Sống Chết Nơi Quyền Của Lưỡi – Phẩm Tính Của Lời Nói
Tựa đề của bài giảng dựa theo CN 18:21 Sống chết ở nơi quyền của lưỡi; Kẻ ái mộ [yêu mến] nó sẽ ăn bông trái [được hưởng lợi] của nó.
Không một đề tài nào cần thiết, quan trọng, thực tế hơn lời nói. Tại sao? Bởi vì lời nói là thể hiện suy nghĩ, hiểu biết bên trong lòng, là sự bày tỏ của thái độ, tính hạnh của một người. Bởi vì lời nói là phương cách giao tiếp quan trọng nhất giữa người và người. Qua lời nói chúng ta diễn đạt ý muốn, suy nghĩ, dự tính, ước mơ; trao đổi tin tức, dữ kiện; giải thích, cắt nghĩa cho người ta hiểu mình; diễn đạt tình cảm, bày tỏ yêu thương. Bởi vì lời nói ảnh hưởng, thay đổi quan hệ, tình cảm.
Nhưng một lý do quan trọng hơn nữa là bởi vì lời ĐCJC dạy trong Ma-thi-ơ 12:36-37 rằng đến ngày phán xét mọi người, mỗi người chúng ta sẽ bị xét xử bởi chính lời nói của mình. Nếu chúng ta thật sự tin và hiểu vào lời Chúa dạy trong đoạn KT này, lời nói chúng ta mỗi ngày, mỗi giờ chắc chắn sẽ thay đổi. 36 Ta nói với các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ trả lời về mọi lời nói cẩu thả [không cẩn thận, luông tuồng] của mình. 37 Vì bởi lời nói của ngươi mà ngươi sẽ được xem là công chính, và cũng bởi lời nói của ngươi mà ngươi sẽ bị kết tội.” (BD2011)
KT dạy về sức mạnh của lời nói. KT cũng dạy về phẩm tính cần có của người có trái TL. 5 phẩm tính: 1) Lời chân thật, trung thực, đúng sự thật; 2) lời tử tế, nhân hậu; 3) lời khôn ngoan, đúng nơi, đúng lúc; 4) lời thẳng thắng, can đảm; 5) mực thước, dẽ dặt.
Lời nói chân thật, trung thực, không dối trá, lừa lọc.
Lời tử tế, nhân hậu, lời khả ái, mềm mại thay vì lời mai mĩa, nguyền rủa, lời độc ác, lời cay đắng, rủa sả.
Lời khôn ngoan, đúng nơi, đúng lúc thay vì mạnh đâu nói đó, nói không suy nghĩ, cân nhắc.
Mực thước, dẽ dặt trong lời nói. Nói ít hơn nói nhiều, thay vì lúc nào cũng nói, muốn dành nói để bày tỏ kiến thức, hiểu biết, để được người khen.
Lời thẳng thắng, can đảm thay vì úp úp mở mở, nói cong vẹo, nói lời hai nghĩa để người nghe muốn hiểu sao thì hiểu, hay khi cần nói lại không dám nói, khi cần binh vực người thân yêu lại im lặng để người khác hiểu lầm, hay lên án.
Chúa ban chúng ta cần hai chân để đi, hai mắt để thấy, hai tai để nghe. Mất đi một sẽ trở nên tật nguyền. Máy bay cần hai cánh để bay. Nền tảng chính yếu và quan trọng nhất của phẩm tính lời nói tóm tắt trong lời dạy của PL: Nhưng Ngài muốn chúng ta lấy tình yêu thương nói lên sự thật, để trong mọi sự chúng ta tăng trưởng, vươn lên Đấng làm đầu, tức là Chúa Cứu Thế. (Ê-phê-sô 4:15). 5 phẩm tính này dựa trên 2 nguyên tắc, 2 nền tảng chính yếu KT dạy: sự thật và tình yêu thương. Tình yêu thương không sự thật chỉ là giả dối. Sự thật không tình yêu thương vô ích, không giúp được ai.
Chúng ta được dạy về trái Thánh Linh trong đời sống tín đồ. Người không gìn giữ, kiểm soát, làm chủ lời nói thì không thể mang bông trái TL. Tại sao? Rất đơn giản: không một người tín đồ nào nói mình có trái TL: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ mà khi mở miệng ra toàn lời độc ác, cay đắng, cộc cằng, luông tuồng, nhảm nhí, tục tỉu. Trái TL thể hiện qua hành động, thái độ, và hơn hết qua lời nói.
