắp mặt địa cầu, định thời gian ấn định và biên giới cho họ cư trú, 27 để tìm kiếm Đức Chúa Trời, may ra có thể dò dẫm mà tìm được Ngài, dù Ngài không ở xa mỗi người trong chúng ta.
Chúa đặt để tôi và qv đến Albuquerque cũng như Ngài đặt để dân sự ngày xưa tại Babylon cách chủ ý, với mục đích: để dân nghe, biết, hiểu và tin ĐCT, để đem lại tin lành, tin mừng về sự cứu rỗi qua ĐCJC. Chúa muốn tất cả con dân Chúa phải sống trong vòng dân ngoại để làm muối, là ánh sáng, là cái thành trên núi, để làm chứng về Ngài. Nếu hoàn toàn cách ly, tách rời khỏi xã hội, thì làm sao có thể làm chứng?
Con dân Chúa thường có hai thái độ sai lầm: 1) Cách ly, 2) Đồng hóa. Cách ly bằng cách tránh giao tiếp với những người không cùng đức tin. Hoặc trong lòng có sự khinh khi, tự nghĩ họ là những người cần tránh để giữ cho đời sống thánh khiết, trong sạch. Nếu chung đụng sẽ bị ô uế, dơ bẩn!
Tuy nhiên KT dạy làm sao người chưa biết Chúa có thể nghe về Ngài nếu con dân Chúa không nói về Chúa, chia sẻ, làm chứng về Chúa ngay nơi họ sinh sống: Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. 14 Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng, thì nghe làm sao? 15 Lại nếu chẳng ai được sai đi, thì rao giảng thể nào? Như có chép rằng: Những bàn chân kẻ rao truyền tin Lành là tốt đẹp biết bao! (Rô-ma 10:13-15)
Đọc đoạn KT qv chắc thường nghĩ về những giáo sĩ đi đến xứ xa để truyền bá Tin Lành. Có bao giờ qv nghĩ rằng ĐCT đặt để qv tại thành phố này để rao giảng TL hay không? Ai nói không? Tại sao không? Bàn chân rao truyền TL không phải chỉ là những bàn chân đi từ thành phố Albq đến những thành phố xa xôi khác nhưng còn là những bàn chân đi từ nhà chúng ta đến nhà người hàng xóm, người bạn trong cùng lớp học, nơi làm việc chung trong thành phố.
Qua lời KT dạy tôi nói với qv rằng ĐCT đã đặt để chúng ta tại đây, nơi này với một mục đích như ngày xưa Ngài đã để dân sự bị lưu đày sang Babylon với một mục đích. Qv và tôi có trách nhiệm sinh sống, làm việc, lập gia đình, sinh con, cho phước lợi của nơi chúng ta đang sống. Có trách nhiệm cầu nguyện cho nơi chúng ta đang sống. Và phải giao tiếp, tạo quan hệ, gặp gỡ, làm bạn với người chưa biết Chúa để nói về TL với họ. Đây chính là mục đích, là ý chỉ của ĐCT cho tôi và qv khi Ngài đặt để chúng ta trên xứ này, nơi thành phố này.
Trong thư 1Phi-e-rơ. sứ đồ P. viết đến một hội thánh được thành lập tại thành B. Hội thánh của các người được chọn, tại thành Ba-by-lôn, chào anh em, con tôi là Mác cũng vậy. (1 Phi-e-rơ 5:13). Đây không phải là B. trong thời Đa-ni-ên của đại đế N. nhưng các học giả KT nghĩ rằng P. hàm ý thành La-mã, thủ đô của đế quốc La-mã trong thời P sinh sống. Xứ DT thời đó bị đế quốc La-mã chiếm đóng và dân DT trong thành Giê-ru-sa-lem phải tản lạc đi khắp các xứ khác, ngay đến thành La-mã.
Tôi cũng xin giải thích rõ rằng trong thời Giê-rê-mi và ngay cả trong thời điểm hiện tại chúng ta đang sống, thành phố B. mang một ý nghĩa khác với hình ảnh của B. trong ngày cuối cùng được viết trong KH. Theo KT hai thành phố tượng trưng cho 2 niềm tin, giá trị, 2 chúa của đời sống là Giê-ru-sa-lem và Ba-by-lôn. Thành Jerusalem tượng trưng cho thành thánh, nước Chúa, còn Babylon tượng trưng cho thành loài người, nước con người. Hai hình ảnh này tương phản với nhau như ngày và đêm, trắng với đen.
