Phao-lô – Sứ Đồ Của Ân Điển
Chúng ta sẽ bắt đầu một loạt bài giảng mới về các thư tín của sứ đồ Phao-lô, bắt đầu với 1 Cô-rinh-tô. Tôi xin hỏi bao nhiêu người trong số đây biết sứ đồ Phao-lô là ai, vai trò của ông thế nào trong KT, trong lịch sử hội thánh? Bao nhiêu người đã đọc hay học qua thư Cô-rinh-tô?
Trước khi bắt đầu loạt bài về thư 1 Cô-rinh-tô, tôi muốn dùng bài giảng hôm nay để giới thiệu về PL, tác giả của thư tín này gởi cho các tín đồ tại thành phố Cô-rinh-tô. Mọi sử gia hội thánh và các sử gia bên ngoài cũng tin rằng chỉ sau ĐCJC, sứ đồ PL là người có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với niềm tin Cơ Đốc Giáo (Christianity).
Trong 27 sách/thư tín trong KT TU, PL là tác giả của 13 (nếu không kể sách Hê-bơ-rơ) sách/thư; tức gần phân nửa. Chúng ta sẽ nói qua về các thư tín này trong tuần lễ tới. ĐCT cũng đã chọn PL làm người sứ đồ để đem TL đến cho dân ngoại, ứng nghiệm đại mạng lệnh của ĐCJC và lời dạy của Chúa cùng 120 môn đồ trên phòng cao trong ngày Ngũ Tuần: Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất. (CV 1:8)
Qua các thư tín viết cho các hội thánh, PL giải thích, lý luận, khai triển về niềm tin, về các giáo lý chính yếu và quan trọng nhất của niềm tin Cơ-Đốc. Như những giáo điều về sự cứu rỗi qua ân điển bởi đức tin; về ý nghĩa của ân điển và luật pháp trong KT CU; về ĐCT và sự hiện diện của Ngài qua ĐTL trong đời sống tín đồ; về trái TL; về sự trở lại lần thứ hai của ĐCJC; về chức năng, trách nhiệm của hội thánh Chúa; về đời sống đạo trong Chúa; về nguyên tắc môn đồ hóa… Tất cả đều đến từ những lời dạy của PL trong các thư tín TU.
Tôi muốn chia sẻ 3 điều chính về cuộc đời của sứ đồ PL: 1) PL người bắt bớ đạo Chúa; 2) Thân thế và học vấn; 3) PL sứ đồ của ân điển, một tội nhân tày trời được ĐCJC cứu chuộc, được gọi và được sai đi để làm công việc khó và lớn của đại mạng lệnh: hãy đi khắp thế gian mà truyền bá TL cho muôn dân và lập môn đồ.
NGƯỜI BẮT BỚ ĐẠO CHÚA
Lần đầu tiên KT TU đề cập đến PL trong CVCSĐ 7:58 khi ông đang khi giữ áo cho những kẻ làm chứng dối để ném đá một môn đồ tên Ê-tiên cho đến chết: Bấy giờ, chúng [đám đông người Giu-đa] kêu lớn tiếng lên, bịt lỗ tai lại, cùng nhau chạy a lại, 58 kéo người ra ngoài thành, rồi ném đá người. Các kẻ làm chứng lấy áo xống mình để nơi chân một người trẻ tuổi kia tên là Sau-lơ. Tôi sẽ giải thích về tên Sau-lơ và PL trong phần tới. Theo một số học giả thì người trẻ tuổi tên Sau-lơ này lúc bấy giờ độ 33-35.
Kế đến KT viết những lời này về Sau-lơ (tức PL): Nhưng Sau-lơ phá hoại hội thánh, đi lùng từ nhà này qua nhà khác, bắt các tín hữu cả nam lẫn nữ và tống giam vào ngục. (CV 8:3).