Trong đoạn 3:1-12, Gia-cơ nêu lên 6 hình ảnh khác nhau để dạy về 3 sức mạnh của lời nói: 1) hàm thiếc khiển ngựa, bánh lái của tàu -> điều khiển ; 2) ngọn lửa, vật dữ đầy chất độc -> tàn phá; 3) nguồi suối nước, cây sinh trái -> nuôi dưỡng.
Gia-cơ xác nhận rằng: Nhược bằng có ai tưởng mình là tin đạo mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lại lừa dối lòng mình, thì sự tin đạo của người hạng ấy là vô ích. (Gia-cơ 1:26).
NÓI LỜI CHÂN THẬT, TRUNG THỰC, KHÔNG DỐI TRÁ, LỪA LỌC
Các con cũng nghe lời dạy cho người xưa rằng: ‘Đừng bội lời thề, nhưng hãy hoàn thành lời hứa nguyện của con với Chúa.’ 34Nhưng Ta bảo các con: ‘Đừng thề gì cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì là ngai của Đức Chúa Trời. 35Đừng chỉ đất mà thề, vì là bệ chân của Ngài. Đừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì là kinh thành của Vua lớn. 36Đừng chỉ đầu con mà thề, vì con không thể làm cho một sợi tóc thành trắng hay đen được. 37Nhưng phải thì nói phải, không thì nói không, thêm bớt bất cứ điều gì đều từ quỷ mà đến. (Matt 5:33-37 – BDM)
ĐCJC dạy chúng ta phải nói thật, nói lời chân thật, trung thực, không gian dối, không lừa lọc. Trong bài giảng trên núi khi Chúa nói: Các con cũng nghe lời dạy cho người xưa, Chúa không trích KTCU. Như chủ yếu là lời dạy của các thầy thông giáo, của người Pha-ri-si thời bấy giờ khi họ giải thích KTCU.
Những lời dạy của các tg&P vì dựa theo lời dạy trong KTCU dạy nên cũng tốt trong chừng mực nào đó. Tuy nhiên qua thời gian, họ thêm thắt hay cắt bỏ nhiều điều, họ thay đổi chút này chút nọ từ lời dạy của ĐCT. Dĩ nhiên trong KTCU có nhiều nơi dạy chớ bội bạc lời hứa với ĐCT, với người. Như trong TĐ: Khi con hứa nguyện điều gì với Đức Chúa Trời thì đừng chậm trễ hoàn nguyện, vì Ngài chẳng vui thích kẻ dại. Vậy, hãy hoàn thành điều con hứa nguyện. (TĐ 5:4).
Khi đọc câu 34-36 chúng ta rõ đây là lời dạy của các tg&P. Họ dạy rằng nếu một người thề bởi đền thờ nhưng nếu bội ước thì cũng không bị phạt. Nhưng nếu thề bởi của lễ dâng trong đền thờ thì không thể bội ước và sẽ bị phạt. ĐCJC bát bỏ lời dạy của họ. Chúa dạy đừng thề.
Tôi muốn giải thích rõ điều này: Chúa không dạy chúng ta không thể thề hứa nơi công cộng. Hê-bơ-rơ viết chính ĐCT cũng hứa và lập lời thề: Khi Đức Chúa Trời hứa cùng Áp-ra-ham, và vì không thể chỉ đấng nào lớn hơn, nên Ngài chỉ chính mình Ngài mà thề với người… Đức Chúa Trời cũng vậy, muốn càng tỏ ra cho những kẻ hưởng lời hứa biết ý định Ngài là chắc chắn không thay đổi, thì dùng lời thề; 18 hầu cho nhờ hai điều chẳng thay đổi đó, --- và về hai điều ấy Đức Chúa Trời chẳng có thể nói dối, --- mà chúng ta tìm được sự yên ủi lớn mạnh (Hê 6:13, 17)
Ngày nay khi nhậm chức tổng thống HK cũng đặt tay lên KT mà thề trước cả quốc gia. Khi ra tòa án, mọi người đều phải giơ tay lên và hứa sẽ nói sự thật, chỉ nói sự thật, không gì khác ngoài sự thật. Vậy ĐCJC dạy gì? Không có những mức độ khác nhau trong sự thật.
