Tiếng Khóc Thầm Của Người Mẹ Mất Con
Bài giảng hôm nay từ 2 Sam 21 về một câu chuyện hết sức cảm động và ý nghĩa về một người mẹ mất con tên Rít-ba. Câu chuyện này cũng là một thảm cảnh. Một thảm cảnh mà không mấy người trong chúng ta, đặc biệt nam giới, có thể hiểu thấu, cảm thông được. Bởi vì có mấy ai hiểu thấu được nỗi đau khổ cùng cực của một người phụ nữ bất hạnh, của một người mẹ khóc hai con trai mình bị giết cách thương tâm. Không mấy ai ngoại trừ một số người mẹ đã hay đang khóc vì mất con mình. Có thể trong số đó có một vài bà mẹ hiện diện trong phòng nhóm hay đang lắng nghe bài chia sẻ này.
Ba câu hỏi tôi muốn cùng qv suy gẫm qua câu chuyện về người phụ nữ, người mẹ tên Rít-ba này: 1) Tại sao bà mất con mình? 2) Bà đối diện với thảm cảnh này thế nào? 3) Có hy vọng gì cho những người cha mẹ mất con mình?
TẠI SAO RÍT-BA MẤT CON MÌNH?
Tên bà Rít-ba chỉ được đề cập 4 lần trong KTCU, trong sách 2 Sa-mu-ên. Lần đầu tiên chúng ta gặp bà trong 2 Sam 3:6-8: 6Trong lúc chiến tranh tiếp diễn giữa nhà Sau-lơ và nhà Đa-vít, thì Áp-ne củng cố địa vị mình trong nhà Sau-lơ. 7Trước kia, Sau-lơ có một nàng hầu, tên là Rít-pa, con gái của A-gia. Ích-bô-sết nói với Áp-ne: “Tại sao ngươi đến cùng nàng hầu của cha ta?” 8Áp-ne rất tức giận về những lời của Ích-bô-sết (BHĐ).
Câu 7 cho biết Rít-ba là thiếp hay vợ lẽ của vua Sau-lơ. 2 Sam 21 cho chúng ta biết bà có hai con trai với vua Sau-lơ. Ai là Áp-ne và Ích-bô-sết? Áp-ne là vị đại tướng của toàn quân đội trong thời vua Sau-lơ và cũng là bà con với Sau-lơ. Câu 6 cho biết sau khi vua Sau-lơ chết, Áp-ne vẫn giữ chức vụ đại tướng của toàn quân đội và củng cố địa vị mình. Ích-bô-sết là con trai của vua Sau-lơ, lên làm vua xứ Y-sơ-ra-ên sau khi cha chết.
Câu 7 cũng cho biết vua Ích-bô-sết cáo tội đại tướng Áp-ne ăn nằm với tì thiếp của cha mình. Trong thời đó, ăn nằm với thê thiếp của vua là một trọng tội vì hàm ý xoán ngôi. Tướng Áp-ne rất tức giận về lời kết tội này và khăng khăng từ chối đã làm điều này. Và vì lý do này Áp-ne bỏ vua Ích-bô-sết và nhà Y-sơ-ra-ên để về đầu phục vua Đa-vít và nhà Giu-đa.
Chúng ta không rõ có thật Áp-ne ăn nằm cùng bà Rít-ba hay không. Tuy nhiên nạn nhân chính trong câu chuyện này là bà Rít-ba. Danh dự của bà cũng không còn nguyên vẹn như trước vì đã bị vua buộc tội ăn nằm cùng tướng Áp-ne. Qua cuộc tranh chấp về thế lực chính trị giữa vua và đại tướng quân đội, Rít-ba bị xem như một đồ dùng để hai người đàn ông này có thể leo lên các bực thang của danh vọng và quyền thế. Vâng, tôi biết trong lịch sử có những người phụ nữ dùng nam giới để leo lên các bực thang danh vọng và quyền thế. Tuy nhiên con số đó ít hơn trăm ngàn lần so với số người phụ nữ là nạn nhân trong thời kỳ quyền thế hoàn toàn nằm trong tay nam giới.