Vậy hình ảnh đầu tiên của PL trong KT hoàn toàn khác với các sứ đồ đầu tiên được ĐCJC kêu gọi. Dù có thể tham lam, tàn nhẫn như Ma-thi-ơ là người thu thuế, hay có ý đồ lật đổ chính quyền La-mã như Si-môn người Xê-lốt thì các sứ đồ này cũng không phải là người đồng lõa giết người vô tội, người phá hoại hội thánh đầu tiên, người bắt bớ những môn đồ theo Chúa, bắt bớ đạo Chúa: Anh chị em hẳn đã nghe về lối sống của tôi khi còn theo Do Thái Giáo, thể nào tôi đã bắt bớ dữ dội và muốn phá hủy hội thánh của Đức Chúa Trời… Họ chỉ nghe rằng người đã bắt bớ họ trước đây, nay đang rao truyền Phúc Âm về đức tin mà người đã cố sức tiêu diệt. (Ga-la-ti 1:13, 23)
Dĩ nhiên trong tất cả các sứ đồ đầu tiên mỗi người đều có tội cùng ĐCJC: có người chối Chúa như Phi-e-rơ, có người hoài nghi như Thô-ma, những người khác bỏ trốn khi Jesus bị bắt và xử. Nhưng ĐCT lại dùng một người tay dính máu người vô tội, một người chủ tâm tìm bắt những tín đồ theo Chúa như chính lời PL thú nhận: Tôi đã bắt bớ những người theo Đạo này cho đến chết, bắt trói cả đàn ông lẫn đàn bà mà tống giam vào ngục (CV 22:4) để làm nhân chứng sống cho Ngài về ân điển.
Chính vì là người trước đó đồng lõa để đám đông ném đá Ê-tiên đến chế, vì là người muốn phá hủy hội thánh nên PL hết sức quí trọng sự cứu rỗi, ân điển được chọn làm sứ đồ cho dân ngoại: Vì tôi vốn thấp kém nhất trong vòng các sứ đồ; không xứng đáng được gọi là sứ đồ vì tôi đã bắt bớ hội thánh của Đức Chúa Trời. (1 Cor 15:9). Có lẽ vì lý do này mà PL tự nhận ông là kẻ tội nặng nhất: Đây là lời đáng tin nhận hoàn toàn: Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đến trần gian để cứu người tội lỗi, mà ta nặng tội nhất (1 Ti-mô-thê 1:15). PL cũng ví mình như một thai sinh non (1 Cor 15:8) khi so với các sứ đồ khác là những thai sinh đúng tháng!
Cũng chính vì lý do này mà PL nhấn mạnh về ân điển, về ơn cứu chuộc tội nhân của ĐCJC. Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, 5 nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu… Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình. (Ê-phê-sô 2:4-5, 8-9).
Đây là sự khác biệt hoàn toàn giữa đạo Chúa và tất cả các tôn giáo khác. Các tôn giáo khác dạy rằng con người chỉ có thể đến với ĐCT và được chấp nhận khi làm đã đạt đến một tiêu chuẩn, mức độ nào đó qua việc làm thiện, qua sự vâng giữ điều luật, ăn hiền ở lành. Nhưng KT dạy rằng chúng ta đều là tội nhân được cứu bởi ân điển qua đức tin. Khi thật sự hiểu rõ điều này thì không lý do gì một tín đồ có thể hãnh diện, tự phụ về công đức của mình. Mọi việc thiện của chúng ta cũng chỉ như một tấm giẻ rách dơ bẩn trước mặt ĐCT thánh khiết.
Đây cũng là lý do mà tôi gọi PL là sứ đồ của ân điển. Cả đời có bao giờ PL quên được ơn cứu rỗi này. Những người tin Chúa ý thức rõ về ân điển, về sự tha thứ đều có lòng biết ơn như PL. Như lời của bài thánh ca Ân Hồng Cứu Ân: Ôi, lạ thay ân trạch của Chúa khoan hồng! Tràn ngập trên cả lòng đầy tội đen tối, Nơi đồi Gô-gô-tha tuôn huyết chan hòa, Là nguồn do huyết Chiên Con xưa trào sôi. Ôi, tội khiên thất vọng như sóng tê người, Cuồn cuộn ngăm đe dìm hồn mình trong biển, Nhưng thật không sao thuật cho biết ơn trời, Ðem tôi nương náu nơi thập tự bình yên.