Đừng chỉ trời mà thề vì trời là của ĐCT, Ngài tạo ra các tầng trời, là ngai của Chúa. Đừng chỉ đất mà thề vì đất cũng của ĐCT, là bệ chân của Chúa. Đừng chỉ thành Giê-ru-sa-lem mà thề vì thành cũng là của ĐCT. Tất cả mọi điều con người dùng để thề đều thuộc về ĐCT. Ngài đều thấy, biết tất cả. Không ai có thể trốn tránh khỏi sự hiện hữu, khỏi mắt Chúa. Vì vậy, mỗi lời nói đều buộc chúng ta như khi chúng ta thề hứa, như khi bị buộc dưới lời thề. Mỗi lời nói đều đòi hỏi cùng một sự chân thật, trung thực, đáng tin cậy như một lời thề. Đây chính là lời dạy của ĐCJC.
Một số qv có thể nghĩ về vài câu chuyện trong KT khi người nói không thật, như kỹ nữ Ra-háp hay các bà mụ đỡ đẻ trong xứ Ai-cập. Tôi sẽ giải thích trong bài giảng khác về câu hỏi quan trọng này.
ĐCJC dạy không có những mức độ khác nhau về sự trung thực, chân thật trong lời nói. Khi nói với một người tôi sẽ cầu nguyện cho anh chị. Lời nói này phải được chân thật, đáng tin cậy như một lời thề. Khi hứa với con sẽ dẫn đi chơi, lời hứa này cũng phải chân thật, đáng tin cậy như một lời thề. Khi nói giữa hội thánh hay nói riêng, lời nói cũng phải chân thật, đáng tin cậy như nhau. Nơi công cộng hay nơi phòng vắng, giữa mọi người trong hội thánh hay chỉ với một người, trong gia đình hay trong nơi làm việc, trong vòng bè bạn hay trong vòng tín hữu, với người lớn hay với người nhỏ, với người giàu hay với người nghèo… trong mọi nơi, với mọi người lời nói của người tin Chúa, người tín đồ đều phải có cùng một mức độ chân thật, đáng tin như lời thề hứa. Đây là một tiêu chuẩn rất cao Chúa đòi hỏi người tin Chúa.
Nói thật còn có nghĩa là chúng ta phải nhận lấy trách nhiệm của lời mình nói ra. Không thể chối khi lời nói của chính mình gây ra tổn thương, hiềm khích, chia rẽ, bất hòa. Cũng đừng mau nhận công lao “bởi vì lời tôi khuyên, tôi dạy nên sự việc mới nên tốt”.
Tại sao lời nói phải chân thật? Bởi vì lời nói dối gieo sự ngờ vực, gây chia rẽ. Nhân chứng lương thiện khai sự thật, còn nhân chứng bất lương bịa đặt điều dối trá. Lời nói xấu đâm buốt như gươm, nhưng lời khôn khiến vết thương lành (CN 12:17-18 - BDM)
Thử hỏi một gia đình mà chồng vợ dối nhau, con cái dối cha mẹ thì làm sao có thể tạo nên sự tin tưởng, nói chi đến tình yêu thương, đùm bọc nhau. Thử hỏi một hội thánh mà mục sư và tín đồ nói dối với nhau, tín đồ với tín đồ dối nhau thì làm sao có thể gọi là hội thánh ĐCT, làm sao có thể đem TL đến cho người ngoại. Có lúc vì muốn được lòng người, hay không muốn làm mất lòng người mà chúng ta thay đổi sự thật để làm bùi tai người nghe. KT cảnh cáo: Ai xưng kẻ ác là công bình, và kẻ nào lên án cho người công bình, Cả hai điều lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va (CN 17:15)
Ngụ ngôn Tây Phương có chuyện “cậu bé la lên có sói” (the boy who cried wolf). Chuyện kể về một cậu bé chăn cừu muốn được chú ý nên la lên cho dân trong làng: có sói, có sói. Cả làng dấy động, người nào cũng sợ gà vịt, cừu chiên của mình bị sói dữ ăn thịt, nên nhốn nháo chạy đầu này, chạy đầu kia để phòng ngừa, chuẩn bị đối phó với sói. Nhưng chờ mãi không thấy sói đến. Cậu bé cười bảo dân chúng “tôi chỉ đùa thôi!” Vài tuần nữa cậu lại kêu sói lần nữa. Dân làng cũng lại nhốn nháo lo bảo vệ chiên cừu, gà vịt. Cậu bé lần này càng cười to vì lừa được dân lần thứ hai. Một ngày khi cậu thấy một bầy sói dữ muốn bắt chiên của cậu, nên la lới cùng dân làng: có sói, có sói, thật bà con ơi! Nhưng lần này dù có sói thật dân làng cũng không tin vì đã hai lần bị lừa. Bài học là gì chắc qv đã rõ. Người nói dối dần rồi trở nên thật với họ, và rồi với thời gian khi mọi người biết ra, không ai có thể tin họ được.