Thường thì chỉ có những người tì thiếp được vua chuộng thì mới có con với vua. Rít-ba có hai con trai với vua Sau-lơ. Điều này cho thấy bà được vua sủng ái. Có thể nói trước khi vua Sau-lơ chết trên chiến trận, cuộc đời của bà Rít-ba cũng được xem là phước hạnh. Nhưng rồi cuộc đời bà hoàn toàn thay đổi khi vua Sau-lơ qua đời. Chỉ trong một ngày một bửa, bà mất tất cả: không còn là thiếp của vua, mẹ của hoàng tử, không còn ân sủng từ vua. Giờ bà là một dư luận vì lời cáo tội của vua Ích-bô-sết rằng bà đã ăn nằm với tướng Áp-ne.
Đây cũng là thực tế của đời sống: Sự qua đời của người phối ngẫu có thể trở nên một thảm cảnh bất ngờ, ngoài dự tính, thay đổi hoàn toàn cuộc sống, làm tan vỡ mọi ước mơ. Cái chết bất ngờ và đột ngột của vua Sau-lơ khiến cho bà Rít-ba từ một cung phi được vua sủng ái trở nên một nạn nhân giữa con trai vua và đại tướng của vua. Đau khổ hơn hết là địa vị cung phi của bà cũng không cứu được cái chết đau thương của hai con trai mình.
Trở lại câu hỏi tại sao Rít-ba mất hai con trai mình. 2 Sa-mu-ên 21 cho biết một lần nữa Rít-ba là nạn nhân bất hạnh của những sự việc, hoàn cảnh hoàn toàn ngoài dự tính và khả năng kiểm soát của bà.
Câu 1 của 2 Sam 21 cho biết: Trong thời trị vì của Đa-vít, có một nạn đói kéo dài suốt ba năm, năm này qua năm nọ. Khi vua Đa-vít cầu khẩn cùng ĐCT, thì được biết nguyên nhân là do vua Sau-lơ đã tàn sát dân Ga-ba-ôn, là một dân sự đã sống trong vòng dân tuyển của Chúa hàng 400 năm trời từ thời Giô-suê khi khi dân sự bắt đầu vào vùng đất hứa. Người Ga-ba-ôn vốn không thuộc về con dân Y-sơ-ra-ên, nhưng họ là số người A-mô-rít còn sót lại. Mặc dù dân Y-sơ-ra-ên đã có lời thề với họ, nhưng Sau-lơ vì lòng sốt sắng đối với dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đã tìm cách tiêu diệt họ (2 Sa-mu-ên 21:2)
Giô-suê 9:3-27 kể lại câu chuyện về dân Ga-ba-ôn lừa dối Giô-suê để không bị tiêu diệt như các dân khác trong xứ Ca-na-an và để Giô-suê lập một giao ước cho họ được sống an toàn trong vòng tuyển dân Chúa. Nhưng vua Sau-lơ lại phá bỏ giao ước mà tổ phụ ông đã lập mà tàn sát dân Ga-ba-ôn. Chính vì tội ác của vua Sau-lơ đã tàn sát người Ga-ba-ôn mà nạn đói lớn xảy ra. Khi được Chúa cho biết về nguyên nhân của nạn đói, Đa-vít đến với người Ga-ba-ôn và hỏi họ phải làm gì để chuộc lại tội của vua Sau-lơ. Họ muốn máu đền máu, mạng đền mạng. Họ muốn 7 người con cháu của vua Sau-lơ phải đền mạng để trả tội xưa của cha ông.
Người Ga-ba-ôn trả lời với vua: “Vấn đề giữa chúng tôi với Sau-lơ và nhà của người không phải là bạc hay vàng, cũng không phải chúng tôi muốn giết người nào trong Y-sơ-ra-ên.” Đa-vít lại hỏi: “Vậy các ngươi muốn ta làm gì cho các ngươi?” 5Họ tâu với vua: “Đối với người đã giết hại chúng tôi và chủ trương tiêu diệt chúng tôi, để chúng tôi không còn tồn tại trên lãnh thổ Y-sơ-ra-ên, 6thì xin hãy giao nộp cho chúng tôi bảy người trong những con trai của người ấy, để chúng tôi treo chúng trước mặt Đức Giê-hô-va ở Ghi-bê-a, thành của Sau-lơ là người được chọn của Đức Giê-hô-va. (2 Sa-mu-ên 21:4-6 – BHĐ)
Ai trong số 7 người sẽ chịu chết trong tay người Ga-ba-ôn? Hai con trai của bà Rít-ba là Át-mô-ni và Mê-phi-bô-sết và 5 người cháu trai của vua Sau-lơ – con của bà Mê-ráp, con gái Sau-lơ. 7 người trai trẻ này sẽ bị treo ở thành Ghi-bê-a, thành của Sau-lơ. Từ treo này còn có nghĩa là treo sau khi bị đâm chết.
