Tạ Ơn Gì?
Câu chuyện tôi sẽ kể cho quý vị nghe gồm có ba nhân vật, hai nam, một nữ. Họ sống cách nhau nhiều thế hệ, thời điểm, và trong ba xã hội khác nhau. Tuy nhiên cả ba đều có một điểm tương đồng, tức là một điểm giống nhau, cũng là điều Chúa dạy trong Kinh Thánh. Và chính điểm giống nhau này là điều chúng ta sẽ suy gẫm sáng nay.
Nhân vật đầu tiên có lẽ quen thuộc nhất đối với một số lớn con cái Chúa, các tín đồ biết KT. Ông sống cách đây hơn 2500 năm, sanh ra và lớn lên trong một vùng đất tại Trung Đông mà mãi đến hôm nay vẫn còn chiến tranh. Khi còn thanh thiếu niên ông là một người chăn chiên cừu cho cha. Nhưng sau đó nổi tiếng cả quốc gia, đặc biệt trong vòng các thiếu nữ, vì đã giết được một kẻ thù to lớn chỉ với một cây ná và cục gạch. Rồi không lâu, vì bị vua ghen ghét nên cậu thanh niên trẻ tuổi này phải bỏ vợ, bỏ gia đình, bỏ bè bạn thân thiết để trốn. Gần suốt 15 năm dài, người thanh niên này phải trốn vào xứ của kẻ thù, vào sa mạc khô cằn, hoang vu, trên rừng rậm, trong hang đá tối tăm ẩm thấp. Đến đây chắc quý vị đã biết nhân vật này là ai: Đa-vít. Chính ông cũng là tác giả của nhiều bài nhạc. Trong số đó chúng ta sẽ đọc một trong ít nhất 2 bài nhạc ông viết khi phải chạy trốn kẻ thù trong hang động tối tăm, thê thảm trong Thi Thiên 57 (bài kia là TT 142).
Nhân vật thứ hai cũng là một người nam. Đến ngày hôm nay ông đã thọ 93 tuổi và hiện đang sinh sống độc lập một mình dù các con ở gần đó tại Hollywood Hills, một thành phố hầu hết gồm những người giàu có dù ông không phải là người giàu có gì cho lắm. Dù đã 93 nhưng mỗi ngày ông đều làm việc ngoài trời mấy tiếng đồng hồ. Lúc nào cũng vui vẽ, nhiệt tâm, ông nói: “Bất cứ lúc nào tôi cũng có một sắc diện vui vẻ cả. Khi chúng ta có một thái độ đúng trong đời sống (good attitude), kháng thể trong người cũng sẽ nên mạnh mẽ hơn.” Tuần lễ tới một quyển sách sẽ xuất bản viết về cuộc đời của ông; sách có tựa đề “Unbroken” tạm dịch “Không thể làm cho ngã gục”.
Năm 1939 khi 22 tuổi ông tham dự Vận Động Hội Toàn Cầu (Olympic) tại thành phố Bá Linh, nước Đức. Ngay cả Hitler cũng tìm để bắt tay ông. Nhưng một tin lớn bấy giờ là ông đánh cắp một lá cờ Đức quốc xã (Nazi flag) từ một nơi được bảo vệ rất cẩn thận (đến giờ ông vẫn còn giữ lá cờ này!) Khi Đệ nhị thế chiến (World War II) xảy ra ông phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ như người thả bôm từ phi cơ. Trong một chuyến công tác từ Hawaii vào 1943 trên chiếc máy bay B-24 trong vùng Thái Bình Dương, máy bay ông bị bắn. Trong số 11 người trên chuyến bay đó chỉ có 3 người sống sót trên biển TBD. Trong 47 ngày ông cùng người phi công và người giữ súng bám vào một chiếc bè nhỏ họ làm và sống nhờ nước mưa và máu của những con chim biển đậu trên bè mà họ giết bằng tay. Đến ngày 33 người giữ súng chết vì đói và kiệt sức. Dưới biển thì cá mập lội gần chờ máu, trên không thì máy bay của Nhật bắn vào cái bè nhỏ bé với hai người lính chờ chết. Bè họ trôi 2000 miles về phía Tây cuối cùng tấp vào một hòn đảo nhỏ. Rủi thay cho họ, đảo này là căn cứ của Nhật nên họ bị bắt rồi giữ làm tù binh suốt hơn hai năm. Trong 25 tháng tại trại tù giã mang này, ông bị tra tấn, hành hạ hết sức tàn nhẫn, đặc biệt bởi một sĩ quan Nhật Bản (tên Mutsuhiro Watanabe). Ông bị tên sĩ quan này dùng dây nịch da đánh tàn nhẫn vào mặt và bắt phải làm những việc vô cùng dã man, như hít đất trên đống phân người cho đến khi kiệt sức úp mặt và toàn thân vào phân. Nhân vật này tên là Louie Zamperini.