Lưỡi giả dối ghét những kẻ nó đă chà nát; Và miệng dua nịnh gây điều bại hoại. (26:28)
Vì thế, anh chị em phải lột bỏ mọi điều dối trá, hãy nói thật với người lân cận vì chúng ta đều là chi thể của nhau. (Ê-phê-sô 4:25 – BDM)
KT dạy rất rõ về những điều ĐCT gớm ghét trong CN6:16-19: 16 Có sáu điều Đức Giê-hô-va ghét, Và bảy điều Ngài lấy làm gớm ghiếc: 17 Con mắt kiêu ngạo, lưỡi dối trá, Tay làm đổ huyết vô tội 18 Lòng toan những mưu ác, Chân vội vàng chạy đến sự dữ, 19 Kẻ làm chứng gian và nói điều dối, Cùng kẻ gieo sự tranh cạnh trong vòng anh em. Trong 7 điều Chúa ghét, 3 điều thuộc về lời nói!
Một điều người tin Chúa cần tránh là môi miệng đãi buôn: có nghĩa là ngoài miệng ngọt ngào, nhân từ khi đối diện nhưng sau lưng có lời cay đắng, độc ác. Điều này hoàn toàn khác với buộc mình làm điều đúng dù trong lòng không muốn. Khác đây là nếu lòng đầy cay đắng, thù hằn thì làm sao có thể nói lên lời chân thật?
Kẻ ghét con sẽ tìm cách dùng lời nói để ngụy trang, trong đầu nó âm mưu điều lường gạt. Dù cho nó ăn nói ngon ngọt, con chớ tin, vì đầu óc nó đầy ý nghĩ gian ác. (26:24)
Đừng ăn thức ăn của kẻ ích kỷ; đừng tham muốn thức ăn ngon của chúng. Kẻ ích kỷ lúc nào cũng lo lắng về phí tổn thức ăn. Chúng mời mọc, “Mời anh ăn và uống,” nhưng trong lòng thì không muốn. Con sẽ phải mửa ra miếng thực phẩm con đã nuốt vào, con sẽ phí lời nói nhân hậu. (CN 23:6-8 - BDM)
NÓI LỜI TỬ TẾ, NHÂN HẬU, LỜI KHẢ ÁI, MỀM MẠI THAY VÌ LỜI MAI MĨA, NGUYỀN RỦA, LỜI ĐỘC ÁC, LỜI CỘC CẰN, LỚN TIẾNG.
Đây là ý của lời ĐCJC dạy trong Matt 5:21-22: Các ngươi có nghe lời phán cho người xưa rằng: Ngươi chớ giết ai; và rằng: Hễ ai giết người thì đáng bị tòa án xử đoán. 22 Song ta phán cho các ngươi: Hễ ai giận anh em mình thì đáng bị tòa án xử đoán; ai mắng anh em mình rằng: Ra-ca, thì đáng bị tòa công luận xử đoán; ai mắng anh em mình là đồ điên, thì đáng bị lửa địa ngục hành phạt.
Đây là nền tảng thứ hai, cánh thứ hai của lời nói: nói thật trong tình yêu thương. Nói thật để giúp cho người nghe, để động viên, khích lệ, nâng đở, chứ không phải để mạ lỵ, mắng nhiếc, làm nhục người nghe.
Thiệt hại của một lời mắng nhiếc, rủa sả, cũng như thiệt hại của một vũ khí, một lưỡi gươm. Khi gươm đâm vào rồi, dù có rút ra, thì cũng đã gây thương tích trầm trọng. Và nếu vết đâm được lành thì cái thẹo của vết đâm vẫn còn đó. Lời nói thiếu suy nghĩ như lưỡi gươm đâm thủng, Nhưng lưỡi người khôn ngoan chữa lành. (CN 12:18).
