Sự Tha Thứ – Phước Thiên Vô Cùng Quí Báu
Tựa đề của loạt bài giảng này dựa theo Eph 1:3 Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời.
Qv nhớ lời dạy quan trọng của ĐCJC trong Giăng 15:4 Hãy cứ ở trong ta, thì ta sẽ ở trong các ngươi. Như nhánh nho, nếu không dính vào gốc nho, thì không tự mình kết quả được, cũng một lẽ ấy, nếu các ngươi chẳng cứ ở trong ta, thì cũng không kết quả được. Chúa dạy các môn đồ nếu muốn kết quả, họ phải ở trong Ngài. ĐCJC lập lại 2 lần trong câu KT này.
Trong Eph 1, sứ đồ PL lập đi lập lại lời dạy này của ĐCJC: ở trong Ngài, trong Ngài, trong Đấng Christ, trong Con Yêu Dấu, từ nơi ĐCJC, bởi ĐCJC. Cả 2 bản dịch cũ và mới đều có ít nhất 12 lần ý dạy này. Rõ ràng đây là một lời dạy vô cùng quan trọng.
PL cho biết khi chúng ta ở trong Đấng Christ thì sẽ được nhận đủ mọi thứ phước thiêng liêng trên trời trong Eph 1:3. PL giải thích về các phước thiêng liêng trên trời trong đoạn 1 này từ câu 3-14 như được trở nên con nuôi của Ngài (v5), được cứu chuộc, được tha tội (v7), được ban cho ân điển (v7-8), được mọi thứ khôn ngoan thông sáng (v 8), được dự phần kế nghiệp (v11), được nhận ĐCT (v13-14).
Trong bài giảng này & tới tôi muốn tập trung vào một phước thiêng liêng trên trời vô cùng quan trọng là sự tha thứ: Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài (v7). Sự tha thứ tội là điều kiện đầu tiên và cần thiết để người tin Chúa có thể nhận được đủ mọi thứ phước thiêng liêng từ trời. Đúng vậy qv nghe không lầm đâu: [lập lại tha thứ là điều kiện đầu tiên và cần thiết.] Không được tha tội, thì làm sao được làm con cái ĐCT, được dự phần kế nghiệp với Đấng Christ, được nhận ĐTL?
Trong cuộc sống không phải ai được cứu cũng được tha tội. Kẻ giết người, bọn khủng bố bị thương tích sau khi đã giết người lại được cứu mạng để rồi bị xử án, chịu tù ngục hay bị xử chết. Có người phạm tội muốn tự tử nhưng được cứu, không phải để được tha tội, nhưng để chịu xử tội. Được cứu để chịu tội. Nhưng trong Chúa, chúng ta được cứu và được tha tội.
Sự tha tội là ơn phước đầu tiên và quan trọng nhất ĐCT ban cho những người tin nhận ĐCJC. ĐCJC đến thế gian, sống 30 năm, dạy 3 năm, rồi chịu chết cách đau đớn, nhục nhã trên thập giá giữa 2 tên trộm cướp để cứu qv và tôi. Cứu gì? Cứu tội. Có nghĩa là gì? Là tội lỗi của qv & tôi được tha thứ, được xóa đi. Lẽ ra chúng ta phải chịu nhận sự trừng phạt đời đời vì tội lỗi đã vi phạm, nhưng Chúa Jesus chịu nhận sự trừng phạt đó qua sự chịu chết trên thập tự.
Khi nói rằng chúng ta được tha thứ tội lỗi có nghĩa là đáng lẽ ra chúng ta phải chịu trừng phạt vì tội mình đã phạm nhưng ĐCJC gánh lấy sự trừng phạt đó cho chúng ta. Vậy được tha thứ là được xóa nợ, xóa giá đắt phải trả vì tội vì ĐCJC đã nhận hết món nợ, nhận trả hết giá. Tha thứ là nhận lấy món nợ mà người khác phải trả. Từ tội lỗi trong câu Xin tha tội lỗi chúng tôi trong bài cầu nguyền chung thực nghĩa là nợ. Xin tha các nợ của chúng tôi nhưng chúng tôi tha những người thiếu nợ chúng tôi.
Sự tha thứ là một ơn phước từ trời vô cùng quí báu, vô giá. Tại sao? Bởi vì sự tha thứ là món quà quí giá hơn mọi món quà, là thể hiện đầu tiên rõ nhất về tình yêu thương của ĐCT cho người tin Ngài. Có tình yêu thương thật sự nào lại không có sự tha thứ? Yêu thương là tha thứ; tha thứ luôn gắn liền với tình yêu thương. ĐCT tha thứ mọi tội lỗi cho những kẻ Ngài cứu chuộc và yêu thương. Và trong Eph 1, PL cho biết sự tha thứ là điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất để có thể nhận được đủ các ơn phước thiêng liêng từ trời.