[Tương phản giữa hai thành của Sau-lơ nơi 2 con và 5 cháu của Sau-lơ bị treo xác và thành Đa-vít, tức Bết-lê-hem nơi ĐCJC sinh ra.]
8 Nhưng vua bắt Át-mô-ni và Mê-phi-bô-sết là hai con trai của Rít-pa, con gái của Ai-gia, đã sinh cho Sau-lơ; cùng với năm con trai của Mê-ráp, con gái Sau-lơ, đã sinh cho Át-ri-ên, con trai của Bát-xi-lai người Mê-hô-la, 9 mà giao nộp vào tay người Ga-ba-ôn. Họ treo chúng trên núi, trước mặt Đức Giê-hô-va. Bảy người ấy cùng phải chết chung với nhau, chúng bị giết vào những ngày đầu mùa gặt, tức là bắt đầu mùa gặt lúa mạch. (2 Sam 21:8-9).
Qv có thể nói đây là một sự việc vô cùng tàn nhẫn và bất công. Tôi hoàn toàn đồng ý với qv. Thật bất công khi một người chịu nhận hậu quả do người khác gây ra, dù đó là người thân trong gia đình, dù đó là cha mẹ, anh chị em. Mỗi chúng ta không phải là một ốc đảo. Cuộc đời mỗi người đều không ít thì nhiều gắn bó với cuộc đời và hành động của người chung quanh. Vì vậy tội của một người có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc đời của người khác.
Rít-ba là nạn nhân vô tội bởi hành động của vua Sau-lơ trong quá khứ, nạn nhân của nạn đói lớn, một hoàn cảnh ngoài khả năng giải quyết của con người, dù đó là vua Đa-vít. Bà mất hai con trai không do lỗi của bà nhưng do lỗi của người, do hoàn cảnh đẩy đưa. Thảm cảnh đến với Rít-ba hoàn toàn ngoài dự tính, ngoài tầm tay với, ngoài mọi khả năng thay đổi hay giải quyết.
BÀ ĐỐI DIỆN VỚI THẢM CẢNH NÀY THẾ NÀO?
10Rít-pa, con gái của Ai-gia, lấy một tấm vải thô trải trên tảng đá dùng làm giường. Rồi từ đầu mùa gặt cho đến khi có mưa từ trời trút xuống xác của chúng; bà không để cho chim trời đậu trên chúng ban ngày, hay thú đồng đến gần chúng ban đêm. (2 Sam 21:10)
Câu 7 cho biết khi 2 con bà cùng 5 cháu của Sau-lơ bị dân Ga-ba-ôn đâm chết và treo trước thành Ghi-bê-a là vào những ngày đầu của mùa gặt lúa mạch, tức khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5. Lúa mạch chín và được gặt vào khoảng tháng 10. Đó cũng là thời gian mưa từ trời trút xuống. Rít-ba trông coi xác hai con mình trong vòng 5 tháng dài. Suốt cả mùa hè cho đến mùa thu. Mùa hè tại xứ đó rất nóng bức, oi ả. Không khó cho chúng ta có thể tưởng tượng 7 xác chết trở nên ương xình, hôi thối không chịu nổi. Giòi bọ đầy trắng cả các xác chết mục rửa.
Dù vậy người mẹ yêu thương con mình, khóc than một mình nơi ngọn đồi gần bức tường thành treo xác hai con trai mình. Ban ngày bà bảo vệ xác con khỏi chim trời, ban đêm khỏi các loài thú đồng. Cả ngày lẫn đêm bà trông coi, bảo vệ xác chết của hai con mình khỏi các loài thú vật. Rít-ba yêu thương hai con trai mình khi còn sống thì bà cũng yêu thương hai con trai mình dù khi đã chết.
