Thử Thách và Cám Dỗ
12Phước cho người chịu đựng sự thử thách; vì khi đã chịu nổi sự thử nghiệm, họ sẽ nhận mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho những người yêu mến Ngài. 13Đang lúc bị cám dỗ đừng ai nói: “Tôi bị Đức Chúa Trời cám dỗ”; vì Đức Chúa Trời không thể nào bị điều ác cám dỗ, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai. 14Nhưng mỗi người bị cám dỗ bởi chính dục vọng mình lôi cuốn và quyến dụ. 15Rồi khi dục vọng đã cưu mang thì sinh ra tội lỗi; tội lỗi đã trưởng thành thì sinh ra sự chết. (Gia-cơ 1:12-15)
12Phước cho người chịu đựng sự thử thách; vì khi đã chịu nổi sự thử nghiệm, họ sẽ nhận mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho những người yêu mến Ngài. (BHĐ)
2Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài. (BTT)
KHÁC BIỆT GIỮA THỬ THÁCH VÀ CÁM DỖ
Mục đích bài giảng nhằm giúp tín đồ, ngay cả những người chưa tin Chúa, hiểu rõ và có thể phân biệt sự khác nhau và mục đích của thử thách và cám dỗ. Thư Gia-cơ và KT phân biệt rõ giữa 2 từ này. Vì hiểu lầm nên tín đồ thường trách móc, nghi ngờ tình yêu thương, sự thành tín của ĐCT khi gặp những khó khăn, hoạn nạn, mất mát, đau khổ trong đời sống. Trái lại, khi hiểu rõ chúng ta mới có thể biết điều gì đến từ ĐCT, điều gì đến từ ma quỉ và có thái độ, phản ứng, lời cầu nguyện thích hợp.
Một lý do của sự lẫn lộn, khó khăn phân biết giữa thử thách và cám dỗ khi đọc Gia-cơ, KTTU là vì cả 2 từ này đều có chung một gốc từ peirasmos. Câu 2: cả 6 bản dịch VN đều dịch là thử thách (BHĐ, BDM, BD2011) nhưng câu 12 thì 3 bản dịch là thử thách, 3 bản lại dịch là cám dô (BTT, BPT, BDY).
Thử thách: Chúa dùng để tôi luyện con dân Ngài, vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sinh ra kiên nhẫn. Nhưng sự kiên nhẫn phải phát huy hết hiệu lực của nó, để chính anh em được trưởng thành, hoàn hảo, không thiếu sót điều gì. (Gia-cơ 1:3-4). ĐCT dùng thử thách để giúp cho đức tin được tăng trưởng, ngày càng mạnh mẽ hơn, để mài dủa phẩm tính hầu sinh trái TL, thay đổi đời sống, ngày càng giống ĐCT…
Cám dỗ: Đến từ ma quỉ, thế gian, xác thịt với mục đích làm cho con người phạm tội cùng Đức Chúa Trời để phá hủy đức tin, quan hệ với Chúa, và tàn phá thể xác, tâm linh người bị cám dỗ. Nhưng mỗi người bị cám dỗ bởi chính dục vọng mình lôi cuốn và quyến dụ. (1:14) Nếu một ý nghĩ, dự tính, hành động, thái độ, hoàn cảnh trái với lời KT dạy, trái với 10 điều răn, đó là cám dỗ. [Vài ví dụ: đam mê sắc đẹp, dục vọng; cờ bạc, muốn lấy của người…]
Cũng như tất cả sống trong đời sẽ chịu thử thách (hoạn nạn, mất mát) thì tất cả mọi người, dù là người tin hay không tin Chúa, đều bị cám dỗ (nghe lời bạn xấu, theo dục vọng xác thịt, theo tà giáo). Đây là hai kinh nghiệm mọi người đều có và đều có thể làm chứng lại. Khác biệt là thái độ và phản ứng và cả lời cầu nguyện, đọc học KT khi bị thử thách, cám dỗ!