Khác với gươm đâm, vết thương thấy được và người đâm biết mình đã gây thương tích, nhưng vết thương gây ra bởi lời nói nhiều khi không thấy được, không biết mình đã gây thiệt hại. Nhiều khi một người vì lời nói gây thương tích, chia rẽ nhưng không hề hay biết. Lắm lúc họ lại nghĩ những lời nói đó “giúp” cho người!
Gươm sau khi rút ra còn có thể tra vào vỏ, nhưng một khi lời nói đã thốt ra, không ai có thể thu lại, bỏ vào chai, đóng nắp lại. Khi qv đã nói ra, lời nói đó không còn thuộc về qv nữa, nhưng thuộc về những người đã nghe. Qv cũng không thể lấy nó lại. Nguy hiểm hơn nữa lời nói còn được truyền đi, xầm xì từ người này sang đến người khác.
Gươm chuyền tay cũng vẫn là gươm. Nhưng lời chuyền tai không còn là lời đầu tiên nữa. Con kiến nhỏ xíu rồi hóa thành con voi to lớn! Có khi chỉ cần một lời nói mà đem đến tai hại không thể hồi phục được: phá hủy một tình bạn, chia rẽ một gia đình, một hội thánh, tổn thương danh dự một người, phá hũy cả một đời người.
Lời nói có thể gây thương tích, nhưng còn hơn thế nữa. Lời có thể giết người. Sống chết ở nơi quyền của lưỡi (CN 18:21). Trong KT, từ sự sống, đời sống hàm ý 3 phương diện, 3 lãnh vực sau đây: thể xác, nội tâm & tâm linh, cộng đồng. Gươm, súng lấy đi đời sống về thể xác. Lời nói cũng có thể giết chết một người.
Lời nói không chỉ giết người nhưng còn giết chết cả đời sống nội tâm và tâm linh, và giết chết đời sống với người chung quanh, với cộng đồng.
Thử hỏi xem bao nhiêu người tránh né hội thánh, tránh né tín đồ, tránh né KT chỉ vì nghe lời ăn tiếng nói của một tín đồ không khác gì người không biết Chúa. Hay khi vào hội thánh, nếu bị xem thường hay khinh dễ, nếu bị chê bai, hay chỉ trích, thì ai muốn tin Chúa? Phải chăng nếu qv vì lời nói mà làm cho một người, dù chỉ một người, từ bỏ hay chống đối đạo Chúa thì chính qv cũng đã giết linh hồn của người đó hay sao?
Qv có biết người nào bị phá hủy danh dự chỉ vì những lời vu khống, buộc tội dối trá hay không? Khi danh dự không còn, làm sao có thể có quan hệ với người chung quanh? Một lời làm chứng dối có thể khiến một người bị tù tội, tàn hủy cả tuổi xuân, phá hoại cả gia đình. Ai bảo lời nói không giết người, giết linh hồn, giết tuổi xuân, giết cả bao nhiêu quan hệ?
Câu chuyện trên cũng được một tác giả tóm tắt lại trong hai câu nói hết sức ý nghĩa sau: Không phải lưỡi là bộ phận đem lại giao tế xã hội, nói lời hùng biện, lời tử tế, lời nhân từ, lời thờ phượng hay sao? Không phải lưỡi là bộ phận phát lên lời nguyền rủa, lời phỉ báng, lời mai mĩa, lời nói xấu, lời gian dối hay sao? (Spiros Zodhiates, The Behavior of Belief)
PL và tín hữu HT Cô-rinh-tô có sự ghen ghét, bất hòa, cắn đắng với nhau nên dùng lời nói để nói hành, nói gần nói xa, để gây chia rẽ, hỗn loạn trong vòng tín đồ, trong HT: Tôi còn e rằng trong các anh em có những điều rầy rà, ghen ghét, nóng giận, bất hòa, nói hành, nói gần nói xa, kiêu căng, hỗn loạn chăng. (2 Cô-rinh-tô 12:20)
Ví dụ: những người gọi điện thoại lúc chiều khi đang ăn tối để bán bảo hiểm. Tôi thường gắt gỏng, bực dọc, lớn tiếng với họ. Lan khuyên không nên như thế vì họ cũng chỉ là những người làm việc, kiếm sống, nuôi gia đình. Có thể hoàn cảnh của họ còn khó khăn hơn tôi.