Trong thời Giê-rê-mi và trong thời chúng ta đang sống, KT dạy chúng ta sống trong vòng dân sự trong thành phố. Nhưng đến ngày sau rốt, lời Chúa trong sách KH kêu gọi dân Chúa phải ra khỏi B. Như đến lúc ĐCT gọi Lót và gia đình ông phải ra khỏi thành Sô-đôm trước khi Chúa hủy diệt thành đó.
Người [thiên sứ] kêu lớn tiếng rằng: Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, đã đổ rồi! Thành ấy đã trở nên chỗ ở của các ma quỉ, nơi hang hố của mọi tà thần, hang hố của mọi giống chim dơ dáy mà người ta gớm ghiếc, 3 vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó. 4 Tôi lại nghe một tiếng khác từ trên trời đến rằng: Hỡi dân ta; hãy ra khỏi Ba-by-lôn, kẻo các ngươi dự phần tội lỗi với nó, cũng chịu những tai họa nó nữa chăng (KH 18:2-4)
Đây là hình ảnh của thế gian trong thời sau rốt, đầy dẫy tội ác, thờ tà thần, con người ích kỷ, độc ác, chỉ biết sống cho mình. Một thế gian như trong ngày Nô-a, hay như hai thành Sô-đôm, và Gô-mê-ra với tội lỗi ngập trời cao thấu đến ĐCT và đã chín mùi cho sự phán xét, cho cơn thạnh nộ và sự hủy diệt của Chúa. Lúc đó dân sự Chúa phải ra khỏi B. như lời Chúa dạy.
Nhưng Babylon trong thư Giê-rê-mi gởi cho những người bị giải sang xứ đó chưa đến mức như vậy. Nói cách khác Babylon trong thư Giê-rê-mi có thể tượng trưng cho xã hội, thế giới hôm nay, tượng trưng cho thành phố Sài Gòn, thành phố Dallas, Albuquerque nơi chúng ta sinh sống.
CHỚ BỊ ĐỒNG HÓA: SỐNG TRONG THẾ GIAN, NHƯNG KHÔNG THUỘC VỀ THẾ GIAN
Nếu tách rời, cách ly là cách thức của các thầy tu xưa và nay để hoàn toàn xa cách thế tục, tránh bụi trần, tránh những ô nhiễm của thế gian, thì đồng hóa hay ai sao tôi vậy là cách thức của nhiều tín đồ để khỏi bị bè bạn, xã hội xa lánh, lìa bỏ hay chê cười. Áp lực của bè bạn và xã hội rất to lớn và quan trọng, nếu không nói là to lớn và quan trọng nhất với thanh niên thiếu nữ mới lớn.
Thanh thiếu niên, thiếu nữ (thậm chí cả người lớn) đều muốn giống như mọi người, muốn mọi người mến chuộng, làm bạn với mình nhất là qua social network như Facebook, Instagram. Bạn ngày nay không chỉ là những người gần bên mình như trong trường học, HT nhưng còn là các nhóm bạn trên mạng tuyến. Áp lực đồng hóa của các nhóm bạn trên mạng có khi mạnh hơn bạn gần bên. Được 100 người liked và followed trên facebook quan trọng hơn được 1 người bạn cạnh bên khích lệ. Đối với rất nhiều người, nhất là tuổi trẻ, thì đời sống này gồm 2 thế giới: thế giới thực chung quanh mình, và thế giới trên mạng tuyến. Với nhiều thanh thiếu niên, thế giới trên mạng tuyến còn quan trọng hơn thế giới thật chung quanh. Qv chắc biết có người chỉ có vài người bạn ngoài đời, nhưng lại có hàng 100, 1000 bạn trên mạng tuyến xã hội (social network). Đây là một khó khăn rất lớn và thật cho cha mẹ hôm nay. Vì làm sao chúng ta có thể theo dõi con em mình trong thế giới mạng tuyến mà chính mình không hiểu rõ, không có khả năng kỹ thuật để tham dự.
KT dạy trong Giăng 15:19 rằng chúng ta sống dù trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi.
Dân sự dù được ra lệnh ở lại Babylon, sinh hoạt, làm lợi ích cho thành phố, cho những người sinh sống trong thành phố, nhưng quê hương thật sự của họ vẫn là Giê-ru-sa-lem. Và đến đúng thời điểm Chúa định 70 năm sau, Ngài sẽ đem họ trở về quê hương.
Nói cách khác, người tin Chúa không cách ly khỏi nơi mình sinh sống như cũng không để nơi đó đồng hóa mình. Xã hội hôm nay sống thế nào?
Đặt cái tôi trên hết, trên cả gia đình, bè bạn, và trên cả ĐCT. Tôi trước hết, nhu cầu của tôi, sở thích, ý muốn của tôi trước hết. Không một quan hệ nào lâu dài nếu cả hai bên đều nói me first. Người có trái TL là người học nói, học để ĐCT trước hết và người chung quanh kế.