Không được tha thứ thì sẽ chịu sự trừng phạt đời đời nơi địa ngục. Không được tha thứ thì sẽ không được sự sống đời đời trên thiên đàng, không được nhận làm con nuôi ĐCT, không được dự phần kế nghiệp, không được ĐCT ngự vào đời sống.
Tác giả Thi Thiên viết: Chúa ôi, nếu Ngài ghi nhớ các tội ác chúng tôi; Thì lạy Chúa, còn ai sống nổi. 4 Nhưng Chúa có lòng tha thứ Để người ta kính sợ Chúa. (TT 130:3-4). Thật vậy ai sống nổi nếu ĐCT không tha thứ?
Không được tha thứ thì sẽ luôn luôn sống trong mặc cảm tội lỗi (guilt), trong sự xấu hổ (shame); sẽ không có hy vọng gì cho cuộc sống đời sau. Có gì đau khổ cho bằng sống mỗi ngày biết lỗi của mình không được người thân yêu, vợ, chồng, anh chị em, tha thứ? Có gì đau khổ cho bằng trước khi qua đời biết lỗi mình phạm vẫn không được tha thứ? Người không được tha thứ như người lúc nào cũng mang cái gánh đè nặng trên lưng, con tim vẫn còn rỉ máu vì không lành, như người bị cùm xích giam lại trong ngục tù của quá khứ.
Sự tha thứ là một chủ đề xuyên suốt 66 sách trong KT từ STK cho đến KH. Tiên tri Mi-chê viết về ĐCT như sau: Ai là Đức Chúa Trời giống như Ngài, tha thứ sự gian ác, và bỏ qua sự phạm pháp của dân sót của sản nghiệp Ngài? Ngài không cưu giận đời đời, vì Ngài lấy sự nhân từ làm vui thích. 19 Ngài sẽ còn thương xót chúng tôi, giập sự gian ác chúng tôi dưới chân Ngài; và ném hết thảy tội lỗi chúng nó xuống đáy biển. (Mi-chê 7:18-19); Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va đang khi mình gặp được; hãy kêu cầu đang khi Ngài ở gần! 7 Kẻ ác khá bỏ đường mình, người bất nghĩa khá bỏ các ý tưởng; hãy trở lại cùng Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ thương xót cho, hãy đến cùng Đức Chúa Trời chúng ta, vì Ngài tha thứ dồi dào. (Ê-sai 55:6-7)
Thử nghĩ xem nếu Chúa không tha thứ cho Phi-e-rơ về tội chối Chúa, các môn đồ vì bỏ chạy khi ĐCJC bị bắt thì làm sao họ nhận được ĐCT nơi phòng cao, được gọi làm chứng, được dùng để lập HT đầu tiên. Nếu ĐCT không tha thứ cho Phao-lô về tội giết những người theo Chúa thì làm sao PL được trở nên một sứ đồ của Đấng Christ, viết 13 thư/sách trong số 27 thư/sách TU.
Tình yêu thương bao la của ĐCJC bày tỏ qua sự tha thứ thay đổi hoàn toàn cuộc đời của PL cách mầu nhiệm. Đến nỗi ông viết chính vì tình yêu thương đó mà ông sống và chết: Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, 15 lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình. (2 Cor 5:14-15)
Tôi hỏi qv: Có tình yêu thương nào lại không có sự tha thứ? Ai cũng biết 1 Cor 13 viết về tình yêu thương. Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu [chịu đựng] mọi sự (13:7) Ai nói mình yêu thương anh chị em mình mà không tha thứ là không biết ý nghĩa thật của lời Chúa dạy về tình yêu thương.
KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG ĐỂ THA THỨ
Qv chắc đồng ý với tôi rằng con người như không có khả năng để tha thứ. Thử nhìn trong xã hội, trên thế giới đầy xung đột, chiến tranh. Dĩ nhiên lòng tham lam, độc ác là nguyên nhân. Nhưng một nguyên nhân quan trọng hơn là vì sự trả thù. Trả thù là buộc người đã làm cho mình cũng phải mất mát, đau khổ như họ đã làm cho mình. Không tha thứ được.
Dù được Chúa tha thứ tội nhưng người tin Chúa lại thường không tha thứ.
Tôi lấy ví dụ này. Giả sử qv mới mua một bộ đồ mới đắt tiền. Em qv hỏi mượn để mặc đi phỏng vấn xin việc làm. Qv cho mượn. Em mặc đi phỏng vấn. Khi về em đến nói lỡ làm hư bộ đồ: áo thì dính cà-ri như bị đổ acid, quần thì bị rách. Nếu qv vì tình anh chị em mà bỏ qua, tha thứ thì có nghĩa là qv đồng ý trả giá cho bộ đồ mới. Nếu không bỏ qua, không tha thứ thì em phải trả giá cho bộ đồ mới. Cũng vậy, người ta xì xầm nói xấu qv, họ làm mất danh dự qv. Khi ly dị, chồng nói với vợ những lời làm độc ác làm cho người vợ mỗi khi nhớ đến lời nói đó thì đau khổ vô cùng. Tha thứ có nghĩa là vợ không ăn miếng trả miếng với chồng dù mất đi sự bình an trong lòng.