Nếu biết là thử thách, chúng ta cảm tạ Chúa và cầu xin ĐTL ban sức mới để có thể đứng vững, không trách móc ĐCT, đổ lôi cho người, cho hoàn cảnh. Nếu là thử thách, chúng ta tra xem KT có trường hợp nào tương tự và xem nhân vật trong KT phản ứng, hành động thế nào để đứng vững, tin cậy Chúa hơn.
Trái lại nếu biết là cám dỗ, chúng ta xin Chúa cho thêm nghị lực, đức tin, xin Chúa dùng lời KT để giúp vượt qua, xin Chúa dùng các bạn hữu, những người trưởng thành để giúp. Và tra xem KT có trường hợp nào tương tự và xem nhân vật trong KT phản ứng, hành động thế nào dẫn đến sự sa ngã, phạm tội.
Hiểu rõ và phân biệt 2 điều này không phải chỉ để thêm kiến thức, hay chỉ là vấn đề trừu tượng, sách vở, lý thuyết. Trái lại rất quan trọng và thực tế. Trong bài giảng tôi sẽ dẫn chứng qua nhiều câu chuyện trong KT để làm rõ điều này.
Gia-cơ đã viết trong 1:2-4 rằng người chịu đựng những thử thách sẽ được phước. Những thử thách đó, chúng ta học được là những hoàn cảnh bên ngoài thử thách đức tin của chúng ta và tạo ra sự tăng trưởng thuộc linh. Nhưng những thử thách đó cũng có thể trở thành cám dỗ. Và thay vì là một phương tiện để phát triển tâm linh, ma quỉ dùng thử thách để cám dỗ dân Chúa khiến phạm tội.
Khi mọi điều khó khăn đến với cuộc sống, qv phải xem điều này có giúp củng cố đức tin, giúp vâng lời Chúa và luôn tin tưởng vào sự chăm sóc của Ngài và tin tưởng vào quyền năng của Ngài và vì vậy tôi lớn lên hay không. Đó là thử thách. Nhưng nếu bởi dục vọng, lòng tham lam, tính ích kỷ, hay mọi lý do trái với trái TL (yêu thương, vui mừng, bình an…), nếu để gạ gẫm làm điều ác, để càng nghi ngờ ĐCT, chối bỏ lời Ngài, không vâng lời, không làm theo những điều Chúa dạy và do đó, tôi đã rơi vào sự cám dỗ của ma quỉ, của xác thịt mình. Cùng một từ có nghĩa là một sự cám dỗ đến điều ác cũng được sử dụng để nói về một thử thách. Sự khác biệt là cách qv phản ứng với nó.
Nếu đáp ứng thử thách bằng sự vâng lời, thì qv sẽ tăng trưởng thuộc linh. Nếu qv phản ứng với một thử thách bằng sự bất tuân, thì sẽ biến thành một cám dỗ và qv đã trở thành con mồi của nó. Mỗi thử thách đều có khả năng trở thành một cám dỗ tùy thuộc vào phản ứng của chúng ta. Vì vậy, Gia-cơ nhắc dạy sự thay đổi từ những thử thách, dẫn đến sự tăng trưởng và phước lành đến những cám dỗ, cho đến tội lỗi và sự chết. Mọi hoàn cảnh của cuộc sống chúng ta phải đối mặt đều đòi hỏi và cuối cùng dẫn đến một quyết định. Tôi sẽ đứng vững hay không? Tôi sẽ tiến bước trong đức tin vào Đức Chúa Trời bằng cách vâng lời Ngài hay tôi sẽ lắng nghe tiếng nói gợi ý lối thoát dễ dàng là không vâng lời và sa vào tội lỗi.
Vậy theo lời dạy trong thư Gia-cơ thì thử thách đến từ ĐCT với mục đích giúp con dân Ngài tăng trưởng đức tin. Chúa dùng để tôi luyện con dân Ngài: sự thử thách đức tin anh em sinh ra kiên nhẫn. 4Nhưng sự kiên nhẫn phải phát huy hết hiệu lực của nó, để chính anh em được trưởng thành, hoàn hảo, không thiếu sót điều gì (1:3-4). Nhưng cám dỗ đến từ ma quỉ, thế gian, xác thịt nhằm xui khiến con người phạm tội với ĐCT để ngăn cách chúng ta với Chúa, làm mất đi quan hệ mật thiết, gần gũi với ĐCT và nhằm để tàn phá đời sống thể xác lẫn đức tin. Nhưng mỗi người bị cám dỗ bởi chính dục vọng mình lôi cuốn và quyến dụ.