PA Lu-ca kể lại một câu chuyện về một người Pha-ra-si tên Si-môn mời ĐCJC đến nhà ăn. Tại đó ngay trong bửa ăn, một người phụ nữ xấu nết trong thành đó khóc trên chân Chúa rồi lấy tóc chùi chân và đổ dầu thơm lên chân. Khi người Pha-ri-si (chắc cũng có những bạn của Si-môn) lầm bầm về người đàn bà xấu nết này, ĐCJC bảo với họ: Vậy nên ta nói cùng ngươi, tội lỗi đàn bà nầy nhiều lắm, đã được tha hết, vì người đã yêu mến nhiều; song kẻ được tha ít thì yêu mến ít. (Lu-ca 7:47)
Tôi muốn giải thích về tên của PL. KT dùng hai tên là Sau-lơ và PL. Không phải sau khi tin Chúa thì Sau-lơ đổi tên là PL như ĐCJC đã đổi tên Si-môn sang Phie-rơ. Về chủng tộc, PL là người Giu-đa (Do Thái). Tên Sau-lơ là một tên theo vị vua đầu tiên của dân tộc Giu-đa. Từ khi sinh ra PL đã là công dân của đế quốc La-mã, là một điều không dễ có, dù về chủng tộc là người Giu-đa, vì cha ông đã được quyền công dân trước đó. Theo luật pháp La-mã thời bấy giờ, mọi công dân đều phải đăng ký với 3 tên, cũng như chúng ta ngày nay với họ, chữ lót, và tên. Đây là một điều khác biệt với tên của người dân Giu-đa vì họ chỉ được biết duy bằng tên và để phân biệt thì có thể kèm theo nghề nghiệp hoặc nơi sinh, như Jesus Nazareth, Si-môn thợ thuộc da vùng Si-sê-ra hay Ma-thi-ơ người thu thuế. Tên công dân La-mã thời bấy giờ dựa theo tiếng La-tin, nên 9 ngày sau khi sanh, PL đã có tên La-tin là Paullus, theo tiếng Hy-lạp là Paulos và theo tiếng Hebrews là Sau-lơ. Vậy lý do Lu-ca dùng tên Sau-lơ là để hàm ý về thân thế gốc Giu-đa của PL.
THÂN THẾ VÀ HỌC THỨC
KT cho biết PL sinh ra tại thành phố Tạt-sơ, một thành phố cạnh biển Địa Trung Hải là thủ phủ của xứ Si-li-ci, ngày nay thuộc quốc gia Thổ-nhĩ-kỳ (Turkey). PL hãnh diện về nơi ông sinh ra và gọi thành phố Tạt-sơ là một thành nổi tiếng, Tôi là người Do Thái, quê ở Tạc-sơ, thuộc Si-li-si, công dân một thành danh tiếng. (CV 21:39). Trong thời đại đế Au-gút-tơ thành phố Tạt-sơ được một ân huệ rất lớn là không phải đóng thuế cho đại đế. Tạt-sơ không những là một thành phố lớn, sầm uất nhưng còn là một trung tâm văn hóa lớn của đế quốc La-mã bên cạnh A-thên (thủ đô xứ Hy-lạp) và Alexandria (thủ đô Ai cập).
PL là công dân của một thành phố nổi tiếng. Là người Giu-đa, dân chọn của ĐCT, thuộc dòng Benjamin, và có lẽ vì lý do này mà ông có tên là Sau-lơ vì vua Sau-lơ cũng thuộc dòng này. PL cũng là người Pha-ri-si, tức là giáo sư về kinh luật, người sống và làm theo mọi điều kinh luật dạy và hãnh diện về đời sống đạo đức, vâng giữ toàn bộ kinh luật Mô-se: Nếu ai nghĩ rằng mình có lý do để cậy vào xác thịt, tôi có lý do nhiều hơn:5 Tôi chịu cắt bì vào ngày thứ tám, thuộc chủng tộc Y-sơ-ra-ên, chi tộc Bên-gia-min, là một người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ; về phương diện Luật Pháp, tôi là một người Pha-ri-si; 6 về lòng nhiệt thành, tôi là kẻ bắt bớ Hội Thánh; còn đối với sự công chính theo Luật Pháp, tôi được xem như hoàn toàn. (Phi-líp 3:4-6 – BD2011)
Dù theo chủng tộc là người Giu-đa, nhưng PL từ khi sinh ra cũng là công dân La-mã: Khi bị căng ra để đánh đòn, Phao-lô hỏi một sĩ quan đứng gần: "Công dân La Mã chưa thành án mà đã bị đánh đòn thì có hợp pháp không?" 26Nghe câu ấy, sĩ quan này liền đến báo cáo cho viên quan: "Ngài định làm gì đây? Vì tên này có quốc tịch La Mã!" 27 Viên quan đến gặp Phao-lô mà hỏi: "Anh khai thật đi! Anh có phải là công dân La Mã không?" Phao-lô đáp: "Phải!" 28 Viên quan tiếp: "Ta phải trả một số tiền lớn mới được quốc tịch La Mã đấy!" Phao-lô đáp: "Còn tôi sinh ra thì đã công dân La Mã rồi!" (CV 22:25)
Dù sinh ra tại Tạt-sơ nhưng PL lớn lên và được giáo dục tại thành Jerusalem, có lẽ ở với người chị ông (CV 23:16). Tại Jerusalem ông được huấn luyện về luật pháp Mô-se bởi một giáo sư rất nổi tiếng tên là Ga-ma-liên, là người được mọi người kính trọng hết sức, và cũng là thành viên của tòa thẩm phán tối cao của dân Giu-đa gọi là Sanhedrin (từ 23 đến 71 người). Cũng như hôm nay học với một giáo sư đạt giải Nobel tại các trường đại học nổi tiếng thế giới như Harvard, Yale!