Tha thứ có nghĩa là nhận lấy món nợ, nhận trả giá thay vì buộc người phạm lỗi phải trả
NHẬN RẤT NHIỀU NHƯNG LẠI KHÔNG CHO
Đại văn hào Hoa Kỳ là Ernest Hemingway, người được giải Nobel về văn chương, tác giả của quyển “Ngư ông và biển cả” (The old man and the sea), viết một câu chuyện sau đây. Một người cha Spanish quyết định giải hòa với đứa con trai đã bỏ nhà ra đi đến thành phố Madrid. Buồn phiền và hối hận người cha đăng một dòng quản cáo trên tờ báo lớn là El Liberal: “Paco (tên người con trai) gặp cha tại khách sạn Montana trưa thứ ba. Tất cả đã được tha thứ. Papa (cha)”. Paco là tên rất phổ thông tại xứ Tây Ban Nha. Khi người cha đến khách sạn Montana trưa ngày thứ ba ông thấy có đến 800 người thanh niên trẻ tuổi đang chờ cha của họ tại đó để được tha thứ và hòa giải cùng cha mình.
Dù đây là một câu chuyện tiểu thuyết nhưng nó nói lên một sự thật hết sức quan trọng trong đời sống con người: Mọi người đều cần được tha thứ và cần phải tha thứ. Thật vậy sự tha thứ là một vài chủ đề trọng yếu nhất trong KT. Một điều quí báu nhất người tin Chúa nhận được từ ĐCT là sự tha thứ. Nếu không có sự tha thứ sẽ không có sự cứu rỗi. Nếu không có sự tha thứ sẽ không có tình yêu thương. Nếu không có sự tha thứ cũng sẽ không có ân điển. Nếu không có sự tha thứ thì tất cả chúng ta sẽ đứng trước Chúa trong ngày phán xét để chịu hình phạt đời đời vì tội đã phạm. Sự sự cứu rỗi, tình yêu thương và ân điển của ĐCT có cùng một gốc rễ từ sự tha thứ của Ngài đối với tội nhân như tôi và quý vị hiện diện tại đây.
Hơn thế nữa Chúa không chỉ tha thứ chúng ta một lần khi chúng ta xưng nhận mình là kẻ có tội không thể tự cứu chính mình và được nhận sự cứu rỗi qua ĐCJC, nhưng còn trong cuộc sống mỗi ngày. Bởi vì mỗi ngày chúng ta đều phạm lỗi, phạm tội cùng Chúa. Theo thống kê của nhóm Barna về cảm nghĩ của những người trẻ tuổi khi được hỏi điều gì đến trong trí họ khi nghĩ về người Cơ Đốc. Thông thường câu trả lời là họ hay xét đoán, lên án, buộc tội, chỉ trích, cố chấp không bỏ qua lỗi, không tha thứ. Tín đồ thuộc Ê-phê-sô 2:8-9: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Thuộc bài cầu nguyện chung: Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi nhưng vẫn không tha thứ. Được nhận ân điển, tha thứ từ ĐCT nhưng đối xử với người chung quanh cách thiếu ân điển, không có sự tha thứ.
Lắm lúc trong vòng tín đồ người ta khó tìm được sự tha thứ, ân điển hơn cả bên ngoài đời. Tại sao? Bởi vì tín đồ thường nghĩ rằng mình trong sạch hơn, chân chính hơn, có quan hệ gần gủi với ĐCT hơn người khác! Một số khác đoán xét, so sánh anh chị em trong Chúa với một tiêu chuẩn khác với tiêu chuẩn họ dành cho chính họ. Thay vì ý thức rằng KT là tấm gương cho cả tôi và người, họ dùng những điều tốt hơn của họ để so sánh, để đánh giá người chung quanh. Về lãnh vực nào trong đời sống họ còn đang gặp khó khăn để thay đổi thì họ bảo rằng: Chúa biết tôi ý thức rằng trong phần này tôi đang cố sửa đổi.
Họ trách người tín đồ khác là đạo đức giả, trách anh chị em trong Chúa là những người biết Chúa mà đời sống không khác gì người không tin Chúa. Nhưng đối với chính mình khi làm lỗi, lại xin Chúa ban cho sự nhân từ, cho ân điển thay vì đòi hỏi công minh khi nhìn lỗi của người. Lắm lúc họ quên rằng chính họ cũng là tội nhận được ĐCT tha thứ và biết KT dạy rằng: hễ là người tin Chúa, người có đức tin thì phải học và thực hành sự tha thứ.