Chính vì lý do này, câu 13 phần đầu từ cám dỗ cũng có thể dịch là thử thách tùy theo hoàn cảnh, môi trường, thái độ: Đang lúc bị cám dỗ [thử thách] đừng ai nói: “Tôi bị Đức Chúa Trời cám dỗ”; vì Đức Chúa Trời không thể nào bị điều ác cám dỗ, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai. 14 Nhưng mỗi người bị cám dỗ bởi chính dục vọng mình lôi cuốn và quyến dụ. 15 Rồi khi dục vọng đã cưu mang thì sinh ra tội lỗi; tội lỗi đã trưởng thành thì sinh ra sự chết. - Gia-cơ 1:13-15.
Hoạn nạn, khó khăn, mất mát (thử thách) đem đến sự trưởng thành đức tin, quan hệ gắn bó mật thiết với Chúa. Chúa cũng hứa sẽ ban mão triều thiên cho người đứng vững trước thử thách. Nhưng thử thách cũng có thể đem đến những hậu quả nguy hại, tội lỗi nếu đối phó với thái độ sai lầm, như Gia-cơ nhắc trong câu 13: đỗ lỗi cho ĐCT rằng chính Chúa đã cám dỗ để phạm tội.
CHÚA THỬ DÂN NGÀI HAY DÂN NGÀI THỬ CHÚA?
Thử thách đầu tiên với A-đam & E-va trong vườn Ê-đen: Giữa vườn có cây sự sống và cây biết điều thiện, điều ác… 16Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền phán với con người rằng: “Con được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn, 17nhưng về trái của cây biết điều thiện và điều ác thì con không được ăn, vì ngày nào con ăn trái cây đó, chắc chắn con sẽ chết.” (STK 2:9, 16-17).
Thử thách: không được ăn trái cây biết thiện & ác. Tại sao ĐCT lại thử thách A-đam & E-va? Để biết họ có vâng phục lời Chúa căn dặn.
Cám dỗ: con rắn. ... rắn là loài quỷ quyệt hơn cả. Rắn nói với người nữ: “Có thật Đức Chúa Trời đã dặn các người không được ăn trái các cây trong vườn sao?... 4 Con rắn nói với người nữ: “Các người chắc chắn không chết đâu! 5 Vì Đức Chúa Trời biết rằng khi nào các người ăn trái cây đó thì mắt mở ra, và các người sẽ giống Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.” - STK 3:1, 4-5
14 Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình. 15 Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết. - Gia-cơ 1:14-15
Ca-in & A-bên: Sau một thời gian, Ca-in dùng thổ sản làm lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va. 4Còn A-bên dâng phần ngon nhất của chiên đầu lòng trong bầy mình. Đức Giê-hô-va đoái đến A-bên và lễ vật của ông, 5nhưng Ngài không đoái đến Ca-in và lễ vật của ông.
Cám dỗ: Vì thế, Ca-in giận lắm và sa sầm nét mặt. Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in: “Tại sao con giận? Sao con sa sầm nét mặt? 7Nếu con làm điều tốt thì lẽ nào con không được chấp nhận? Còn nếu con không làm điều tốt thì tội lỗi rình rập trước cửa, nó thèm con lắm; nhưng con phải quản trị nó.” (STK 4:3-7)
Nô-e – thử thách đức tin trong hàng 100 năm khi đóng tàu trước sự chế diễu, nhạo báng của dân sự. Cám dỗ? Vì lời của dân sự mà bỏ cuộc. Trong thế hệ mình, Nô-ê là một người công chính và trọn vẹn; ông cùng đi với Đức Chúa Trời... 22 Nô ê làm mọi điều đúng như lời Đức Chúa Trời đã truyền phán - STK 6:9, 22
Sau đại lụt, ĐCT ban phước và lập giao ước với Nô-e và hậu tự.
