Tài Sản Quí Báu Của Đức Chúa Trời
Hôm nay là ngày HT toàn quốc biệt riêng để tỏ lòng tri ân với người hầu việc ĐCT. Tôi muốn dùng cơ hội này để chia sẻ với HT về một đoạn KT hết sức quí giá, khích lệ cho người yêu mến, hầu việc Chúa theo Ma-la-chi 3:13-17. Tôi xin được đọc lời Chúa. Hai phần trong bài giảng này: 1) Lời trái nghịch cùng Chúa; 2) Tài sản quí báu của Chúa
LỜI TRÁI NGHỊCH CÙNG CHÚA
Vì thời gian nên tôi chỉ giới thiệu sơ qua về bối cảnh của đoạn KT này. Trong những tuần tới khi bắt đầu loạt bài giảng trong sách Ma-la-chi, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về bối cảnh của quyển sách cuối cùng này của KTCU.
Ma-la-chi theo tiếng Hebrews có nghĩa là sứ giả của ta hay thiên sứ của ta. Câu 3:1 trong bản dịch cũ dùng hai từ khác nhau: Nầy, ta sai sứ giả ta, người sẽ dọn đường trước mặt ta; và Chúa mà các ngươi tìm kiếm sẽ thình lình vào trong đền thờ Ngài, tức là thiên sứ của sự giao ước mà các ngươi trông mong. Hai từ sứ giả ta và thiên sứ đều cùng một từ là mal’ak. Vì thiên sứ cũng chỉ là sứ giả của ĐCT cho loài người. Đây là sách cuối cùng của CU. Sau sách này là một khoảng thời gian 400 năm ĐCT như hoàn toàn im lặng: không một tiên tri nào được sai đến, không sách mới nào được khải thị để viết ra. Và sau 400 năm dài im lặng này thì sự sáng lớn đến với thế gian, tức ĐCJC.
Vậy như trong câu chuyện về Nô-e, nếu cơn lụt lớn kết thúc một giai đoạn đen tối của loài người khi tội lỗi lan tràn cả thế gian thì sách Ma-la-chi cũng viết về một thời kỳ đen tối của dân tuyển Chúa. Và cũng như sự cứu chuộc của ĐCT với Nô-e và gia đình ông sau cơn lụt lớn tiêu diệt mọi người trên đất đem lại hy vọng mới, thì sự giáng sinh và cứu chuộc của ĐCJC đem lại hy vọng bao nhiêu lần hơn cho loài người sống trong vòng tội lỗi.
Ma-la-chi viết về một thời điểm đen tối của dân tuyển Chúa Y-sơ-ra-ên: mùa màng thất bại, kinh tế suy sụp; dân Chúa xem thường hôn nhân, lấy dân ngoại, bội bạc, bạo hành, ly dị vợ; cả dân sự và hàng thầy tế lễ khinh khi danh Chúa; họ khinh thường và nhạo báng việc phục vụ ĐCT là vô ích, luống công. Chúng ta sẽ trở lại những điều này cách chi tiết hơn trong những bài giảng tới.
Trong bài giảng sáng nay tôi muốn chú ý đến lời của dân sự trái nghịch cùng ĐCT trong việc phục vụ Ngài: Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi đã lấy lời ngang trái nghịch cùng ta. Nhưng các ngươi nói rằng: Chúng tôi có nói gì nghịch cùng Ngài? 14 Các ngươi có nói: Người ta hầu việc Đức Chúa Trời là vô ích; chúng ta giữ điều Ngài dạy phải giữ, và bước đi cách buồn rầu trước mặt Đức Giê-hô-va vạn quân, thì có lợi gì? (3:13-14) Dù không dám nói ra nhưng biết bao người tin Chúa, tín đồ HT ngấm ngầm trong suy nghĩ cũng có những câu hỏi này. Và có lẽ vì vậy mà không bao nhiêu người phục vụ.