Tuy nhận lấy món quà hết sức quí báu là sự tha thứ từ ĐCT mỗi ngày trong cuộc sống, nhưng tín đồ đều có khó khăn tha thứ cho người. Không phải vì sự tha thứ quá quí báu nên chỉ cho ra mỗi lần một chút. Không phải bởi vì sự tha thứ hiếm hoi, khó tìm từ nơi Chúa nên tín đồ phải dè xẻn, cẩn thận khi dùng nó. Không phải khi xài hoài thì sự tha thứ sẽ cạn hết. Trái lại chúng ta được dư dật sự tha thứ của ĐCT như Giăng viết Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta. Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác (1 Giăng 1:8-9) . Lý do đơn giản người tín đồ không tha thứ bởi vì họ đòi hỏi công bình ở người khác nhưng xin được tha thứ, ân điển khi chính mình có tội. Không tha thứ bởi vì cố chấp, không thể bỏ qua chuyện cũ, bỏ qua lỗi của người.
Sự tha thứ, có thể nói, là một món quà quí báu nhất được ĐCT ban cho mà người tín đồ ít cho đi nhất. Một tác giả viết: Người không thể tha thứ đã tự đốt chính cây cầu chính mình sẽ phải đi qua để được đến thiên đàng. (George Herbert)
TẠI SAO PHẢI THA THỨ?
Chúng ta hỏi: tại sao tôi phải tha thứ cho anh A, chị B khi lỗi của họ quá nhiều? Tha thứ, bỏ qua rồi họ vẫn tiếp tục phạm tội. Hoặc chúng ta nói rằng: họ là những người đạo đức giả nên không cần gì tha thứ cả. Có ích lợi gì tha thứ cho một người không biết lỗi, cũng không biết nhận lỗi? Mỗi người trong chúng ta đều có thể tìm biết bao nhiêu lý do để tiếp tục lên án, buộc tội người này, người nọ, tiếp tục giữ sự hờn giận, cay đắng trong lòng mình.
Lời Chúa dạy rất rõ tại sao chúng ta phải tha thứ: bởi vì chính ĐCT đã tha thứ cho chúng ta. ĐCJC dạy các môn đồ trong bài cầu nguyện chung: Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi. Nói đơn giản hơn sự tha lỗi của ĐCT với tội chúng ta đòi hỏi chúng ta phải tha lỗi cho người làm lỗi cùng chúng ta. Cũng chú ý sau khi Chúa dạy bài cầu nguyện chung, Ngài chỉ giải thích một điều. Điều đó là về sự tha thứ: Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi (Mathiơ 6:14-15).
Hai câu KT này gồm 2 phần. Cả 2 phần đều có điều kiện và lựa chọn: nếu làm điều này thì sẽ được Chúa ban cho; nếu không làm điều này thì sẽ không nhận được điều Chúa ban cho. Tha thứ sẽ được nhận tha thứ; không tha thứ sẽ không được tha thứ. Sách Mác giải thích rõ hơn về lời dạy này Khi các ngươi đứng cầu nguyện, nếu có sự gì bất bình cùng ai, thì hãy tha thứ, để Cha các ngươi ở trên trời cũng tha lỗi cho các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi. (Mác 11:25). Vậy KT cũng dạy rằng nếu không tha thứ thì ĐCT cũng sẽ không nghe và nhậm lời cầu nguyện của chúng ta.
Từ STK đến KH có biết bao nhiêu câu chuyện về sự tha thứ. Áp-ra-ham tha thứ cho cháu mình là Lót khi vì lòng tham và chọn vùng đất màu mở, phì nhiêu quên đi tình nghĩa. Ê-sau tha thứ cho đứa em gian dối, thủ đoạn đã chiếm quyền trưởng nam là Gia-cốp. Giô-sép tha thứ cho các anh mình, những người đã tìm cách giết ông rồi bán ông đi làm nô lệ. Mô-se xin ĐCT tha thứ cho dân sự ích kỷ, mau bội ơn khi họ đúc con bò vàng thờ phượng lúc Mô-se lên núi nhận 10 điều răn. Khi nghe ĐCT đòi diệt hết đám dân này, KT viết: Môse trở lên đến ĐGHV mà thưa rằng: Ôi! Dân sự này có phạm một tội trọng, làm cho mình các thần bằng vàng; nhưng bây giờ xin Chúa tha tội cho họ! Bằng không Ngài hãy xóa tên khỏi sách Ngài đã chép đi (XEDTK 32:31-32). Còn gương tha thứ nào nữa? Đa-vít tha thứ cho vua Sau-lơ ngay khi bị bắt đuổi, tìm giết cách vô cớ.
Tại sao chúng ta không thể tha thứ? Bởi vì còn rất nghèo nàn về tâm linh, vì không có sự dư dật nhận được từ sự tha thứ của Chúa. Tôi giải thích cho qv. Giả sử một người mới mua một chiếc xe mới, sang trọng như Mercedes hay Lexus tốn 70K. Một người bạn hỏi mượn. Qv nghĩ người đó có cho mượn không? Tùy. Nếu là tỉ phú thì 70K chẳng nghĩa lý gì? Hễ càng giàu thì chiếc xe trị giá 70K càng không đáng bao nhiêu.