PL là người có học thức cao rộng. Đến nỗi khi đối chất trước quan Phê-tu và vua Ạc-ríp-pa, sau khi nghe lời làm chứng của PL, quan thốt lên lời này: 24 Ðang khi Phao-lô tự biện hộ cho ông như thế, Phê-tu nói lớn, “Hỡi Phao-lô, ngươi đã loạn trí rồi. Ngươi học nhiều quá nên đã loạn trí rồi.”25 Nhưng Phao-lô đáp, “Tâu Quan Phê-tu, tôi không loạn trí đâu, nhưng tôi đang nói những lời chân thật và hữu lý. (26:24)
Vậy về thân thế, gia tộc, về nơi sinh ra, lớn lên, về học vấn, về công nghiệp, PL có nhiều điều đáng hãnh diện. Nhưng khi so sánh với ân điển của ĐCJC thì PL xem mọi sự đó như không. 7Nhưng bất cứ những gì xưa kia tôi coi là lợi thì nay vì Chúa Cứu Thế tôi coi là lỗ. 8 Hơn thế nữa, tôi coi mọi sự như là lỗ vì sự hiểu biết Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa tôi, là điều tối trọng đại. Vì Ngài, tôi chịu lỗ tất cả, tôi coi những điều đó như rơm rác để được Chúa Cứu Thế 9 và được ở trong Ngài. Được như thế không phải nhờ sự công chính của tôi dựa trên Kinh Luật, nhưng bởi đức tin nơi Chúa Cứu Thế là sự công chính do Đức Chúa Trời ban cho nhờ đức tin. (Phi-líp 3:7-9)
Cũng trong lá thư khác gởi cho hội thánh thành Cô-rinh-tô khi nói về sự hầu việc Chúa khi so sánh với người khác, PL viết: Nhưng ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa. (2 Cor 10:17)
PL thật là một người đầy đủ tiêu chuẩn, đã được chuẩn bị để đem TL đến cho người ngoại: Vì là người Do Thái (Giu-đa), hiểu biết tường tận luật pháp Mô-se, là người Pha-ri-si sống theo các điều răn trong kinh luật nên ông hiểu được lý do gì dân Giu-đa không tin không và có thể giải thích về sự cứu rỗi cho họ. PL là công dân La-mã, sinh ra trong một thành phố chịu văn hóa Hy-lạp nên am hiểu cả phong tục tập quán của người La-mã và có kiến thức về văn hóa Hy-lạp nên có thể làm chứng cho dân ngoại.
Quả thật ĐCT có chương trình và dự tính cho mỗi đời sống chúng ta để làm công việc Ngài.
ĐƯỢC CỨU, ĐƯỢC GỌI, ĐƯỢC SAI ĐI
Một sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời của PL, và cũng của cả lịch sử hội thánh, là khi PL được Chúa cứu, được kêu gọi để hầu việc và được sai đi để truyền bá TL cho dân ngoại. Sự kiện PL được cứu được ghi lại 3 lần trong sách CV 9, 22, 26. CV 9 được kể lại theo lời thuật của bác sĩ Lu-ca, cũng là tác giả của sách CVCSĐ. Hai lần kia là do chính lời làm chứng của PL trước đám đông muốn giết ông tại thành Jerusalem (CV 22) và lời làm chứng của PL trước vua Ạc-ríp-ba (CV 29).