Đặt các thần vật chất trên hết, trên cả ĐCT. Thần gì? Tiền của, địa vị, sắc đẹp, danh vọng, học thức, bằng cấp.
PL dạy thế này: Đừng rập khuôn theo đời này, nhưng hãy được biến hóa bởi sự đổi mới tâm trí, để thử nghiệm cho biết ý định tốt lành, trọn vẹn và đẹp lòng Đức Chúa Trời. 3 Vì nhờ ân sủng Chúa ban cho tôi, tôi xin nói với mỗi người trong anh chị em: Đừng nghĩ về mình cao quá, nhưng hãy bình tâm suy nghĩ, đúng theo lượng đức tin Đức Chúa Trời đã ban phát cho mình. (Rô-ma 12:2-3 – BDM)
Khi giá trị, ý nghĩ, quan điểm sống của đời này quá xa Chúa thì người tin Chúa phải làm gì? Làm theo lời Chúa dù người đời có sống thế nào đi nữa. Không phải với thái độ của người anh hùng tử đạo, hay của một thánh nhân từ trên cao nhìn xuống, nhưng với sự khiêm nhường, lòng nhân ái, trong tình yêu thương. Lắm khi tín đồ bị chỉ trích vì chính thái độ cao ngạo, lời nói thiếu suy nghĩ, thiếu ân hậu. Lúc đó qv không chịu khổ cho Chúa, nhưng bị khổ vì chính sự dại ngờ, kiêu hảnh của bản thân!
Không để mình bị đồng hóa bởi thế gian có nghĩa là đứng vững trong đức tin dù có khi phải trải giá đắt. Như ca dao, tục ngữ VN viết về cây sen trong vũng bùn xình: Trong đầm gì đẹp bằng sen, lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng. Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
ĐCJC đến từ nước Trời, từ thành thánh trên trời xuống nước người, sinh ra lớn lên trong một ngôi làng tầm thường tên Na-za-rét. Đây là hình ảnh của một người nhập thế: từ nơi vinh hiển, thánh khiết xuống nơi tối tăm, tội lỗi. Sau đó Chúa đến thành Giê-ru-sa-lem, tượng trưng cho thành thánh. Tại đó dân sự sĩ nhục, đánh đập Chúa. Rồi họ đem Chúa ra ngoài thành, đóng đinh trên thập giá đến chết.
Ấy vì đó mà chính mình Đức Chúa Jêsus đã chịu khổ tại ngoài cửa thành để lấy huyết mình làm cho dân nên thánh. 13 Vậy nên chúng ta hãy ra ngoài trại quân, đặng đi tới cùng Ngài, đồng chịu điều sỉ nhục. 14 Vì dưới đời nầy, chúng ta không có thành còn luôn mãi, nhưng chúng ta tìm thành hầu đến. (Hê-bơ-rơ 13:12-14)
Tại sao ĐCJC lại chịu nhận những thương khó này? Để làm cho dân nên thánh. Dân tức những ai tin Ngài, tôi và qv. Nên thánh có nghĩa là được cứu tội, được ĐCT xưng là công bình, được nhận làm con trai, con gái ĐCT. Vì lý do này, tác giả Hê-bơ-rơ khuyên dân sự hãy ra ngoài trại quân. Thật ra từ trại quân này không phải là trại của quân lính nhưng là trại của dân sự ngày xưa khi đi trong đồng vắng. Trại là hình ảnh của nơi được bảo vệ, nơi an toàn, nơi gia đình, bè bạn sinh sống. Với dân sự DT, ra khỏi trại có nghĩa là đến nơi ô uế, đến nơi dân ngoại sống. Để cùng ra ngoài thành như Chúa đã ra ngoài thành để chia sẻ những khổ nhục như Ngài. Mục đích của sự cứu rỗi, làm nên thánh không phải để chúng ta được bảo vệ, an toàn trong trại, nhưng để có sức mới, để học gương Chúa mà sống ngoài thành, sống trong vòng dân ngoại, những người có thể nói xấu như Phi-e-rơ đã viết để làm chứng về Chúa và cho Chúa.
HY VỌNG VÀO CHƯƠNG TRÌNH CHÚA ĐỊNH
Chúng ta bày tỏ hy vọng vào chương trình Chúa định bằng cách nào? Đầu tiên và quan trọng hơn hết là qua việc làm chứng về Đấng kết tạo chương trình cho đời sống tôi, qv và cả mọi người trên đất dù là người không tin Chúa. Không chỉ chương trình cho cá nhân con người nhưng còn cả chương trình cho lịch sử con người từ nay cho đến hồi kết thúc.