Tại sao chúng ta phải tha thứ? 1) Bởi vì ĐCT đã tha thứ cho chúng ta, 2) Bởi vì KT dạy rất rõ rằng là người tin Chúa chúng ta phải tha thứ, 3) Bởi vì nếu không tha thứ chúng ta sẽ không được tha thứ hay được Chúa nghe khi cầu nguyện.
Ngay cả các bác sĩ và tâm lý gia ngày nay cũng xác nhận về lợi ích của sự tha thứ. Sự thù hằn, cay đắng, giận dữ trong lòng khi không tha thứ sẽ gây ra căn thẳng (stress), áp huyết cao, mất ngủ, ăn không ngon, kháng thể trong người yếu đi, nhịp tim đập cao hơn khi nghĩ về người mình giận ghét. Sự tha thứ không chỉ đem đến lợi ích cho sức khỏe mà còn đem đến lợi ích cho quan hệ với người chung quanh mình. Người tha thứ có cảm nghĩ tích cực hơn, cởi mở hơn với hầu hết mọi người, thường tham gia vào các công tác tự nguyện gồm cả việc của hội thánh và các hội từ thiện.
LỜI CHÚA DẠY VỀ SỰ THA THỨ
ĐCJC dạy các môn đồ rất nhiều về sự tha thứ. Chúa dạy về sự tha thứ trong bài cầu nguyện chung. Trong Mathiơ 18:15-19 Chúa dạy về sự hòa giải với người anh em. Thường chúng ta đọc đọan KT này thường chú ý đến lời Chúa hứa Quả thật, ta lại nói cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ. Vì nơi nào có hai ba người nhơn danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa họ (18:19-20). Tuy nhiên chớ quên rằng hai hay ba người này phải là những người có sự tha thứ cho nhau.
Sau đó Phierơ hỏi Chúa Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng? Chúa trả lời thế nào? Ta không nói cùng ngươi rằng: đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy. Rồi Ngài kể cho Phierơ và các sứ đồ khác một câu chuyện ngụ ngôn về hai người đầy tớ. Một người nợ vua đến hàng ngàn ta-lâng (hàng triệu bạc) xin vua tha nợ. Vua động lòng tha hết nợ cho người. Nhưng sau khi được tha nợ khi ra ngoài thấy người nợ họ vài trăm đồng đơ-ni-ê (vài đồng) lại nắm bóp cổ mà đòi phải trả nợ. Rồi còn hăm he nếu không trả sẽ bỏ tù. Khi nghe vậy vua nổi giận và nói: Hỡi đầy tớ độc ác kia, ta đă tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi cầu xin ta; ngươi há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc ngươi như ta đă thương xót ngươi sao? Rồi ĐCJC kết luận: Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy. (18:35).
Có bao giờ quí vị tự hỏi: tại sao ĐCJC chịu trải qua cuộc đời tầm thường như vậy. Chúa sanh ra trong chuồng chiên máng cỏ, con một người thợ mộc và một thiếu nữ tầm thường. Lớn lên từ làng Nazarét, nơi người ta thường nhạo “Có gì tốt mà ra?” Rồi Chúa bị phản bội bởi chính sứ đồ. Bị sỉ nhục, phun nước miếng vào mặt. Bị tra tấn, buộc tội cách vô cớ, oan ức chỉ vì người ta muốn giết Ngài. Cuối cùng Ngài bị đóng đinh giữa hai tên trộm cướp, chết cách nhục nhã. Tại sao vậy? Để Chúa có thể cứu chuộc tội chúng ta. Và còn để dạy chúng ta bài học về sự tha thứ.
Nghĩ đến những khinh khi, mai mỉa với mẹ Chúa, bà Mari “Gái chửa hoang”, về nơi Chúa lớn lên “Narazét có gì tốt từ đó mà ra?”, về nơi Chúa sanh ra “nó sanh ra ở chuồng chiên”
Nghĩ đến sự phản bội của Giu-đa vì tiền mà bán Chúa mình. Đau đớn đến thế nào khi người học trò phản bội mình.
Nghĩ đến sự nhục nhã, đau đớn khi bị xỉ nhục, tra tấn, đóng đinh giữa hai tên cướp. Có ai muốn chết với phường trộm cướp?
Có ai trong chúng ta chịu hiểu lầm, chịu oan ức, chịu tủi nhục như Chúa Jêsus? Chính cuộc đời của Chúa đã dạy cho chúng ta về sự tha thứ.
Chúng ta nghe lời dạy của Phao lô là một kẻ sát nhân được ĐCT tha thứ rồi dùng cho công việc lớn và khó của Ngài: Nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hăy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đă tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy (Cô-lô-se 3:13) .