Câu chuyện xảy ra như sau: trong chuyến đi từ thành Jerusalem đến thành Đa-mách xứ Syria để tìm những người tin Chúa bắt giải về Jerusalem để xử (hoặc bỏ tù, hoặc giết), Nhưng đang đi đường đến gần Đa-mách, bỗng có ánh sáng từ trời chiếu lòa chung quanh Sau-lơ. 4 Ông té xuống đất, và nghe có tiếng gọi mình: "Sau-lơ! Sau-lơ! Sao ngươi bắt bớ Ta?" 5 Ông thưa: "Lạy Chúa, Ngài là ai?" Ta chính là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ! (CV 9:3-5)
Rồi Chúa bảo Sau-lơ vào thành Đa-mách để sau đó được gặp một tín đồ tên A-na-nia: 6 Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào trong thành phố, ngươi sẽ được chỉ bảo những điều phải làm." 7 Các bạn đồng hành của ông đều đứng yên lặng không nói được vì nghe tiếng mà không thấy ai cả. 8 Sau-lơ đứng dậy, mở mắt ra, nhưng chẳng thấy gì hết. Người ta cầm tay ông dắt vào thành Đa-mách. 9 Suốt ba ngày, ông bị mù, không ăn uống gì. (CV 9:6-9)
Sự gặp gở ĐCJC trên đường đến thành Đa-mách và sự thay đổi lạ lùng từ một người bắt bớ đạo trở nên một người giảng đạo Chúa chắc chắn đã đem đến một tin chấn động trong vòng những người Pha-ri-si tại thành Jerusalem. Và khi làm chứng cho vua Ạc-ráp-ba về sự kiện này, PL cho biết chính vua cũng đã nghe và biết về điều này: Vì tôi tin rằng đức vua biết rõ những điều nầy, nên tôi mới dạn dĩ tâu với vua. Bởi tôi tin chắc rằng không điều nào trong các điều nầy mà vua không biết, vì việc nầy không phải đã xảy ra ở một xó xỉnh nào. (CV 26:26)
Cũng tại đó ĐCJC cho biết không những PL được tha tội, được cứu nhưng còn được kêu gọi và sai đi để đem Tin Lành đến cho dân ngoại dù có phải trải qua bao nhiêu khó khăn, khổ nạn: 13 A-na-nia thưa, “Lạy Chúa, con có nghe nhiều người nói về người ấy. Người ấy đã làm hại các thánh đồ của Ngài tại Giê-ru-sa-lem biết bao, 14 và bây giờ người ấy ở đây với trọn quyền của các trưởng tế để bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Ngài.” 15 Nhưng Chúa phán với ông, “Hãy đi, vì Ta đã chọn người ấy làm một đồ dùng của Ta, để đem danh Ta đến với các dân ngoại, các vua, và các con cái I-sơ-ra-ên; 16 vì Ta sẽ tỏ cho người ấy biết người ấy phải chịu khổ bao nhiêu vì danh Ta.” (CV 9:13-16)
Sách CVCSĐ ghi lại chi tiết về 3 cuộc truyền giáo của PL và các bạn đồng hành tại các xứ trong vùng Tiểu Á rồi sang đến Âu Châu. Ghi lại về cuộc hành trình bằng đường biển từ thành phố Jerusalem đến thủ đô đế quốc La-mã là La-mã (Rome). PL là người đầu tiên đem TL đến các thành phố lớn nhất trong vùng Tiểu Á như Ê-phê-sô, Cô-lô-se, và cũng là người đầu tiên đem TL đến thành phố Phi-líp, Âu Châu và các thành phố lớn gồm A-tên, thủ đô xứ Hy-lạp hôm nay, Cô-rinh-tô, 1 trong những thành phố lớn nhất thời đó.
Trong tất cả các sứ đồ, PL là người truyền giáo đi nhiều thành phố, lãnh thổ, lập nhiều hội thánh hơn hết. Ước tính trong 3 cuộc truyền giáo và chuyến đi đến thành La-mã thì PL đã đi tổng cộng 8,500 miles, cả đường biển lẫn đường bộ, tức bằng khoảng đường bay thẳng từ giữa nước HK đến thành phố Sài Gòn. Chúng ta nên nhớ trong thời PL sinh sống, một ngày đi ngựa trên đường bằng phẳng, thuận lợi nhanh nhất là 40 miles, đường đồi 30 miles. Vậy từ Albq đến Santa Fe phải mất hơn một ngày đường. Ước tính trong 3 cuộc truyền giáo và chuyến đi đến thành La-mã, PL đã đi qua khoảng 70 thành phố. Số người liên hệ đến cuộc đời hầu việc Chúa của ông có tên trong các thư tín và Công Vụ gần 130 người.
Thành quả của PL đối với hội thánh đầu tiên và cả lịch sử hội thánh Chúa không thể nào đánh giá hết. Các thư tín của PL là nền tảng của giáo điều, của niềm tin, của đời sống đạo. Giáo điều Cơ Đốc (Christian doctrine) được PL giải thích và khai triển trong hai sách/thư là Rô-ma và Ga-la-ti. Niềm tin của toàn bộ các hội thánh cải cách phục lâm (Protestant) và cả hội thánh đều dựa vào nền tảng theo hai thư này.
Theo truyền thống PL bị đại đế Nero xử chém đầu vào khoảng năm 66-68. Vậy PL sống khoảng 68 tuổi. Ông được cứu lúc khoảng 30-33 tuổi và hầu việc Chúa trong vòng 35 năm.