1 Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận; Còn lời xẳng xớm trêu thạnh nộ thêm. 2 Lưỡi người khôn ngoan truyền ra sự tri thức cách phải; Nhưng miệng kẻ ngu muội chỉ buông điều điên cuồng 4 Lưỡi hiền lành giống như một cây sự sống; Song lưỡi gian tà làm cho hư nát tâm thần. (15:1,4)
Lời nói thốt ra với giọng điệu giận dữ, lớn tiếng, la lối thì dù có đúng cũng không ai muốn nghe. Và nếu có nhớ cũng chỉ nhớ đến sự tổn thương. Tôi không nói về những người dù có giận tím gan thì vẫn cười nói, vẫn nhỏ nhẹ nhưng trong lòng đầy gươm giáo.
Hằng chậm nóng giận mới khuyên được lòng của quan trưởng; Còn lưỡi mềm dịu bẻ gãy các xương. (25:15). Một nhà giải kinh cho biết rằng tục ngữ bẻ gãy các xương trong tiếng Hebrews có nghĩa là phá đi những thành kiến, chống đối một ý nào đó của một người. Nói cách khác là thuyết phục, đổi ý được. Qua lời thế nào? Tử tế, nhân hậu, khả ái, mềm mại, chân thật.
[Tương phản giữa Mi-canh nói lời mai mĩa cùng Đa-vít và A-bi-ga-in nói lời mềm mại, dịu dàng, khiêm nhu khi gặp Đa-vít (1 Sa-mu-ên 25).] Ông tên Na-banh, còn vợ ông là A-bi-ga-in. Bà vợ thông minh và xinh đẹp, trong khi ông chồng cứng cỏi và gian ác. Thuộc hạ Đa-vít bảo vệ các bầy chiên cừu không để bị cướp, phá nhưng khi đến xin thức ăn thì lại bị Na-banh làm nhục: "Đa-vít là ai? Con của Y-sai là ai? Dạo này có qúa nhiều đầy tớ bỏ chủ trốn đi. 11 Không lẽ ta lấy bánh, nước và thịt mấy con thú ta làm sẵn cho thợ cắt lông chiên đem cho những người ta không biết từ đâu đến?" Đa-vít nghe, nổi giận, đem 400 thuộc hạ đến để giết. Nghe tin đó bà A-bi-ga-in, lấy thức ăn, rượu, đồ khô rồi đến tận đường để gặp Đa-vít: Vừa thấy Đa-vít, bà A-bi-ga-in vội vàng xuống lừa, quì sấp xuống đất trước mặt Đa-vít. 24 Phủ phục dưới chân Đa-vít, bà van xin: "Lỗi tại tôi, thưa ông, tại tôi! Xin ông cho phép tôi trình bày, xin ông rủ lòng nghe tôi nói. Dù đã giải quyết xong, khi về nhà thấy chồng đang mở tiệc, say sưa bà chờ đến sáng mới nói cho nghe mọi sự.
Câu chuyện vua Đa-vít nhảy múa trước hòm giao ước, và lời nói khinh khi, mai mỉa của Mi-canh trong 2 Sa-mu-ên 6:20 “Hôm nay vua của I-sơ-ra-ên trông thật vẻ vang ghê! Bữa nay nhà vua đã để thân thể lộ liễu trước mặt bọn nữ tỳ, chẳng khác gì một tiện dân phô bày da thịt mà không biết xấu hổ.”. (BD2011) Qv nghĩ giọng nói của bà với Đa-vít thế nào? Chắc chắn là đầy giọng mai mĩa! Trước đó câu 16 cho biết trong lòng Mi-canh đã khinh khi Đa-vít. Khinh khi trong lòng bày tỏ ra lời nói. Và khi lời thốt ra rồi, không lấy lại được. Hậu quả của một lời đó là gì? ” 23 Vậy Mĩ-khánh con gái Sau-lơ không có con cho đến ngày bà qua đời.