Sứ đồ PL trong thư gởi HT Cô-rinh-tô có lời viết: Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhơn danh Đấng Christ mà nài xin anh em: hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 5:20).
Theo lời dạy của PL thì người tin Chúa là khâm sai (đại sứ) của ĐCT. Khâm sai là gì? Khâm sai là một từ xưa theo Hán ngữ có nghĩa là chức quan, hay người đại diện cho vua, được vua phái đi để làm một nhiệm vụ đặc biệt và quan trọng là đại diện không chỉ cho vua, mà còn cho cả đất nước, dân tộc. Bản dịch mới và 2011 thay từ khâm sai với từ đại sứ. Tức người được tổng thống hay thủ tướng phái sang nước người để đại diện cho đất nước. Khâm sai hay đại sứ là gương mặt, là tiếng nói của vua, của tổng thống, và của cả đất nước, dân tộc.
Không phải ai cũng được làm khâm sai hay đại sứ bởi vì đây là một chức quan hết sức quan trọng, đại diện cho vua, cho đất nước để hoàn thành một trách nhiệm khó và lớn. Người được vua phong chức khâm sai phải là người trung tín, nghĩa khí, can đảm, hiểu biết, và có tài ngoại giao. Đại sứ là người được tổng thống đề cử, quốc hội chấp thuận vì là người đại diện cho cả một quốc gia để giữ quan hệ ngoại giao với một quốc gia khác. Nếu làm khâm sai hay đại sứ cho Đấng Christ, thì chắc chắn người đó phải có lời Chúa, hiểu rõ lời Chúa, và dĩ nhiên phải có trái TL.
Đây là một chức vụ cao quí nhưng rất khó khăn. Chúng ta thử nghĩ về điều kiện của một khâm sai, đại sứ:
Hoàn toàn trung thành với vua, với đất nước.
Đại diện cho vua, cho quốc gia. Sống trong xứ người để nói về xứ mình. Sống trong xứ người để giúp cho dân trong xứ đó hiểu về những điều tốt đẹp của xứ mình. Nếu có bất hòa, xung đột, đại sứ là người tìm cách để hòa giải hai quốc gia, là nhịp cầu giữa 2 đất nước.
Người tín đồ phải là người đại diện đáng kính trọng cho ĐCT, cho nước Chúa. Sống nơi xứ người nhưng thuộc về xứ mình: sống trong thế gian nhưng quê hương thật là thiên đàng. Vua chúng ta đại diện là Đấng Christ chứ không phải của các thần trong thế gian này: thần vật chất, sắc đẹp…
Đáng tin cậy, khéo léo, cẩn thận trong lời nói, cách cư xử. Thông thạo ngôn ngữ xứ người. Hiểu biết phong tục, tập quán nhưng hơn hết phải hiểu biết rõ ý chí của vua phái đi và trách nhiệm trên vai.
Khâm sai phải hòa hợp với mọi người, vì lợi, vì danh của Chúa mà nhượng quyền lợi cá nhân. Chứ không khăn khăn giữ quyền lợi của riêng mình. Như PL dạy: Vả, tôi đối với ai vẫn cũng là được tự do, mà tôi đành phục mọi người, hầu cho tôi được nhiều người hơn. 20 Với người Giu-đa, tôi ở như một người Giu-đa, hầu được những người Giu-đa; với những người dưới quyền luật pháp, (dầu chính tôi chẳng ở dưới quyền luật pháp), tôi cũng ở như kẻ dưới quyền luật pháp, hầu được những người dưới quyền luật pháp; 21 với những người không luật pháp, (dầu đối với Đức Chúa Trời tôi không phải là không luật pháp, vì tôi ở dưới luật pháp của Đấng Christ), song tôi cũng ở như người không luật pháp. 22 Tôi ở yếu đuối với những người yếu đuối, hầu được những người yếu đuối; tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người, để cứu chuộc được một vài người không cứ cách nào. 23 Mọi điều tôi làm, thì làm vì cớ Tin Lành, hầu cho tôi cũng có phần trong đó. (1 Cô-rinh-tô 9:19-23)
Người tin Chúa khác với người tin Phật, không thoát ly, tránh bụi trần nhưng phải nhập thế như ĐCJC đã nhập thế, dính bụi trần nhưng không để bụi trần làm dơ bẩn tâm linh, tính hạnh. Chính vì Chúa đã vào thế gian nên chúng ta mới được cứu. Vì Chúa đã bị từ chối nơi thành thánh dưới đất này nên chúng ta mới được nhận vào thành thánh trên trời. Vì ĐCJC xuống thế gian không phải để được phục vụ nên chúng ta mới có thể học theo gương Ngài mà phục vụ nơi đang sống.