Trong 3 đoạn ngắn của sách, ĐCT nêu lên 6 trọng tội cùng dân sự và thầy tế lễ. Mỗi lần Chúa nêu tội thì họ lại vấn hỏi trở lại. Qv cũng thấy điều đó trong 3:13. ĐCT nêu tội dân sự nói lời trái nghịch cùng Ngài. Họ vấn hỏi lại: Chúng tôi có nói gì nghịch cùng Ngài? Để hiểu ý của lời nói của một người qv không chỉ nghe lời họ nói, nhưng còn cả cách thức, giọng điệu. Một câu hỏi với giọng điệu khác nhau mang ý nghĩa khác nhau, có khi hoàn toàn tương phản, trái nghịch với lời nói. [Ví dụ: Nói với giọng ăn năn Lạy Chúa, Chúa đã nói con xin nhận tội, ăn năn, xin Chúa chỉ rõ cho con để không tái phạm cùng Ngài. Hay lời khen: Áo đẹp với hai giọng điệu khác nhau]
Nếu dân sự thật sự kính sợ Chúa, ăn năn tội trước Ngài thì chúng ta có thể nghĩ họ hỏi để tìm hiểu, để được giải thích rõ hơn, hỏi để thay đổi, hỏi để hiểu điều gì Chúa muốn làm, điều gì Chúa muốn thay đổi. Nhưng trong đoạn 1 của sách, tác giả cho biết dân sự và hàng tế lễ khinh thường danh Chúa: Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy cùng các ngươi, hỡi các thầy tế lễ khinh dể danh ta! Các ngươi lại nói rằng: Chúng tôi có khinh dể danh Ngài ở đâu? (1:6) Nếu đã khinh thường danh Chúa thì qv nghĩ những câu dân hỏi lại Chúa có phải với ý để tìm hiểu, ăn năn, thay đổi không? Hay hỏi chỉ để hỏi, hỏi để chất vất, hỏi với ý rằng tại sao Chúa nói điều không đúng như vậy, chúng tôi có bao giờ làm những điều này. Dám bảo ĐCT nói không đúng sự thật, hay nói dối, nói lệch lạc, xuyên tạc là một lộng ngôn lớn.
Qv nhớ trong sách Gióp khi ĐCT cuối cùng hiện đến cùng Gióp, không phải để trả lời những câu hỏi của ông nhưng để hỏi ông. Từ giữa trận gió trốt, Đức Giê-hô-va đáp cùng Gióp, mà rằng: 2 Hãy thắt lưng ngươi như kẻ dõng sĩ; Ta sẽ hỏi ngươi, ngươi sẽ chỉ dạy cho ta! 3 Ngươi há có ý phế lý đoán ta sao? Có muốn định tội cho ta đặng xưng mình là công bình ư? (Gióp 40:1-3) Gióp, một người Chúa gọi là người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ ĐCT, hoàn toàn im lặng trước những câu hỏi của ĐCT.
Nhưng dân sự này không như vậy: Chúa hỏi, họ hỏi lại Ngài. Phải chăng họ muốn định tội ĐCT đặng xưng mình là công bình? Đây cũng là một bài học lớn và quan trọng cho chúng ta. Khi đọc KT là lời của ĐCT chúng ta nên im lặng và nhận lấy trong sự vâng phục. Nói như vậy không có nghĩa là qv không có câu hỏi, nhưng để nói lên lòng kính sợ, kỉnh kiền với ĐCT và lời Ngài. Trước khi qv hỏi tại sao Chúa lại nói thế này, thế khác trong KT thì xin nên nhớ rõ mình là ai, ĐCT là ai. Kẻo sẽ phạm tội như dân sự trong Ma-la-chi đã phạm tội cùng Ngài.