Lu-ca 7:36-50 kể về câu chuyện giữa người Pharisi và người đàn bà xấu nết (lived a sinful life). Người đàn bà đó ăn năn, khóc với Chúa rồi lấy chính tóc lau chân cho Ngài. Chúa để yên cho bà làm điều đó. Có mấy ai trong chúng ta dám để yên như vậy mà không sự tiếng đồn? Khi thấy vậy người Pharisi tự nghĩ thầm: tại sao Jêsus không biết bà này là người tội lỗi thế nào? Biết ý tưởng người đó Chúa kể một câu chuyện ngụ ngôn giữa hai người thiếu nợ và được tha nợ. Một thiếu 500 đinơê, một thiếu 50. Rồi Chúa hỏi: Trong hai người đó ai yêu chủ hơn? Và Ngài kết luận Vậy nên ta nói cùng ngươi, tội lỗi đờn bà này nhiều lắm, đã được tha thứ hết, vì người đã yêu mến nhiều; song kẻ được tha ít thì yêu mến ít.
Khi đã ý thức được trọng tội của mình mà Chúa đã tha sẽ dễ hơn cho chúng ta tha thứ cho anh chị em mình.
HẬU QUẢ CỦA SỰ KHÔNG THA THỨ
Năm 1944 Đệ Nhị Thế Chiến vẫn còn đang diễn ra dữ dội tại Âu Châu. Bấy giờ Đức quốc xã (Nazis) cũng tìm mọi cách để tàn sát người Do Thái. Simon Wiesenthal, một tác giả nổi tiếng qua đời vào năm 2005 bấy giờ là một thanh niên trẻ tuổi. Ông bị bắt làm tù nhân và chờ chết. Chính mắt ông nhìn thấy lính Nazi giết người bà trên cầu thang trong nhà bà. Ông cũng chứng kiến cảnh mẹ ông bị giải lên toa xe lửa đặt nghẹt người phụ nữ Do Thái chở đến các trại tập trung chờ ngày bị giết. Tổng cộng 89 bà con, thân quyến của ông Simon chết dưới tay của lính Đức. Khi bị bắt ông tìm cách để tự tử nhưng không thành công.
Một ngày lúc độ giữa trưa khi ông đang quét dọn rác từ một bệnh viện nơi chứa xác các lính Đức, thình lình một y tá đến. “Có phải anh là người Do Thái?” Người y tá đó hỏi một cách do dự. Sau khi nghe trả lời, bà ra dấu cho ông đi theo. Cậu thanh niên Simon đi theo người y tá lên một cầu thang rồi đi đến cuối một hành lang. Ở đó là một căn phòng tối tăm, ẩm thấp. Trong căn phòng tối tăm đó chỉ độc nhất một người lính Đức bị thương như sắp chết. Cả mặt ông quấn bằng vải chỉ chừa ra miệng, mũi và mắt. Rồi người nữ y tá đóng cửa phòng để lại một mình cậu thanh niên DT với người lính Đức sắp chết…
XIN THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC THA THỨ
Sự tha thứ và xin được tha thứ đi liền với nhau như trời và đất, như hai mặt của một đồng tiền. Khi nói về sự tha thứ, chúng ta hàm ý rằng người ta phạm lỗi, phạm tội cùng mình. Khi nói về xin được tha thứ, chúng ta nói về chính lỗi của mình đối với người, về hậu quả của tội lỗi mình gây ra cho người. Tôi có chia xẻ với quý vị về một câu nói ý nghĩa về sự tha thứ: Ai không tha thứ là người đã tự đốt chính cây cầu chính mình sẽ phải đi qua trong cuộc đời. Chúng ta hỏi tại sao khi không tha thứ người ta đã tự đốt chính cây cầu trong tương lai mình sẽ phải đi qua? Câu trả lời rất đơn giản: bởi vì mọi người đều phạm tội, đều làm lỗi, cần được tha thứ. Nhưng làm thế nào để được tha thứ nếu không thú nhận tội lỗi của mình và xin được tha thứ. Nếu sự tha thứ khó khăn thì sự can đảm nhận lấy lỗi chính mình, với nhiều người, lại là một điều khó khăn hơn.
Một câu chuyện (Love in time of cholera – Yêu trong kỳ bệnh dịch) kể về một cuộc hôn nhân tan vỡ bởi vì một cục xà-bông tắm. Người vợ có trách nhiệm giữ nhà cửa được ngăn nắp gồm cả việc mua giấy chùi tay, giấy đi cầu và xà-bông tắm. Một ngày nọ, người vợ quên thay cục xà bông tắm đã gần hết với một cục mới. Người chồng trách vợ sao không có xà-bông mới bằng cách phóng đại hóa lỗi này: “Gần cả tuần nay tôi tắm không có xà-bông” Vì lòng tự ái, người vợ không nhận đó là lỗi mình dù thật sự chính bà đã quên điều đó. Rồi trong suốt 7 tháng họ giận nhau, mỗi người ngủ riêng một phòng, và không ai nói chuyện với ai khi ăn chung. Tác giả viết “Dù cho đến lúc già yếu, hai vợ chồng vẫn hết sức cẩn thận không nói về chuyện này. Bởi vì như một vết thương chưa bao giờ thật sự lành, nó sẽ chảy máu trở lại như mới bị thương hôm qua”. Chúng ta hỏi làm thế nào một cuộc hôn nhân tan vở bởi vì một cục xà-bông? Bởi vì không ai nhận lỗi của mình: “Dừng lại. Điều này không thể tiếp tục. Tôi xin lỗi. Xin tha thứ cho tôi”. Chúng ta cũng hỏi có thật một quan hệ bị rạn nứt, tan vỡ bởi vì một điều nhỏ nhặt như một cục xà-bông tắm? Có không? Có chứ.