Tháng trước đây tôi & Lan có dịp gặp lại cặp vợ chồng mà chúng tôi quen biết từ khi đến Albq hơn 30 năm trước đây khi cùng học KT với họ. Ông bà có hai con: một trai, một gái. Người con gái của ông bà -chết vì bị một người say rượu vượt lane đâm thẳng vào xe cô khi đang trên đường trở về trường đại học. Cô có ý định sẽ phục vụ Chúa tại các xứ Nam Mỹ sau khi tốt nghiệp đại học. Trong bửa ăn tối đó, chúng tôi nói chuyện rất vui vẻ, cười đùa lớn tiếng. Ông bà kể chúng tôi nghe về việc gặp gở với những người cha mẹ có con qua đời vì tai nạn hay bệnh tật vì chính ông bà cũng có người con gái chết vì người say rươu. Trên đường về, Lan nhận xét rằng khi nhắc lại đứa con gái đã qua đời hơn 20 năm trước đây, bà mẹ vẫn còn biểu lộ nỗi đau trên khuôn mặt và qua giọng nói. 20 năm qua, mẹ vẫn nhớ đến đứa con đã mất.
Tình yêu thương của người mẹ với các con là một sâu nhiệm to lớn nhất trong tình yêu thương giữa người và người. Người VN chúng ta ví tình thương yêu đó như biển Thái Bình lòng mẹ bao la như biển Thái Bình. Biển Thái Bình là biển lớn hơn hết, sâu hơn hết trong tất cả các biển cả trên thế giới này: rộng lớn mênh mông, bao la, sâu thẳm không đo hết được. Từ khi con còn thơ ấu cho đến khi khôn lớn, tình yêu thương mẹ cho con vẫn ở đó. Và tình yêu thương đó vẫn đậm sâu, dài rộng dù khi con đã qua đời.
Khi Rít-ba than khóc hai con mình, không có ai ở đó với bà. Bà ở đó một mình, cô độc, lẽ loi. Chồng đã chết nay hai con cũng chết. Khi than khóc Rít-ba không có một bờ vai nào để chia sẻ: bà than khóc một mình, khóc thầm! Ngày bà chịu nắng nồng cháy da thịt giữa mùa hè thiêu đốt; đêm chịu rét buốc. Giường của bà là một tấm vải thô trải trên tảng đá. Tình yêu thương của Rít-ba cho hai con không phải chỉ qua lời than khóc nhưng qua hành động can trường bảo vệ xác hai con mình ngày đêm trong suốt 5 tháng dài. Vũ khí, chiến lược, sức mạnh duy nhất của Rít-ba là tình yêu thương của người mẹ cho con mình.
Rít-ba đối diện với thảm cảnh này thế nào? Bà than khóc nhưng không thụ động và không tuyệt vọng. Bà tiếp tục tranh đấu cho danh dự của chồng, là vua Sau-lơ và cho các con mình được chôn cất tử tế, được tôn trọng.
Khổ đau, hoạn nạn có thể khiến cho một người trở nên tê liệt, thụ động, tuyệt vọng, trách móc Chúa, lìa bỏ hội thánh. Nhưng khổ đau, hoạn nạn cũng có thể khiến cho một người trở nên can trường, mạnh mẽ hơn trong đức tin, có quan hệ gần gủi, ngọt ngào hơn với Chúa. Cùng một hoàn cảnh nhưng có hai phản ứng, hai thái độ hoàn toàn trái ngược. Cái chết thương tâm của hai con khiến bà Rít-ba càng quyết tâm hơn, bền chí hơn: mẹ không giữ được con khi con còn sống, mẹ sẽ làm mọi điều để con được chôn cất tử tế, để giữ danh dự cho con dù khi con đã chết. 5 tháng dài sống ngoài trời, lấy tấm vải thô trải trên đá để làm nơi giường ngủ, chịu nắng nồng đốt cháy thân thể ban ngày để đuổi các loài chim đến ăn xác đã mục rửa, xình thối; chịu giá rét thức đêm bảo vệ xác con mình khỏi các loài thú dữ. Rít-ba là một trong những nhân vật kiên trì, bền đổ nhất trong toàn bộ KT.
Nguyên nhân gì khiến Rít-ba có thể đối diện và đương đầu với thảm cảnh quá lớn như vầy? Câu trả lời rất đơn giản: Tình yêu thương của mẹ cho con mình. Bà khắc phục tất cả chỉ bởi vì tình yêu thương con mình.