Ông Louie sống sót và trở về với gia đình sau khi chiến tranh chấm dứt. Dù còn sống về thể xác nhưng tinh thần của ông đã bị giết trong tại thù xưa. Mỗi đêm ông đều có ác mộng về tên sĩ quan Nhật tra tấn mình. Ông dùng rượu để quên đi những cơn ác mộng đó và gần như hũy diệt hôn nhân mình. Năm 1949 khi MS Billy Graham đến thành phố Los Angeles giảng Tin Lành, vợ ông dục ông đến nghe. Ông đến, nghe, rồi tin nhận Jesus Christ là Cứu Chúa đời sống mình. Chính nhờ sự cứu rỗi này, ông bỏ rượu, hồi phục lại hôn nhân rạn nứt; nhưng hơn hết ông hồi phục lại tinh thần và tâm linh. Ông Louie tha thứ và quên đi kẻ thù đã tra tấn mình. Vào thập niên 1990 ông viết một lá thư cho người sĩ quan Nhật Bản đã tra tấn mình. Thư có những lời sau: “Chính vì hậu quả của sự tra tấn bạo tàn và liên tục của ông lúc tôi còn là tù nhân trong trại mà cuộc đời sau chiến tranh của tôi đã trở nên một cơn ác mộng… nhưng cảm tạ Đức Chúa Trời đã tìm tôi… Tôi đã dâng trọn đời sống mình cho Jêsus Christ. Tình yêu thương đã thay chỗ cho sự thù hận đối với ông.” Lá thư không bao giờ được hồi âm. Năm 2003 người sĩ quan Nhật Bản, người đã tra tấn ông Louie mất.
Nhân vật thứ ba trong câu chuyện sáng nay là một người nữ. Bà 43 tuổi, sống gần thành phố Washington DC với chồng. Cho đến năm 19 tuổi cuộc đời của bà là một giấc mơ trong các chuyện cổ tích: nhan sắc, thông minh, giỏi thể thao, học sinh điểm A từ trung học đến đại học, và có mộng sẽ là người viết sách. Một buổi tối người thiếu nữ 19 tuổi này, sinh viên năm thứ hai, học sinh điểm straight A, lái xe sau kỳ nghĩ spring break, cô cảm thấy như trúng thực. Trong hai tuần cô trở bệnh trầm trọng rồi suốt 14 năm sau đó cô mang một chứng bệnh rất hiếm có gọi là Chronic Fatigue Syndrome (CFS) tạm dịch là bệnh mệt mõi trường kỳ và phải nằm suốt trên giường. Trong 14 năm đó cô mệt mõi đến nỗi có lúc không thể tự ăn hay tự tắm rữa; lăn mình từ phía bên đây giường sang bên kia là cả một sự khó nhọc. Mãi đến hôm nay 24 năm dài sau cái đêm trở bệnh cô vẫn còn mang chứng bệnh kỳ lại, không thuốc chữa này. Có những ngày sau khi tắm xong cô phải nằm trên giường suốt ngày vì kiệt sức. Đến nay cô ở trong nhà suốt ngày đêm; cả năm cô chỉ có thể ra ngoài hai hay ba lần. Và mỗi lần ra ngoài là mỗi lần cô trở về kiệt sức. Thêm vào chứng bệnh mệt mỏi này cô lại có thêm một chứng bệnh khác gọi là vertigo khiến trời đất như quay cuồng, mọi vật như quay mòng với vận tốc rất nhanh khiến người bệnh phải ói mữa không ngừng. Dù vậy bà vẫn tiếp tục viết văn, là điều bà luôn yêu thích. Người phụ nữ này tên Laura Hillenbrand.