ĐCJC đã dạy các môn đồ: Vì thế, những lời các con nói trong tối sẽ được nghe ngoài sáng; những tiếng rỉ tai trong phòng riêng sẽ được công bố trên sân thượng. (Lu-ca 12:3). Dân sự có lẽ nghĩ rằng ĐCT không biết những lời họ xì xầm, bàn bạc, than vãn với nhau về sự vô ích của việc phục vụ Chúa. ĐCT nhắc lại cho họ nghe chính những lời họ đã nói: Các ngươi có nói: Người ta hầu việc Đức Chúa Trời là vô ích; chúng ta giữ điều Ngài dạy phải giữ, và bước đi cách buồn rầu trước mặt Đức Giê-hô-va vạn quân, thì có lợi gì? 15 Rày chúng ta kể kẻ kiêu ngạo là có phước, kẻ phạm sự hung ác là tấn tới: họ đã thử Đức Chúa Trời, và đã được giải thoát! (3:14-15)
Dân sự nói gì với ĐCT? Họ nói hầu việc Đức Chúa Trời là vô ích, chẳng có ích lợi gì, tốn công sức, thời gian, tiền của. Họ nói giữ điều Ngài dạy phải giữ chẳng có ích lợi gì, những điều Chúa dạy phải giữ cỗ xưa, lạc hậu, không còn thích hợp với thời đại, con người, văn minh, xã hội hôm nay. Họ nói ăn năn, hối hận về tội, bước đi cách buồn rầu trước mặt Đức Giê-hô-va vạn quân, là vô ích. Họ nói người không tin Chúa, kẻ làm ác còn được phước ơn người vâng lời hay phục vụ Chúa. Họ nói chẳng phải thực tế đời sống chứng minh những lời này hay sao: Những người hống hách, tự phụ, tự cao, kiêu ngạo lại được phước: gia đình họ vui vẻ, hạnh phúc, làm ăn xuông sẻ, phát tài, con cái học hành đến nơi đến chốn, an cư lạc nghiệp. Họ nói chẳng phải những người ác độc vẫn sống nhăn răng, phè phởn, ung dung, sung sướng hay sao. Còn người nhạo báng, thách thức Chúa có giỏi cho xét đánh tôi đi! lại được giải cứu trong cảnh ngộ khó khăn. Trái lại người giữ lời Chúa, phục vụ Ngài lại bị khó khăn, hoạn nạn, lỗ lã, mất mát.
Nói cách khác dân sự nghĩ rằng bằng chứng của sự phục vụ, vâng lời là những phần thưởng, ơn phước của đời này: được giàu có, sung túc, bình an, khỏe mạnh, thành công. Và vì họ không thấy những ơn phước vật chất này nên sự phục vụ ĐCT là vô ích đối với họ. Họ xem sự phục vụ, vâng lời như một cách đổi chác với ĐCT: tôi làm việc Chúa, tôi vâng lời Ngài, Ngài phải ban lại ơn phước vật chất cho tôi. Đây cũng là cách suy nghĩ của bao nhiêu tín đồ HT. Đáng buồn hơn đây cũng là lời dạy của bao nhiêu mục sư về một tin lành sung túc (prosperity gospel). Một tin lành không hề đòi hỏi hy sinh, mất mát, khó khăn, chịu thua, chịu lỗ khi sống theo lời Chúa dạy, khi phục vụ Ngài.
Tôi muốn giải thích rõ một điều quan trọng: ĐCT không buộc tội chúng ta khi chúng ta có câu hỏi về sự phục vụ. Ai lại không có lần tự hỏi: hầu việc Chúa được gì? Tại sao những người không hầu việc Chúa, những người chỉ biết đến cái lợi cho bản thân, gia đình lại được phước hơn? Tại sao có những người hầu việc Chúa lại bị hoạn nạn, mất mát? Trong TT73:2-3, 12-14, tác giả bị dằn vặt bởi những câu hỏi này: Còn về phần tôi, chân tôi đã gần vấp, Xuýt chút bước tôi phải trợt. Vì khi tôi thấy sự hưng thạnh của kẻ ác, thì có lòng ganh ghét kẻ kiêu ngạo… Kìa là những kẻ ác, Chúng nó bình an vô sự luôn luôn, nên của cải chúng nó thêm lên. 13 Tôi đã làm cho lòng tôi tinh sạch, Và rửa tay tôi trong sự vô tội, việc ấy thật lấy làm luống công, 14 Vì hằng ngày tôi phải gian nan, Mỗi buổi mai tôi bị sửa phạt.
Sự khác biệt ở đây không phải là trong câu hỏi nhưng trong thái độ khi hỏi Chúa. Dân sự trong Ma-la-chi vấn hỏi ĐCT, có thể vì nghĩ rằng Chúa không biết hay hỏi để chạy tội mình. Tác giả TT hỏi bởi vì không biết, không rõ, hỏi để tìm câu trả lời: Nếu tôi nói rằng: Tôi sẽ tuyên bố như thế, Thì tôi đã phạm tội bất trung với thế hệ con dân Ngài. 16 Nhưng khi tôi suy gẫm để hiểu thấu điều ấy, Thì nó là nan đề khó giải cho tôi. 17 Cho đến khi tôi vào trong nơi thánh của Đức Chúa Trời, Thì tôi nhận ra kết cuộc của chúng. (TT73:15-17) Dân sự trong thời Ma-la-chi không hỏi để xin Chúa giải thích, nhưng họ đã kết luận rằng hầu việc ĐCT là việc vô ích, luống công!