PL dạy: Hãy ước ao những ân tứ cao trọng hơn. Bây giờ tôi sẽ chỉ cho anh em con đường còn tuyệt diệu hơn nữa. Bây giờ tôi sẽ chỉ cho anh em con đường còn tuyệt diệu hơn nữa. (1 Cor 12:31) sự hiểu biết sinh kiêu căng, còn tình yêu thương thì xây dựng. (1 Cor 8:1)
ĐCJC dạy các môn đồ trong đêm cuối đời: Ta ban cho các con một điều răn mới, ấy là các con phải yêu thương nhau. Như Ta đã yêu thương các con thể nào thì các con cũng hãy yêu thương nhau thể ấy. 35Nếu các con yêu thương nhau, thì bởi đó, mọi người sẽ nhận biết các con là môn đồ Ta.” (Giăng 13:34-35)
Chúng ta đọc trong Châm Ngôn 21:1: Lòng của vua ở trong tay Đức Giê-hô-va khác nào dòng nước chảy; Ngài làm nghiêng lệch nó bề nào tùy ý Ngài muốn. Chính người phụ nữ bất hạnh nhưng không hề bỏ cuộc, người mẹ đau khổ nhưng can trường, phẩm giá tên Rít-ba này đã làm nghiêng lệch lòng vua Đa-vít. 11Khi Đa-vít biết được việc Rít-pa, con gái Ai-gia, nàng hầu của Sau-lơ, đã làm, 12thì vua đi lấy hài cốt của Sau-lơ và của Giô-na-than, con Sau-lơ, từ những người cai quản thành Gia-be thuộc Ga-la-át. Những người nầy đã lấy trộm xác của hai cha con vua từ quảng trường Bết-san, nơi người Phi-li-tin treo họ lên trong ngày chúng đánh bại Sau-lơ tại Ghinh-bô-a. 13Rồi vua đem hài cốt của Sau-lơ và Giô-na-than, con Sau-lơ, từ Gia-be về. Người ta cũng lấy hài cốt của những người đã bị treo, 14và họ chôn cùng với hài cốt của Sau-lơ và Giô-na-than trong khu mộ của Kích, cha của Sau-lơ, ở Xê-la, thuộc đất Bên-gia-min. (2 Sa-mu-ên 21:11-14)
Rít-ba là bằng chứng về sức mạnh và quyền năng biến cải hoàn cảnh của tình yêu thương, đặc biệt tình yêu thương của mẹ cho con. Giữa thảm cảnh đen tối nhất Rít-ba tiếp tục yêu thương, tiếp tục hy vọng, tiếp tục tin tưởng rằng rồi hoàn cảnh sẽ thay đổi.
Chính bởi tình yêu thương cao quí, bởi lòng can trường, Rít-ba, một tì thiếp của một vị vua không ra gì để lại cho chúng ta một câu chuyện vô cùng ý nghĩa và cảm động về tấm lòng của người mẹ thương yêu con mình, được lưu truyền hơn mấy ngàn năm qua trong KT. Dạy chúng ta bài học về cách đối diện trước thảm cảnh bất ngờ, to lớn xảy ra trong đời sống
CÓ HY VỌNG GÌ CHO NHỮNG NGƯỜI CHA MẸ MẤT CON MÌNH?
Hôm nay có nhiều người mẹ mất con: không chỉ mất mạng sống, nhưng có thể mất vì con đi trên con đường sai quấy, trái ngược những lời cha mẹ dạy; con từ bỏ đức tin trong Chúa. Dù con vẫn còn sống, nhưng trong lòng mẹ đã mất con rồi. Mẹ mất con khi con đi sống cuồng loạn, trác tán theo dục vọng của xác thịt. Mẹ mất con khi con công khai chế diễu KT là quyển sách hoang đường, phản khoa học. Mẹ mất con vì ảnh hưởng từ trường học, bè bạn, từ mạng tuyến internet, từ xã hội bên ngoài. Trong xã hội ngày nay mẹ rất dễ mất con. Rít-ba mất hai con trai của bà. Bao nhiêu người mẹ tại đây, những người mẹ mà qv quen biết mất con mình trong xã hội, đời sống này?