Một câu chuyện khác (The knot of vipers) kể về một người chồng trong suốt cả mấy mười năm trời ngủ riêng vợ mình trong một căn phòng cách phòng người vợ không xa. Lý do là bởi vì hai vợ chồng cải nhau khi đứa con gái nhỏ 5 tuổi bị bệnh và người vợ trách chồng không quan tâm. Sau đó, cả chồng lẫn vợ không ai chủ động để nhận lỗi và xin tha thứ. Mỗi đêm, người chồng chờ vợ mình đến phòng mình, gỏ cửa, nhưng người vợ không bao giờ đến. Cũng vậy, hằng đêm người vợ mong đợi tiếng chân chồng đi đến phòng mình, nhưng việc đó không bao xảy ra. Không ai tha thứ. Cũng không ai xin được tha thứ.
Chúng ta có thể cười hay thầm nghĩ “thật vô lý!” khi nghe hai câu chuyện này. Nhưng có biết bao nhiêu quan hệ rạn nứt đến độ không thể hàn gắn lại, rồi tan vỡ bởi vì những lý do hết sức vô lý, bởi vì sự cứng lòng của người trong cuộc khăn khăn nghĩ rằng mình là người đúng và không bao giờ nhận lỗi. Sáng sớm thức dậy không ai muốn cải nhau vì những chuyện vô lý này nhưng chồng vợ, cha mẹ con cái, anh chị em lại cải nhau, giận hờn nhau, phê phán nhau vì những việc này. Tôi thường hay trách các con tại sao không làm giường sau khi thức dậy. Và có bao nhiêu lần Lan nhắc tôi rằng việc này chẳng đáng gì cả để làm mất vui với con cái trong ngày mới. Nhưng tôi thường lý luận rằng bởi vì các con cứng đầu không nghe lời dạy!
Những điều vô lý này không chỉ xảy ra giữa vợ chồng, trong gia đình, ngoài xã hội, nhưng xảy ra rất thường trong hội thánh. Tín đồ này hờn giận tín đồ kia chỉ vì quên không chào: Thấy tôi mà họ làm ngơ, khinh khỉnh bỏ đi! Biết đâu họ đang suy nghĩ về việc gì đó nên dù đi ngang nhưng thật sự không thấy mình? Hay giận nhau vì một cái nhìn, một lời nói.
Chúa nhật tuần rồi sau khi nhóm tôi ra phi trường để đáp máy bay đi công tác. Trong khi chờ đến giờ tôi check email và thấy một email từ một người có chức vị cao nhất trong hảng nhắn từ thứ sáu gọi lại cho ông. Tôi gọi lại số điện thoại cầm tay. Ông giải thích: Tôi không muốn anh hiểu lầm về thái độ tôi ngày thứ năm tuần rồi… Tôi bảo với ông tôi không hề để ý đến việc đó. Tuy nhiên tôi cám ơn ông rất nhiều đã để ý đến việc này.
Nếu quý vị ý thức rằng mình đã làm lỗi cùng người nào đó, liệu quý vị có sự can đảm, có lòng chân thành đến nhận lỗi, đến để giải thích, làm hòa, để xin được xin tha lỗi hay không?
KT Cựu Ước viết về một tiên tri hay người nói về lời Chúa tên Giô-na. Chúa sai ông đi đến thành Ninêvê để nói với dân sự tại đó về tội của họ, để họ ăn năn được cứu. Thay vì đến Ninêvê, Giô-na chạy trốn Chúa bằng cách đáp tàu ra biển. Sau khi lên tàu Giô-na nằm ngủ. Chúa khiến sóng gió nổi lên. Những người thủy thủ kinh sợ, không biết ai là thủ phạm gây ra sóng to gió lớn này. Thủ phạm chính là người đang ngủ say giữa khi sóng gió nổi lên gần hủy diệt cả tàu cùng những người thủy thủ. Lắm khi chính chúng ta là Giô-na, ngủ say dù khi chính mình đem lại sóng gió cho cuộc đời của những người chung quanh, cho gia đình, cho hội thánh. Hay cũng có thể chúng ta không hề thấy được cái cột to lớn trong mắt của chính mình mà chỉ đi tìm kiếm những cái dầm nhỏ trong mắt người anh chị em mình?