Tôi có lời khuyên con cái Chúa trong HT: đừng mắc tội như dân sự này, đừng bao giờ trong ý nghĩ, lời nói kết luận rằng hầu việc Chúa là vô ích. ĐCT nói ai nghĩ, nói như vậy là nói nghịch cùng Ngài, là mắc tội lớn cùng Chúa.
Qv có nhớ câu chuyện ngụ ngôn ĐCJC kể cùng các môn đồ: ngụ ngôn ta-lâng trong Ma-thi-ơ 25:14-30. Vả, nước thiên đàng sẽ giống như một người kia, khi đi đường xa, gọi các đầy tớ mà giao của cải mình. (Ma-thi-ơ 25:14). Lời ĐCJC dạy rằng mọi điều chúng ta đã có, đang có, sẽ có, dù là tài sản, thông minh, sức khỏe, gia đình, đều là do ĐCT ban cho: Trời không cho thì chẳng ai lãnh được gì cả!. (Giăng 3:27 - BDM). Chúng ta có thể định nghĩa ta-lâng là mọi điều ĐCT ủy thác, ban cho trong đời, gồm 4 phương diện chính yếu sau đây:
1. Vật chất, tiền của - mọi điều cần thiết cho cuộc sống như công việc, thức ăn, nhà ở, xe cộ đi lại, tiền bạc, của cải. Ngày nay có rất nhiều thứ mà người ta cho là cần thiết mà trước đó xem là đồ xa xí.
2. Khả năng, ân tứ – có thể gọi là ân tứ nếu là những khả năng dùng cho lợi ích hội thánh, công việc Chúa. Kiến thức, khôn ngoan, khéo tay (skill) để làm việc, cống hiến cho xã hội, gia đình, hội thánh.
3. Thời gian - thời gian sống trên đời này. Có người sống vài ba mươi năm, có người đến 80, 90. Chúng ta không thể định được ngày mình sinh ra đời, thì cũng không thể định ngày sẽ qua đời, về với Chúa. Thời gian là món quà Chúa ban cho để đầu tư.
4. Cơ hội – ĐCT đặt để con dân Ngài vào những công việc, nơi chốn khác nhau để có thể tiếp xúc, nói về Chúa cho người chưa biết Tin Lành.
Và mục đích của những gì ĐCT ban cho là nhằm để làm lợi ích cho Chúa chúng ta.
TÀI SẢN QUÍ BÁU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Câu 16 cho biết bên cạnh những người nói nghịch cùng ĐCT thì cũng có những người nói những lời đẹp lòng Chúa, kính sợ, và hơn hết thật sự có ĐCT trong suy nghĩ, tấm lòng của họ. Bên cạnh những người nói nghịch cùng ĐCT rằng hầu việc Chúa là vô ích thì cũng có những kẻ yêu mến Chúa ý thức rằng được phục vụ Ngài là một ơn phước: Bấy giờ những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va nói cùng nhau, thì Đức Giê-hô-va để ý mà nghe; và một sách để ghi nhớ được chép trước mặt Ngài cho những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va và tưởng đến danh Ngài.
Người kính sợ Chúa nói với nhau về vinh dự, ơn phước khi được hầu việc Chúa. Họ nhắc cho nhau rằng được Chúa ban cho ơn phước được hầu việc Ngài, chứ không nhưng dân sự bảo nhau hầu việc ĐCT là vô ích. Họ khích lệ nhau, động viên, yên ủi nhau khi gặp khó khăn, trở ngại, khi nản lòng, khi lòng họ nao sờn vì không thấy kết quả, vì bị người chê bai, chỉ trích, chứ không nhưng dân sự bảo nhau hầu việc ĐCT là vô ích. Họ cầu nguyện cho nhau để việc họ làm đẹp lòng Chúa, để họ luôn giữ sự hiệp một, để biết học nhường nhịn, để không kiêu hảnh khi thành công, nhưng cũng không bỏ cuộc khi thất bại.
ĐCT để ý lắng nghe những lời đẹp lòng Ngài, những lời động viên nhau để phục vụ. Và tên của những người nói sẽ được ghi vào một sách để ghi nhớ. Và Chúa muốn chắc rằng khi tên của họ được ghi vào sách đó thì chính Ngài nhìn thấy, biết được trước mặt Ngài.