NÓI LỜI KHÔN NGOAN, ĐÚNG NƠI, ĐÚNG LÚC THAY VÌ MẠNH ĐÂU NÓI ĐÓ, NÓI KHÔNG SUY NGHĨ, CÂN NHẮC, NÓI NƠI KHÔNG CẦN NÓI
A-bi-ga-in chờ đến sáng mới nói với Na-banh là cách sử sự khôn ngoan. Khi một người đang cao hứng, say sưa thì nói những lời thật vô ích. Vì vậy bà chờ đến sáng, khi hắn tỉnh táo. Nói thật quan trọng và cần thiết, nhưng nói thật đúng nơi, đúng lúc, đúng cách cũng quan trọng không kém. Nếu không dù có thật đến mấy, cũng sẽ không được lắng nghe và chấp nhận.
[Câu chuyện Na-than và Đa-vít trong 2 Sa-mu-ên 12:2-4] Tiên tri Na-than khi đến nói cho vua Đa-vít về trọng tội của ông, ông bắt đầu với một câu chuyện ngụ ngôn. Trong một thành kia có hai người, người nầy giàu, còn người kia nghèo. Người giàu có chiên bò rất nhiều; 3 nhưng người nghèo, nếu chẳng kể một con chiên cái nhỏ mà người đã mua, thì chẳng có gì hết. Người nuôi nó; nó cùng lớn lên với con cái người tại nhà người, ăn đồ người ăn, uống đồ người uống, và ngủ trên lòng người; nó như một con gái của người vậy. 4 Vả, có người khách đến người giàu; người giàu tiếc không muốn đụng đến chiên bò của mình đặng dọn một bữa ăn cho người khách đã đến, bèn bắt con chiên con của người nghèo và dọn cho kẻ khách đã đến thăm mình. Chính Đa-vít tự buộc tội mình và ý thức rõ về tội khi nghe chuyện. Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, người đã phạm điều ấy thật đáng chết! 6 Hắn phải thường bốn lần giá chiên con, vì đã làm như vậy, và vì không có lòng thương xót. 7Bấy giờ, Na-than nói cùng Đa-vít rằng: Vua là người đó!
Miệng đối đáp giỏi là niềm vui cho một người Và lời nói hợp lúc tốt đẹp biết bao. (15:23)
20 Lưỡi người công chính là bạc nguyên chất; Lòng người gian ác không có giá trị gì. 21 Môi miệng người công chính nuôi dưỡng nhiều người, Nhưng những kẻ ngu dại chết vì thiếu trí hiểu. (CN 10:20-21)
Lời đáp thành thật Như cái hôn nơi môi. (24:26) Tôi thường nghĩ ý nghĩa câu KT này là một lời thành thật ngọt ngào, trìu mến như một cái hôn trên môi. Nhưng tôi đọc trong một bài giảng về ý nghĩa của thành ngữ cái hôn nơi môi trong quan hệ như sau. Theo phong tục thời bấy giờ khi hai người (cùng phái) gặp nhau rất dễ biết vai vế của họ: khi bằng vai vế, họ hôn nhau trên môi; nếu chỉ khác nhau một chút, họ hôn trên má; nếu một người vai thật cao, một vai thật thấp thì người thấp sẽ cúi hay quì trước người kia. Vì vậy một nhà giải kinh giải thích câu KT này là trách nhiệm của người nói phải thích ứng với người nghe, phải làm cho mình bằng vai với người nghe hầu họ có thể hiểu. Chứ không thể nói cách tôi là như vậy đó, chịu thì tốt, không chịu thì thôi!
Đây là một ý quan trọng trong quan hệ chồng vợ, quan hệ giữa anh chị em trong Chúa. Chồng không thể nói với vợ mình: anh thường la lối là bởi vì đó là cách ba anh thường nói với má anh! Vợ cũng không thể nói với chồng: em thường có lời đay nghiến, mai mĩa là bởi vì mẹ em thường nói với ba em như vậy. Phải tập biết cách trò chuyện để có thể hiểu nhau. Một gia đình cải nhau, la lối rồi ngồi xuống ăn uống như không có gì xảy ra. Một gia đình khác bày tỏ cơn giận bằng cách làm thinh, không ai nói với ai, ai nấy vào phòng riêng, đóng cửa lại.
Chính vì lý do này mà tôi nghĩ chúng ta thường hiểu lầm nhau. Bởi vì chúng ta không chỉ nghe lời, nghe nội dung lời, nhưng còn nghe cả cách thức bày tỏ, giọng điệu khi nói.