Nhưng sau cơn đại hồng thủy lại sa ngã vì rượu chè say sưa: Nô-ê làm nghề nông. Ông là người đầu tiên trồng nho. 21Ông uống rượu say mèm, rồi cởi áo quần nằm giữa trại mình. (9:20-21)
Áp-ra-ham dâng Y-sắc. Khi Y-sắc hỏi
KTCU dạy rõ ĐCT thử thách dân sự Ngài. Để biết rõ họ có vâng phục lời dạy, mạng lệnh ĐCT hay không. Để biết rõ tấm lòng dân sự.
Hãy nhớ lại suốt chặng đường trong hoang mạc mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dẫn anh em đi trong bốn mươi năm nay, Ngài hạ anh em xuống và thử thách anh em để biết rõ lòng anh em thế nào, có tuân giữ điều răn của Ngài hay không. 3Ngài hạ anh em xuống, khiến anh em gặp cảnh đói khổ rồi cho anh em ăn ma-na mà anh em và tổ phụ anh em chưa từng biết, để dạy anh em biết rằng loài người sống không chỉ nhờ bánh, nhưng nhờ mọi lời phán từ miệng Đức Giê-hô-va.
Tình yêu thương và ân điển của ĐCT bày tỏ đối với dân sự Y trong 40 năm nơi đồng vắng.
Dân sự bị làm nô lệ trong xứ Ai-cập trong 300 năm. Đời sống khốn khổ trăm bề, phải làm nô lệ cho người Ai-cập. ĐCT sai Mô-se đến giải cứu họ. Nhưng rồi họ lại trách móc, đổ lỗi cho Mô-se, A-rôn, và cả ĐCT khi trải qua những thử thách trong đồng vắng. Ít nhất 13 lần dân sự trách móc, đổ lỗi cho Mô-se, A-rôn, và cả ĐCT tại nhiều địa điểm, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Tại Biển Đỏ:
Họ nói với Môi-se: “Ở Ai Cập không đủ mồ chôn hay sao mà ông đem chúng tôi vào chết trong hoang mạc nầy? Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập để làm gì chứ? 12 Chẳng phải chúng tôi đã nói với ông tại Ai Cập rằng: ‘Mặc kệ chúng tôi, cứ để chúng tôi phục dịch dân Ai Cập’ đó sao? - Xuất 14:11-12
Tại Ma-ra:
Khi đến đất Ma-ra, vì nước ở Ma-ra đắng nên họ không thể uống được; do đó nơi nầy có tên là Ma-ra. 24 Dân chúng phàn nàn với Môi-se rằng: “Chúng tôi sẽ lấy gì mà uống đây?” 25 Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va. 26 Ngài phán: “Nếu các con chăm chú nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, làm điều ngay thẳng trước mặt Ta, lắng tai nghe các điều răn và gìn giữ mọi luật lệ Ta thì... Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bệnh cho các con.” - Xuất 15:25-26
Hoang mạc Sin – ĐCT không quở phạt, còn lại ban cho mana và chim cút
2 Trong hoang mạc, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên oán trách Môi-se và A-rôn. 3 Dân Y-sơ-ra-ên nói với hai ông: “Ước gì chúng tôi chết bởi tay Đức Giê-hô-va trong đất Ai Cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh no nê! Nhưng hai ông lại dẫn chúng tôi vào trong hoang mạc nầy để cả đoàn dân phải chết đói.”Xuất 16:2-3
Tại Rê-phê-đim (Xuất 17:1-7) – Không nước, nước từ hòn đá Hô-rếp. Chúa không khiển trách, hay phán xử
Ở đây [Rê-phê-đim] không có nước cho dân chúng uống. 2 Dân chúng gây chuyện với Môi-se rồi nói: “Hãy cho chúng tôi nước uống.” Môi-se đáp rằng: “Tại sao anh em gây chuyện với tôi? Tại sao anh em dám thử Đức Giê-hô-va?” 3 Nhưng ở đó dân chúng khát nước và họ oán trách Môi-se: “Tại sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập rồi để cho chúng tôi, con cái và đàn súc vật của chúng tôi phải chịu chết khát thế nầy?” 4 Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va: “Con phải làm gì với dân nầy? Thiếu điều họ ném đá con!”
5Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đi trước dân chúng, dẫn theo một số trưởng lão Y-sơ-ra-ên và cầm trong tay cây gậy mà con đã đập dưới sông, rồi đi. 6Nầy, Ta sẽ đứng trước mặt con, trên tảng đá tại Hô-rếp kia. Con hãy đập tảng đá thì nước từ đó sẽ chảy ra cho dân chúng uống.” Môi-se làm như vậy trước mặt các trưởng lão Y-sơ-ra-ên. 7Môi-se đặt tên nơi nầy là Ma-sa và Mê-ri-ba, vì dân Y-sơ-ra-ên đã gây chuyện với ông và dám thử Đức Giê-hô-va khi nói: “Đức Giê-hô-va có ở giữa chúng ta không?”
Tại núi Si-nai khi Mô-se nhận 10 điều răn. Đây là lần thứ 5! ĐCT nổi giận, muốn phạt nhưng Mô-se xin Chúa tha thứ cho dân. Mô-se nổi giận và phạt dân sự khi lập con bò vàng để thờ phương. Chú ý lời của A-rôn
Dân chúng nói rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên! nầy là các thần của ngươi đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô. 5 A-rôn thấy vậy, bèn lập một bàn thờ trước mặt tượng bò đó; đoạn, người la lên rằng: Sáng mai sẽ có lễ tôn trọng Đức Giê-hô-va! 6 Sáng mai dân chúng bèn thức dậy sớm, dâng các của lễ thiêu và lễ thù ân; ngồi mà ăn uống, đoạn đứng dậy mà vui chơi. (Xuất 32:4-5) Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng: Ta đã xem thấy dân nầy, kìa là một dân cứng cổ. 10 Vả, bây giờ hãy để mặc ta làm, hầu cho cơn thạnh nộ ta nổi lên cùng chúng nó, diệt chúng nó đi; nhưng ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn.
11 Môi-se bèn nài xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời người rằng: Lạy Đức Giê-hô-va, sao nổi thạnh nộ cùng dân Ngài? là dân mà Ngài đã dùng quyền lớn lao mạnh mẽ đưa ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Cầu xin Chúa hãy nguôi cơn giận và bỏ qua điều tai họa mà Ngài muốn giáng cho dân Ngài. (32:9-12)
Tại Tha-bê-ra. Dân chúng phàn nàn vì chán ma-na và thịt. Họ thèm và đòi có thức ăn như khi còn ở Ai-cập.
1 Bây giờ, dân chúng phàn nàn và điều đó khiến Đức Giê-hô-va không hài lòng. Đức Giê-hô-va nghe và cơn thịnh nộ Ngài nổi lên. Lửa của Đức Giê-hô-va bùng cháy trong dân chúng và thiêu hủy phần đầu của trại quân. 2 Dân chúng kêu cứu Môi-se. Môi-se cầu nguyện với Đức Giê-hô-va thì lửa dừng lại. 3Người ta đặt tên chỗ nầy là Tha-bê-ra vì lửa của Đức Giê-hô-va đã cháy giữa dân chúng.
4Bọn dân tạp trong dân Y-sơ-ra-ên thèm muốn thức ăn đến nỗi dân Y-sơ-ra-ên lại than khóc rằng: “Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt? 5Chúng tôi nhớ cá mà chúng tôi ăn không phải trả tiền tại Ai Cập cùng với dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành và tỏi. 6Bây giờ thể xác chúng tôi hao mòn, không có gì ăn hết, chỉ thấy ma-na mà thôi.”- Dân Số Ký 11:1-2
Sau khi 12 thám tử trở về từ xứ Ca-na-an. ĐCT phạt dân sự: 40 năm trong đồng vắng; thế hệ trách móc sẽ chết đi, chỉ có thế hệ mới mới vào đất hứa.