KHIÊM NHƯỜNG VÀ CAN ĐẢM ĐỂ NHẬN LỖI, ĐỂ XIN THA THỨ
Cách đây 20 năm khi Tây Đức và Đông Đức (xứ cộng sản) thống nhất, lần đầu tiên sau đệ nhị thế chiến, đại biểu của quốc hội Đông Đức được bầu chọn một cách tự. Trong buổi họp lịch sử đầu tiên các đại biểu không thảo luận về chính sách kinh tế, về các đạo luật mới nhưng về một nghị quyết hết sức dặc biệt. Đây là nghị quyết nhận tội lỗi đã phạm cùng dân sự Do Thái về sự tàn sát của chính quyền Đức quốc xã trong Đệ Nhị thế chiến và xin được tha tội. Nghị quyết có những lời sau đây: “Chúng tôi, đại biểu đầu tiên của một Đức Quốc thống nhất, đại diện cho dân trong xứ, nhận trách nhiệm về việc làm nhục, trục xuất và sự sát nhân đối với đàn ông, đàn bà và trẻ con Do Thái. Chúng tôi thật sự hối hận và nhục nhả và xưng nhận gánh nặng này trong lịch sử của dân tộc Đức… Có biết bao nhiêu đau thương đã xảy đến cho bao nhiêu người trên thế giới trong thời gian Đông Đức còn trong chủ nghĩa cộng sản… Chúng tôi xin người Do Thái (Jews) trên toàn thế giới tha thứ cho chúng tôi. Chúng tôi xin dân tộc Do Thái tha thứ cho chúng tôi về đạo đức giả (hypocrisy) và về sự độc ác của chế độ Đông Đức đối với xứ Do Thái và sự khủng bố, nhục mạ dân gốc Do Thái trong xứ chúng tôi sau 1945.”
Để quốc hội của một dân tộc, đại biểu của một dân tộc thú nhận tội lỗi của họ với một dân tộc khác, phải cần đến sự khiêm nhường và can đảm. Có bao giờ người Việt chúng ta nói về tội ác diệt chủng với dân Chiêm thành khi Nam tiến? Có bao giờ Trung Quốc xin lỗi về một ngàn năm đô hộ Việt Nam? Nhưng ý thức về tội lỗi của một dân tộc bắt đầu với ý thức về tội phạm của mỗi người dân.
Thông thường chúng ta xấp loại người chung quanh làm hai loại: người tội lỗi và người công bình. Nhưng ĐCJC dạy qua câu chuyện người đàn bà phạm tội tà dâm trong Giăng 8 về hai loại người dưới mắt Chúa: người tội lỗi ý thức tội mình và ăn năn, và người tội lỗi không hề ý thức về tội mình và không hề biết ăn năn, nhận lỗi.
Câu chuyện xảy ra trong sân của đền thờ nơi ĐCJC đang giảng dạy. Một nhóm người Pha-ri-si và các thầy thông giáo về luật pháp đem một người đàn bà bắt quả tang phạm tội tà dâm “đang khi phạm tội tà dâm”. Tuy nhiên họ không bắt người đàn ông! Có thể lúc bấy giờ bà con đang lõa lồ và khi ra trước mặt Chúa và đám đông tay phải che lấy ngực trần, mặt cúi dầm xuống đất vì nhục nhã. Họ hỏi Chúa: Thưa thầy, người đờn bà này bị bắt quả tang về tội tà dâm. Vả, trong luật pháp Môse có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy: còn thầy, thì nghĩ sao? (8: 4-5). Nhưng Chúa không trả lời mà cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Sau khi họ tiếp tục hỏi Chúa ngước lên và phán rằng: Ai trong các người là người vô tội, hãy trước nhứt ném đá vào người. KT viết Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà ra đi, những người có tuổi đi trước; ĐCJC ở lại một mình với người đờn bà, người vẫn đương đứng chính giữa đó. Khi Chúa ngước lên Ngài không thấy ai ngoài người đàn bà tội lỗi kia. Chúa phán cùng bà: Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa.
Trong hội thánh chỉ có hai loại người: người có tội, ý thức tội, xin Chúa và người tha thứ cho mình, và người có tội, không ý thức tội, không hề xin Chúa hay người tha tội. Pascal viết: “Thật sự là tội ác đầy những xấu xa, nhưng lớn hơn tội ác là đầy những xấu xa và không hề có ý nhận tội lỗi.” Chính vì ý thức rõ hơn hết tội lỗi của chính mình nên Phao Lô viết trong 1 Timôthê 1:15: ĐCJC đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu.
Tha thứ và xin tha thứ là hai hành động cần đức tin. Tin rằng khi chúng ta tha thứ người phạm lỗi cùng mình, chính ĐCT sẽ bồi hoàn, hay làm đúng lại điều mình đã mất mát bởi lỗi người. Tin rằng khi khiêm nhu, ăn năn đến xin được tha thứ thì chúng ta sẽ không mất mặt hay xấu danh đâu nhưng Chúa cũng sẽ tha thứ cho tội của chúng ta.
[Câu chuyện Biển Đời mênh mong về ông Sáu đèo và Phi]