Vào năm 2001, tức 15 năm sau khì mắc bệnh, cô xuất bản một quyển sách tựa là “Sea-biscuit”, đã được in ra trên 3 triệu cuốn và cũng đã được chuyển thành phim. Chuyện kể về một con ngựa mà không ai nghĩ có thể thắng nổi và cuộc đời vô cùng khó nhọc của những người cưỡi ngựa đua để kiếm sống. Theo lời của chính bà thì “câu chuyện này thật sự về những cảnh ngộ khó khăn nhất trong đời sống và ý chí để vượt thắng. Đây cũng chính là sự phấn đấu của chính cuộc đời tôi cố vượt qua được tình trạng thể chất hết sức khó khăn, đau khổ này”. Trong khi tìm tài liệu để viết quyển sách này bà tìm được một mẫu tin nhỏ về cuộc đời của ông Louie Zamperini. Bà giữ mẫu tin đó và hứa khi hoàn tất câu chuyện Sea-biscuit sẽ tìm hiểu thêm.
Chín năm sau đó với nhiều ngày tháng phải phấn đấu với cơn bệnh ngặt nghèo, bà Laura hoàn tất quyển sách thứ hai Unbroken về cuộc đời của ông Louie Zamperini. Hai người chưa bao giờ gặp nhau và chỉ trao đổi tin tức, thăm viếng qua điện thoại. Dù chỉ nằm trên giường nhưng bà đã phỏng vấn rất nhiều người bạn của ông Louie, cả những người lính Nhật bản giữ trại tù và một số các chuyên gia về chiến tranh vùng Thái Bình Dương trong thế chiến thứ hai. Trong suốt 7 năm viết quyển sách thứ hai, bà Laura và ông Louie đã trở nên hai người bạn rất thân thiết. Có lẽ bởi vì cả hai đều là người vượt lên trên cảnh ngộ đen tối nhất trong đời để tiếp tục sống một cuộc sống ý nghĩa và giá trị. Bà Laura trong một cuộc phỏng vấn có những lời như sau: “No matter what happens with this illness, I think it is possible to carve out a dignified and productive life from it. This illness takes everything away from you, and you have to find completely different ways to define what your life will mean to you. But I think it’s possible to make a good life… We are fortunate that we have them [good health], but when we don’t have them it’s not that someonés taking them away from us.”
Và tôi tin chắc rằng hai người này cũng tìm thấy Đa-vít khi còn là một thanh niên phải chạy trốn kẻ thù cách vô cớ trong hang động tối tăm là một người bạn yên ủi. Đặc biệt là lời của Đa-vít viết trong bài hát Thi Thiên 57. Tôi xin được đọc lời Đa-vít viết.