1 Cả hội chúng cất tiếng la lớn; dân chúng khóc than trong đêm đó, 2 Tất cả dân Y-sơ-ra-ên phàn nàn với Môi-se và A-rôn; cả hội chúng nói với hai ông: “Phải chi chúng tôi chết trong đất Ai Cập hay chết trong hoang mạc nầy cho rồi! 3 Tại sao Đức Giê-hô-va dẫn chúng tôi vào đất nầy để ngã chết bởi gươm? Vợ con chúng tôi sẽ bị giặc bắt đi. Chúng tôi quay trở lại Ai Cập không tốt hơn sao?” 4 Rồi họ nói với nhau: “Chúng ta hãy lập một người lãnh đạo và trở về Ai Cập.” - Dân Số Ký 16:1-4
Vẫn còn các lần khác thử Chúa trong 40 năm đi trong đồng vắng!
Thời kỳ các quan xét – khoảng 300 năm. 12 quan xét. Sau 40 năm Sau-lơ, Đa-vít thống nhất đất nước và cai trị 40 năm. Sô-lô-môn – thời kỳ vàng son 40 năm. Tổng cộng 120 năm.
Sau đó Ỵ chia cắt làm 2 nước vào khoảng năm 931 BC. ĐCT cho Y-sơ-ra-ên (miền Bắc thất thủ năm 722 BC) ~210 năm để ăn năn, thay đổi. Cho Giu-đa 345 năm (thất thủ năm 587 BC). Nhưng vân có lời hứa 70 năm sau dân sẽ trở về để xây lại đền thờ và thành
Vậy đó con cháu, hậu tự của thế hệ trách móc, đổ lỗi cho Mô-se, A-rôn và ĐCT dù đã được vào đấng hứa vẫn tiếp tục như tổ phụ ngày xưa. Dân sự tiếp tục đổ lỗi cho ĐCT vì tội của họ! 17 Lạy Đức Giê-hô-va, sao để chúng con lầm lạc khỏi đường Ngài? Sao để lòng chúng con cứng cỏi đến nỗi chẳng kính sợ Ngài? - Ê-sai 63:17
Sự ngu dại của một người phá hỏng đường lối người, Và lòng người lại oán trách Đức Giê-hô-va.
(Châm Ngôn 19:3)
Mãi cho đến tiên tri cuối cùng là Ma-la-chi (430 BC) tức thêm 160 năm. 400 năm yên lặng. ĐCJC giáng sinh. Năm 70 đền thờ và thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, dân sự tản lạt khắp các xứ.
Năm 1948 ĐCT đem dân Ngài về lại vùng đất hứa, tức 1878 năm sau đó.
Chúa ban cho: KINH THÁNH + ĐTL + Hội thánh hôm nay. Chúng ta có thể tin tưởng ĐCT hay không? Có thể tin lời Gia-cơ dạy hay không?
2Thưa anh em của tôi, hãy xem sự thử thách trăm chiều xảy đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn, 3vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sinh ra kiên nhẫn. 4Nhưng sự kiên nhẫn phải phát huy hết hiệu lực của nó, để chính anh em được trưởng thành, hoàn hảo, không thiếu sót điều gì. (1:2-4)
Tất cả chúng ta đều bị cám dỗ. Tất cả chúng ta đều sẽ phạm tội và thường chúng ta sẽ đổ lỗi cho Đức Chúa Trời bằng cách đổ lỗi cho hoàn cảnh của chúng ta, đổ lỗi cho sự yếu đuối của chúng ta, đổ lỗi cho khuynh hướng của chúng ta, đổ lỗi cho môi trường xung quanh, đổ lỗi cho bạn bè của chúng ta, đổ lỗi cho người thân, đổ lỗi cho gia đình của chúng ta, đổ lỗi cho điều kiện kinh tế của chúng ta hoặc bất cứ điều gì. Và vì vậy câu 13, Gia-cơ nói, đừng để ai nói khi họ bị cám dỗ tôi bị Đức Chúa Trời cám dỗ. Đó là một lời khuyên cấm bất cứ ai đổ lỗi cho Đức Chúa Trời. Chớ có ai đương bị cám dỗ mà nói rằng: Ấy là Đức Chúa Trời cám dỗ tôi; vì Đức Chúa Trời chẳng bị sự ác nào cám dỗ được, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai. (Gia-cơ 1:13)
Dĩ nhiên câu trả lời là của chính chúng ta. Tuy nhiên thực tế thì đối với người đời, khi phạm tội sau khi bị cám dỗ, thường thì họ sẽ đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho ai đó, ngoại trừ chính mình. Các em nhỏ (4-5 tuổi) thường tránh không nhận lỗi: con không có lấy đồ chơi của bạn! Chắc qv cũng biết nhiều người sa ngã, phạm tội khi bị cám dỗ thì đổi họ, đổi thừa cho hoàn cảnh, cho cha mẹ, cho hội thánh, cho trường học, cho xã hội.