Sách ghi nhớ này là một trong nhiều sách được viết trong KH sẽ được mở ra trong ngày phán xét cuối cùng. Và tên của những người kính sợ, yêu mến, phục vụ Chúa sẽ được thiên sứ loan báo trước Chúa và mọi thánh đồ. Rồi họ sẽ được hưởng phước hạnh đời đời trên thiên đàng với Đấng họ yêu mến, phục vụ, tôn thờ khi còn trên thế gian này: Lúc ấy, tôi thấy một ngai lớn màu trắng và Đấng ngự trên ngai. Trước mặt Ngài, trời đất đều trốn biệt, không còn một chỗ nào cho chúng nữa. 12 Tôi cũng thấy những người chết đứng trước ngai cả lớn và nhỏ, và các sách đều mở ra. (KH 20:11-12).
Tôi muốn tên tôi trong sách ghi nhớ này của ĐCT. Còn qv thì sao? Nhưng không chỉ vậy, hãy suy nghĩ về những lời vô giá này: 17 Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Những kẻ ấy sẽ thuộc về ta, làm cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm; và ta sẽ tiếc chúng nó như một người tiếc con trai mình hầu việc mình. 18 Bấy giờ các ngươi sẽ trở lại và sẽ phân biệt giữa kẻ công bình và kẻ gian ác, giữa kẻ hầu việc Đức Chúa Trời và kẻ không hầu việc Ngài.
ĐCT gọi những người yêu mến, kính sợ, phục vụ Chúa là cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm. BDM: CHÚA Vạn Quân phán: "Chúng sẽ thuộc về Ta, là tài sản quí báu của Ta trong ngày Ta hành động. BD2011 dịch thế này: Trong ngày Ta ra tay hành động, chúng sẽ là những bửu vật của Ta. Những ai thật lòng yêu mến, thật có Chúa trong tâm hồn, ý nguyện, trong mơ ước, hy vọng của họ; những ai thật lòng, hết sức phục vụ Chúa là cơ nghiệp, tài sản quí báu, bửu vật của ĐCT. Tôi hết sức cảm động và yêu ủi khi đọc 2 câu KT này. Tên ai trong HT tại đây, trong vòng qv hiện diện sáng nay sẽ được ghi vào sách ghi nhớ trước mặt Chúa? Ai trong qv đây sẽ được Chúa nhận làm cơ nghiệp, tài sản quí báu, là bửu vật của Ngài? Qv có muốn được hai điều này hay không? Qv có tin rằng hai điều này giá trị hơn, quí báu hơn ngàn vạn lần hơn vật chất của đời này không?
Ngày hôm nay, người tốt kẻ xấu, người yêu mến Chúa thật lòng với qua sự phục vụ với kẻ yêu Chúa chỉ qua đầu môi chót lưỡi rất khó phân biệt. Nhưng trong ngày mà câu 17 gọi là ngày Chúa hành động, tức là ngày ĐCT chọn lựa, biệt riêng những báu vật của Ngài, thì mọi việc sẽ rõ. Trong ngày đó, chính mắt dân sự và hàng tế lễ là những người đã có lời nghịch cùng ĐCT, bảo rằng hầu việc Chúa là vô ích, sẽ nhận thấy sự khác biệt giữa kẻ công bình và kẻ gian ác, giữa kẻ hầu việc Đức Chúa Trời và kẻ không hầu việc Ngài. Ngày hôm nay có thể người độc ác được phước, nhưng đến ngày đó thì mới biết rõ sự cuối cùng của họ. Ngày nay có thể người tín đồ không phục vụ Chúa được sung túc, thành công nhưng đến ngày Chúa hành động, thì mới biết rõ sự khác biệt thế nào với những người phục vụ Chúa. Như PL đã viết: Vì hiện nay chúng ta chỉ thấy mập mờ qua gương, đến bấy giờ chúng ta sẽ thấy tận mặt. Bây giờ chúng ta chỉ hiểu biết một phần, đến bấy giờ chúng ta sẽ biết hoàn toàn như Chúa biết chúng ta vậy. (1 Cô-rinh-tô 13:12)
ĐCJC dạy linh hồn con người quí báu đến nỗi của cải của cả thế gian cũng không thể đổi được. Còn qv đổi gì để được có tên trong sách ghi nhớ và được làm cơ nghiệp của ĐCT?