Gần năm mươi năm trước đây nhạc sĩ Phạm Duy đã viết một bài nhạc với tựa đề "Tạ ơn đời". Bài hát như những lời tâm tình của người nhạc sĩ tài ba này đối với đời sống và có những lời như sau: "Ôi ơn đời chói vói! Nhớ khi thân tròn ôm gối! Ba trăm ngày trong gói ngóng trông ra đời góp mối chung vui. Ôi ơn đời mãi mãi! Thoát thai theo đời vui sới. Bao nhân tình thế giới lớn lên trong vườn ân ái muôn đời..." Mấy dòng nhạc này nói đến sự mong ngóng của một thai nhi trong lòng người mẹ chín tháng dài, chỉ muốn cho đến ngày được sanh ra để chung vui và đóng góp với cuộc đời. Cuộc đời, theo lời nhạc, còn được ví như "vườn ân ái muôn đời". Thú thật tôi rất thích âm điệu của bài nhạc này. Nhưng đề cao "ơn đời chói vói" hay "ơn đời mãi mãi" thì có phần phóng đại. Cám ơn người thì chúng ta còn hiểu được vì người giúp đở, người yêu thương, người chăm sóc, yên ủi, nuôi nấng, dạy dỗ, bảo vệ, che chở. Hay cám ơn Trời thì còn phải lẽ vì Trời là Đấng gìn giữ, quan phòng, ban cho mọi điều trong cuộc sống. Là Đấng mà người Việt chúng ta cầu khẩn cho mùa màng, mưa nắng thuận hòa như trong lời ca dao, tục ngữ: "Lạy trời mưa xuống lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày" hay "Ơn Trời mưa nắng phải thì, nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu". Nhưng đời thì trừu tượng, mông lung, mơ hồ quá. Hơn nữa, nếu cám ơn đời mà không phải là cám ơn người, hay cám ơn Trời thì chỉ còn độc nhất một thứ khác để cám ơn: đó là vật chất hữu hình.
Vật chất hữu hình dù thấy được, sờ được, cảm biết được nhưng vô tri vô giác, không biết cảm ơn hay trả ơn. Dù chúng ta có reo vui hay thở than với núi thì cũng chỉ nghe tiếng mình vang vọng lại. Dù có trầm trồ, khen ngợi, ngưỡng mộ căn nhà ở thật lộng lẫy, chiếc xe hơi hào nhoáng, cửa tiệm sang trọng thì nhà, xe hay tiệm cũng không thể ngõ lời cám ơn chúng ta. Đây cũng là một mâu thuẫn trong đời sống của tôi và quý thính giả. Mâu thuẫn đó là dù chúng ta có thể bị cám dổ, bị thu hút bởi vật chất, dù chúng ta có thể dốc hết tâm sức, đổi cả gia đình để chạy đuổi theo vật chất, nhưng không một người nào có thể nghe được một lời cảm ơn từ những của vật này. Cũng không có một người nào lại muốn cúi đầu cám ơn vật mình có được hay do chính mình làm ra. Chính vì vậy khi chúng ta cám ơn đời hay mang ơn đời thì thật sự chúng ta nói rằng mình cám ơn Thượng Đế đã ban cho sự sống và cám ơn những người đã giúp đở cho chúng ta.
Một mẫu chuyện kể về một em bé gái. Thấy mùa lễ Tạ Ơn sắp đến, cô giáo của một lớp tiểu học cho học sinh trong lớp mình một bài làm. Bài cô cho là mỗi học sinh phải vẽ cho mình một bức hình tả về điều mình biết ơn trong mùa lễ Tạ Ơn. Có em vẽ hình những món đồ chơi mình nhận được như máy chơi game. Có em lại vẽ hình những người chửa lửa hay người lính để nói về lòng biết ơn với những các em quý trọng, người hy sinh bảo vệ. Phần lớn vẽ hình cha mẹ và gia đình là người yêu thương, chăm sóc các em. Duy chỉ có một em gái nhỏ, không xinh đẹp, học không giỏi, cha mẹ ly dị phải sống với một người bà, vẽ hình của một bàn tay, một bàn tay trong tờ giấy trắng. Đây cũng là em học sinh rất nhút nhát, thường đứng một mình trong sân trường nhìn các bạn chơi đùa. Khi cô giáo xem bức hình vẽ với bàn tay, thì nghĩ rằng chắc em bé gái muốn nói rằng em không có gì để có thể cám ơn cả. Như một bàn tay trắng, không được nhận lãnh điều gì trong cuộc đời cả. Đến giờ nghĩ break, khi tất cả học sinh đều ra sân chơi, cô gọi đứa học trò gái của mình nán lại để hỏi về bức hình vẽ. "Em vẽ hình này có nghĩa gì, cho cô biết được không?" Em ngần ngừ, do dự rất lâu khi được cô mình hỏi về ý nghĩa của bức hình vẽ. "Cứ nói cho cô biết không sao đâu. Có phải bởi vì em không nhận được gì hay không? Có phải vì em không có gì để cám ơn trong mùa lễ này không?" Nghe cô hỏi mà mước mắt cứ đổ xuống ràn rụa trên đôi gò má của em bé gái nhỏ đáng thương. Nhiều phút trôi qua thấy cô vẫn kiên nhẩn chờ câu trả lời, em mới ngập ngừng: "Thưa cô, em vẽ hình bàn tay không phải bởi vì không ai cho em đồ gì. Cha mẹ em cũng thường hay gởi đồ chơi cho em. Thỉnh thoảng cũng có về thăm rồi cho tiền, cho đồ mới nữa". Cô giáo ngắt lời: "Vậy tại sao em lại vẽ hình của một bàn tay không?" "Thưa cô, bởi vì em rất ao ước được ba hay mẹ em nắm tay em đưa đến nơi đón xe bus như các bạn gần nhà. Em mong được mẹ chải tóc trước khi đi học. Hay cũng như có một lần cô nắm tay em dẫn qua đường lúc cả lớp được đi chơi".