Ruth Graham, vợ của nhà truyền giáo nổi tiếng Billy Graham, viết một quyển sách có tựa đề là Prodigals – and Those Who Love Them (Những người con hoang đàng – và những người yêu thương chúng nó). Con gái của bà tên Gigi viết lời đề tựa cho sách và kể một câu chuyện khi bà Ruth Graham được mời đến để được phỏng vấn trong buổi tiệc tại một trung tâm y khoa rất nổi tiếng: Sau buổi tiệc tối, nhiều người đến cám ơn Mẹ vì đã chia sẻ rất thành thực, cởi mở. Tôi chú ý có một người phụ nữ trông rất thanh lịch, nổi bật, ăn mặc rất sang trọng ngần ngừ đằng sau, chờ có cơ hội để nói chuyện với Mẹ. Và rõ ràng rằng bà có điều gì xúc động lắm vì như không thể cầm được nước mắt. Sau khi đám đông dản dần, người phụ nữ đó rụt rè, do dự mà đến với Mẹ. Bà nói với Mẹ trong nước mắt: “Con trai tôi đã chết vì dùng thuốc quá độ. Bà có nghĩ tôi sẽ gặp lại con tôi trên thiên đàng không?” Dù không biết rõ chi tiết, nhưng Mẹ thấy rõ trước mắt một người mẹ đau khổ. Mẹ trả lời: “Nếu một ngày nào đó bà nghe một tiếng gõ cửa nhỏ nhẹ, rụt rè, và khi mở cửa thì thấy đứa con mình đứng đó, bị thương tích, bầm dập, rĩ máu, dơ bẩn, rách nát, bà sẽ làm gì? Đóng rầm cửa lại không nhìn con? Hay bà sẽ mở cửa rộng hơn và ôm con vào vòng tay của mình?
Dù nước mắt ràn rụa trên má người phụ nữ nhưng tôi cảm thấy dường như gánh nặng đã cất lấy khỏi vai bà. Bởi vì bà biết bà đã nghe từ chính một người mẹ cũng đã hiểu thế nào khi có đứa con đi hoang. Hai người ôm nhau, rồi người phụ nữ xoay đi và mất trong đám đông.
Mẹ biết về những đứa con hoang đàng và quyển sách này nói lên sự tìm kiếm niềm an ủi của Chúa trong khoảng thời gian của cuộc đời Mẹ khi những đứa con hoang đàng bỏ nhà đi xa khỏi tình yêu thương và sự chăm sóc của Mẹ và chỉ có Chúa dõi mắt trông chúng nó. (Foreword by Gigi, p.11-12)
Tôi có câu hỏi này cho hội thánh Chúa: Khi qv thấy một người mẹ mất con vì đi sai đường lạc lối, qv sẽ làm gì? Sẽ nói Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà là đúng lắm! Hay chê bai người không biết dạy con? Hay nói: bà này có tướng sát chồng, sát tử! Hay nói: chắc bả có tội gì đó nên Chúa mới phạt như vậy! Lắm khi tín hữu trong hội thánh lại có những lời phán xét hết sức nặng nề, thậm chí độc ác vô cùng.
Một câu chuyện có thật xãy ra tại một hội thánh: một thiếu nữ lỡ dại có thai; một vài người trong hội thánh đến nói với cô và mẹ cô không hiểu tại sao là người tin Chúa mà lại có thể làm những chuyện như vậy. Bộ không biết xấu hổ hay sao mà còn chường mặt đến nhà thờ?
Tôi mong HT chúng ta là nơi nhân ái Chúa, nơi mở rộng vòng tay trong tình yêu thương mà đón cả mẹ và con, dù là những đứa con hoang đàng đang đi lầm đường lạc lối.
Một câu chuyện kể trong Phúc Âm Lu-ca về hai thảm cảnh bi thương xảy ra trong thời ĐCJC: 1) một số người dân vùng Ga-li-lê khi đang dâng của lễ tại đền thờ thành Giê-ru-sa-lem thì bị quân lính La-mã của tổng trấn Phi-lát giết; 2) 18 người bị một tháp cao ngã xuống đè đến chết. Dân chúng đến hỏi ĐCJC về hai thảm cảnh này:
1Chính lúc ấy, có vài người ở đó thuật lại cho Đức Chúa Jêsus về việc Phi-lát giết những người Ga-li-lê, khiến máu của họ hòa lẫn với sinh tế họ đang dâng. 2Ngài đáp: “Các ngươi tưởng những người Ga-li-lê đó phạm tội nặng hơn tất cả người Ga-li-lê khác vì họ bị đau khổ như thế sao? 3Ta bảo các ngươi, không phải; nhưng nếu các ngươi chẳng ăn năn thì tất cả sẽ bị hư mất như vậy. 4Hay là mười tám người kia bị tháp Si-lô-ê ngã xuống đè chết, các ngươi tưởng họ tội lỗi hơn mọi người khác cư ngụ ở thành Giê-ru-sa-lem sao? 5Ta bảo các ngươi, không phải; nhưng nếu các ngươi chẳng ăn năn thì tất cả sẽ bị hư mất như vậy.” (Lu-ca 13:1-5 – BHĐ)
Ngàn năm sau thời bà Rít-ba, KT cũng viết về một người mẹ khác đứng dưới chân thập giá nhìn thấy con mình chết dần mòn, đau đớn, nhục nhả giữa 2 tên trộm cướp. Người mẹ đó là bà Ma-ri và nạn nhân trên thập giá là ĐCJC. Chính bởi sự hy sinh của bà Ma-ri, Đấng Cứu Rỗi được cưu mang và ra đời. Chính sự hy sinh của ĐCJC, chúng ta được cứu. Không một tình yêu thương thay đổi đời sống nào trong đời lại không đòi hỏi sự hy sinh cả.