NÓI LỜI THẲNG THẮNG, CAN ĐẢM TRONG TÌNH YÊU THƯƠNG THAY VÌ ÚP ÚP MỞ MỞ, NÓI CONG VẸO, NÓI LỜI HAI NGHĨA ĐỂ NGƯỜI NGHE MUỐN HIỂU SAO THÌ HIỂU, HAY KHI CẦN NÓI LẠI KHÔNG DÁM NÓI, KHI CẦN BINH VỰC NGƯỜI THÂN YÊU LẠI IM LẶNG ĐỂ NGƯỜI KHÁC HIỂU LẦM, HAY LÊN ÁN
Một lời quở trách tỏ tường Hơn là thương yêu giấu kín. 6 Bạn hữu làm cho thương tích, ấy bởi lòng thành tín; Còn sự hôn hít của kẻ ghen ghét lấy làm giả ngụy (27:5-6)
Thường vì không muốn làm mất lòng nên chúng ta không muốn, không dám nói thẳng. Qv chắc có nghe Mật ngọt chết ruồi, thuốc đắng giả tật, sự thật mất lòng. Người nói có trách nhiệm nói lời thẳng thắng, không cong vẹo. Phải can đảm để binh vực người dù biết không đem lợi gì về cho mình. Khi nghe điều không đúng, không phải về người thân, anh chị em trong Chúa, chớ làm thinh để họ bị hiểu lầm, bị oan ức. Qv nghĩ xem ai là người láng giềng, người bạn thật? Một người lên tiếng giải thích cho mình khi người khác nói oan, hay một người làm thinh vì không muốn mất lòng người khác, muốn mọi người thích mình? [Câu chuyện Giô-sép bị vu oan bởi vợ Phô-thi-pha. Một số học giả nghĩ rằng ông biết Giô-sép bị vu oan nhưng vì danh dự, vì không muốn mất mặt nên bỏ Giô-sép vào tù]
Để có thể nhận sự thật, chúng ta cũng phải học làm theo lời Chúa dạy: Trên giường mình hãy suy gẫm trong lòng, và làm thinh (yên lặng) (TT 4:4) Khi người ta nói thật với mình, nhất là những người có tâm tình, thì dù sự thật đau lòng cũng cần suy gẫm trong lòng, cần yên lặng để suy nghĩ trước khi phản ứng.
Nhưng đây cũng không phải hoàn toàn lỗi của người nói, nhưng có thể là lỗi của nghe. Ai dám nói thật khi nghe xong thì buồn giận, trách móc, không còn muốn có quan hệ nữa. Có người không muốn nghe lời thật. Nếu chúng ta cần nói sự thật thì chúng ta cũng cần nghe, nhận và sửa đổi theo lẽ thật.
Tuy nhiên KT dạy rất rõ phải ý thức người đối diện khi nói sự thật. Ai trách dạy kẻ nhạo báng mắc phải điều sỉ nhục, Ai quở kẻ hung ác bị điếm ố. 8 Chớ trách kẻ nhạo báng, e nó ghét con; Hãy trách người khôn ngoan, thì người sẽ yêu mến con. 9 Hãy khuyên giáo người khôn ngoan, thì người sẽ được nên khôn ngoan hơn; Khá dạy dỗ người công bình, thì người sẽ thêm tri thức nữa (9:7-9)
MỰC THƯỚC, DẼ DẶT TRONG LỜI NÓI, NÓI ÍT HƠN NÓI NHIỀU THAY VÌ LÚC NÀO CŨNG NÓI, MUỐN DÀNH NÓI ĐỂ BÀY TỎ KIẾN THỨC, HIỂU BIẾT, ĐỂ ĐƯỢC NGƯỜI KHEN
19 Hễ nhiều lời thì sẽ không thiếu vấp phạm, Nhưng người khôn ngoan gìn giữ môi miệng mình (10:19 – BDM)
Có khi mình biết nhưng chớ dành nói, mà để cho anh chị em mình bày tỏ kiến thức nữa. Đặc biệt trong buổi trò chuyện! Người gìn giữ lời nói là người hiểu biết; Người có tinh thần trầm tĩnh là người sáng suốt. Khi im lặng dù người ngu cũng được kể là khôn; Người kiềm chế môi miệng được coi là sáng suốt. (17:27-28 – BDM)
Nếu muốn giúp đở, sửa đổi một người, chúng ta cần có can đảm để nói sự thật. Tuy nhiên sự thật không giúp ai thay đổi nếu không nói trong tình yêu thương, với lòng chân thành, với lòng yêu thương.