Chắc chắn có rất nhiều lần trong đời sống chúng ta cũng muốn vẽ hình bàn tay như em bé gái đáng thương kia. Dù đầy đủ về vật chất, tiện nghi, có lúc chúng ta thầm ao ước được một cái vỗ tay thân tình, một cái ôm trìu mến từ người chồng, người vợ, từ cha mẹ, anh em hay từ cả những người trong Hội Thánh. Chúng ta cần người, tình cảm từ người hơn là cần đồ vật. Dù có nhiều đồ vật, tặng phẩm người cho nhưng đời sống có gì là vui vẻ nếu không có ai để san xẻ, chung hưởng.
Một câu chuyện trong Kinh Thánh kể về một người giảng dạy lời Đức Chúa Trời, người mà Kinh Thánh gọi là tiên tri, tên là Ê-li (I Các vua 17). Sau khi tiên đoán trước mặt một vị vua rất độc ác rằng đất sẽ bị hạn hán cho đến khi Đức Chúa Trời ra lệnh, Chúa sai ông đến một nơi gần khe nước và mỗi ngày truyền cho chim quạ đem thức ăn đến nuôi. Ngày hai bữa sáng chiều chim đem đến cho ông bánh và thịt. Còn nước thì uống từ khe suối. Nhưng ít lâu sau đó, khe bị khô cạn vì trong xứ không có mưa. Rồi Đức Chúa Trời phán với tiên tri Ê-li hãy đi đến một thành phố khác và ở nơi đó ông sẽ gặp một người đàn bà góa bụa giúp đở ông. Khi người tiên tri của Chúa xin bánh, người đàn bà góa bụa trả lời rằng bà và người con trai chỉ còn một nắm bột và một chút dầu, đủ nấu một bửa ăn rồi chờ chết. Nhưng Đức Chúa Trời dùng tiên tri Ê-li để biến cho bột trong vò không hết, dầu trong bình không thiếu để bảo toàn mạng sống của ông lẫn gia đình người đàn bà góa và con trai bà.
Khi khe nước khô cạn vì hạn hát tôi chắc rằng Ê-li tự hỏi tại sao Đức Chúa Trời lại sai ông đến nơi này rồi lại để cho nguồn nước cạn đi. Hồi còn sống tại trại tị nạn tôi cũng đã có lần kinh nghiệm khi giếng nước khô cạn giữa hè. Khi thả thùng xuống giếng tôi chỉ nghe được tiếng của thùng chạm đá thay vì tiếng nước. Cố lắm khi kéo thùng lên chỉ được một chút nước đục ngầu. Lúc ấy tôi biết rằng cuộc sống trở nên nguy hiểm, tính mạng bị đe dọa.