Người tin Chúa, người mẹ yêu mến Chúa cũng không miễn nhiễm khỏi những hoạn nạn, mất mát trong đời. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian. Nhưng lời Chúa hứa là trong hoạn nạn, giữa thảm cảnh nếu chúng ta tiếp tục nắm chặt lấy Chúa, tiếp tục nắm chặt vào lời Chúa hứa, Chúa sẽ giúp vượt qua: Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:33).
Tôi xin kết thúc với một bài viết rất cảm động trích từ một tác phẩm của người Ý tên Edmond de Amicis được học giả Hà Mai Anh dịch thuật Tâm Hồn Cao Thượng, Hà Mai Anh. Bài viết có tựa là Mẹ Tôi. Thể viết là thơ của một người cha gởi cho con mình:
Sáng nay cô giáo Đencati lại chơi, cha tôi nhận thấy tôi đã nói một câu vô lễ với mẹ tôi. Vì thế cha tôi răn tôi bằng lá thơ sau này, đọc rất cảm động.
" Trước mặt cô giáo của em con, con đã tỏ ra vô lễ với mẹ con. Enricô ơi ! Lần sau không được thế nữa ! Thái độ hỗn hào của con đã xuyên thấu trái tim cha như một mũi dao. Cha còn nhớ mấy năm trước đây, mẹ con đã thức suốt đêm ở cạnh giường con, nghe hơi con thở, mẹ con đã lo lắng võ người và mỗi khi nghĩ đến nỗi phải "bỏ" con thì lại sụt sùi. Con ơi ! Con nên nghĩ đến những lúc ấy và không nên tệ với mẹ con, một người mẹ sẽ sẵn lòng đem một năm hạnh phúc của mình để chuộc một giờ đau đớn cho con, một người mẹ sẽ vui lòng đi ăn xin để nuôi con và sẵn lòng hy sinh tính mệnh để cứu con sống ! Con ơi ! Trong đời con, con sẽ có những ngày buồn rầu, thảm đạm, nhưng cái ngày buồn thảm nhất, chính là ngày con mất mẹ con.
Rồi đây, con sẽ trưởng thành, những cuộc phấn đấu sẽ rèn con nên người mạnh mẽ. Con sẽ không bao giờ quên được hình ảnh mẹ con và con sẽ ước gì lại được nghe thấy tiếng êm ái và trông thấy nét mặt hiền từ của mẹ con, ví dù lớn đến mực nào, khoẻ đến mực nào, con vẫn thấy là một đứa trẻ chơ vơ và yếu đuối. Con sẽ hồi tưởng lại những lúc đã làm cho mẹ con phải mếch lòng mà con buồn. Lòng hối hận sẽ cắn rứt con. Hình ảnh dịu dàng và từ ái của mẹ con sẽ làm cho con thêm rầu rĩ. Con nên nhớ rằng lòng hiếu thảo là một bổn phận thiêng liêng của con người. Kẻ nào giày xéo lên chữ hiếu là kẻ khốn nạn. Quân giết người nếu biết tôn kính cha mẹ, cũng còn một điểm thành thực trong tâm ; con người dù sang trọng tuyệt vời, nếu làm rầu lòng mẹ, xúc phạm đến mẹ, cũng là kẻ không có nhân cách.
Enricô ơi ! Con van mẹ con đi, để mẹ con hôn con cho cái hôn ấy xoá sách vết vô ơn ở trên trán con. Con ơi ! Lòng cha vẫn yêu con, vì con là mối hy vọng quý báu nhất đời của cha, nhưng cha thà không con còn hơn là có đứa con ở bạc với mẹ !"
Cha con.