[Quan điểm mới của các quan tòa: thả ra hay giảm án rất nhiều vì cho rằng tội phạm là do sự kỳ thị chủng tộc, vì hoàn cảnh xã hội. Bài diên văn của ứng viên thị trưởng thành phố NY buoc tội dân chúng, thành phố kỳ thị những người hồi giáo: nạn nhân thật của 9/11 là dì của ông vì không dám đi xe điện khi mặc áo trùm đầu! Họ đổ lỗi cho dân chúng, xã hội, quốc gia này là kỳ thị người hồi giáo khi biến cố 9/11 khiến 3000 người thiệt mạng gây ra bởi bọn khủng bố hồi giáo cực đoan!]
3Sự ngu dại của một người phá hỏng đường lối người, Và lòng người lại oán trách Đức Giê-hô-va. (CN 19:3)
Trốn tránh trách nhiệm về tội lỗi là một trò tiêu khiển yêu thích của con người. Khi nào qv đổ lỗi cho bất kỳ các điều gì khác tức là qv nói rằng Đức Chúa Trời phải chịu trách nhiệm vì Ngài là Đấng đã tạo ra mọi thứ. Một số người thậm chí còn đi xa đến mức nói rằng Đức Chúa Trời phải chịu trách nhiệm trong sự cám dỗ. Những người đó (ngay cả tín đồ) dùng Ma-thi-ơ 6:13 để làm cớ biện hộ: Xin đừng để chúng con bị cám dỗ (sa vào vòng cám dỗ). Theo lời dạy này thì chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời để không dẫn dắt chúng ta vào cám dỗ bởi vì nếu chúng ta không cầu xin điều này (đừng để bị cám dỗ) thì Chúa sẽ để chúng ta vào vòng cám dỗ. Đây là giải thích hết sức sai lầm và nguy hiểm.
2Hãy nhớ lại suốt chặng đường trong hoang mạc mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dẫn anh em đi trong bốn mươi năm nay, Ngài hạ anh em xuống và thử thách anh em để biết rõ lòng anh em thế nào, có tuân giữ điều răn của Ngài hay không. 3Ngài hạ anh em xuống, khiến anh em gặp cảnh đói khổ rồi cho anh em ăn ma-na mà anh em và tổ phụ anh em chưa từng biết, để dạy anh em biết rằng loài người sống không chỉ nhờ bánh, nhưng nhờ mọi lời phán từ miệng Đức Giê-hô-va. (PT 8:2-3)
#
Location/Event
Reference
Blamed
Complaint Type
1
Red Sea
Ex 14:10–12
Moses
Fear of death
2
Marah
Ex 15:22–24
Moses
Bitter water
3
Desert of Sin
Ex 16:2–3
Moses, Aaron
No food
4
Rephidim
Ex 17:1–7
Moses, God
No water
5
Golden Calf
Ex 32:1
Moses
Impatience/idolatry
6
Taberah
Num 11:1–3
God
General hardship
7
Kibroth Hattaavah
Num 11:4–6
Moses
Craving for meat
8
Kadesh (Spies)
Num 14:1–4
Moses, Aaron, God
Fear/unbelief
9
Korah’s rebellion
Num 16:1–3
Moses, Aaron
Leadership challenge
10
After Korah’s death
Num 16:41
Moses, Aaron
“You killed God’s people”
11
Kadesh (Meribah)
Num 20:2–5
Moses, Aaron
No water again
12
Mount Hor
Num 21:4–5
God, Moses
No food, no water
13
Dathan & Abiram
Num 16:12–14
Moses
Failed leadership