Hình ảnh của khe nước khô cạn có thể ví như sự mất mát trong đời sống chúng ta. Khe nước của chúng ta khô cạn khi người thân yêu từ khước, xa lánh. Khi một ngày nào đó thình lình họ nói nó với chúng ta rằng: "tôi không còn yêu em nữa" hay "tôi tìm được một người thông cảm cho tôi hơn anh, biết chìu chuộng tôi hơn anh". Khe nước chúng ta khô cạn khi khám phá ra rằng con cái mình là những đứa tưởng là ngoan ngoãn nhưng lại vấp phạm những tội lỗi làm xấu hổ, nhục nhả gia đình. Có biết bao nhiêu lần trong cuộc đời, khe nước của tôi và quý thính giả khô cạn? Hay cũng có thể chính ngày hôm nay một số quý thính giả đang khao khát được nhận một dòng nước ngọt ngào đứa bé gái qua hình vẽ mong ước được một bàn tay yên ủi trong mùa lễ Tạ Ơn này?
Cám ơn Đức Chúa Trời đã sắp định một chương trình tốt đẹp hơn cho Ê-li cũng như cho tôi và quý thính giả. Khi đến thành lạ đó, ông đã tìm được một bàn tay trợ giúp mình dù chính người ấy và gia đình đang gặp khó khăn, dù khe nước của người cũng sắp khô cạn. Và sau khi được nhận sự giúp đở, Ê-li được Đức Chúa Trời dùng để giúp lại cho người góa bụa và con trai bà. Chúng ta nghe "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay". Chỉ có những ai đã trải qua những ngày tháng khó khăn, thiếu thốn, đau khổ mới có thể cảm thông thật sự cho những người đang trải qua những cảnh ngộ đó. Kinh Thánh dạy: "Chúc tạ Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jê-sus Christ chúng ta, là Cha hay thương xót, là Đức Chúa Trời ban mọi sự yên ủi. Ngài yên ủi chúng tôi trong mọi sự khốn khó hầu cho nhơn sự yên ủi mà Ngài đã yên ủi chúng tôi, thì chúng tôi cũng có thể yên ủi kẻ khác trong sự khốn khó nào họ gặp!" (II Cô-rinh-tô 1:3-4).
Hầu hết chúng ta đều dùng một công thức để quyết định mức độ biết ơn. Công thức này dù rất đơn giản nhưng chính xác cho hầu hết mọi người. Theo công thức này thì mức độ biết ơn bằng điều nhận được trừ cho điều mất đi. Hễ điều nhận được càng nhiều hơn điều mất đi thì mức độ biết ơn càng lên cao. Nhưng khi số mất đi tăng lên mà số nhận được vẫn như nguyên thì sự biết ơn cũng giảm xuống một cách tương xứng. Và khi số mất đi nhiều hơn số nhận được, thì chúng ta trở nên cay đắng chua chát.
Thưa quý thính giả, ai có thể tự bảo rằng không bao giờ khe nước chúng ta không bao giờ khô cạn? Đối với những người đang trải qua sự khô hạn trong đời sống, ai, Đấng nào có thể mang lại dòng nước mát của ngày xưa lại cho quý vị? Nương cậy vào người có lúc sẽ thất vọng bởi vì loài người chúng ta hữu hạn, hay phạm lỗi. Nhưng Đức Chúa Trời thì vô hạn, tuyệt đối. Loài người chúng ta không giữ được lời hứa nhưng Thượng Đế luôn trung tín. Ngài sẽ bồi hoàn lại những mất mát với ơn phước. Khi chúng ta đi qua những cơn gian truân chính tay Chúa sẽ ẳm bồng con dân Ngài. Chính vì vậy công thức biết ơn của người tin biết Chúa gồm có Đức Chúa Trời. Khi có Chúa thì không có sự mất mát nào lớn đến nỗi không đền bù lại được.
Vậy hễ sống trong đời chúng ta phải ý thức rằng mình cần đến Trời và cần đến người hơn cần vật của. Dù của vật có mất đi nhưng có Chúa cạnh bên, nếu còn người thân yêu thì vẫn còn tạo dựng lại được. Xin đừng lấy tài vật để đổi lấy quan hệ với Thượng Đế hay với những người thân yêu.
