Nơi Ẩn Náu Trong Gian Truân
Mạng lệnh về các thành ẩn náu phân biệt rất rõ giữa chủ ý & vô ý sát nhân và chỉ dành cho những ai vô ý giết người. Luật ban cho người phạm trọng lỗi cơ hội để ăn năn, chuộc lỗi.
Chủ ý sát nhân:
Nhưng nếu người ấy đánh bằng đồ sắt, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử. 17 Nếu người đánh bằng một cục đá cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử. 18 Cũng vậy, nếu người đánh bằng đồ cây cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử. 19 Ấy là kẻ báo thù huyết sẽ làm cho kẻ sát nhân phải chết; khi nào kẻ báo thù huyết gặp kẻ sát nhân thì phải làm cho nó chết đi. 20 Nếu một người nào vì lòng ganh ghét xô lấn một người khác, hay là cố ý liệng vật chi trên mình nó, và vì cớ đó nó bị chết; 21 hoặc vì sự thù đánh bằng bàn tay, và vì cớ đó nó bị chết, thì người nào đánh đó hẳn phải bị xử tử. Ấy là một kẻ sát nhân; người báo thù huyết khi nào gặp kẻ sát nhân phải làm cho nó chết đi. (DSK 35:16-21)
Vô ý sát nhân:
Nếu vì tình cờ, vẫn hòa thuận nhau, mà người có lấn xô, hoặc liệng vật chi trên mình người kia, 23 hoặc nếu không phải thù nghịch chẳng có ý làm hại, lại không thấy mà làm rớt một cục đá trên mình người kia, có thế làm chết được, và nếu người chết đi, 24 thì cứ theo luật lệ nầy, hội chúng phải xử đoán cho kẻ đã đánh và kẻ báo thù huyết: 25 hội chúng sẽ giải cứu kẻ sát nhân khỏi tay người báo thù huyết, và biểu người trở về thành ẩn náu, là nơi người đã chạy ẩn mình; và người phải ở đó cho đến chừng nào thầy tế lễ thượng phẩm đã được xức dầu thánh qua đời.
Chúng ta cũng biết mạng lệnh lập các thành ẩn náu rất quan trọng với ĐCT và trong luật pháp Chúa ban cho dân sự. Tại sao? Bởi vì mạng lệnh này cũng được viết trong 4 sách khác của Ngũ Kinh: đầu tiên trong Xuất sau khi ĐCT ban phát 10 điều răn (Xuất 21:12-13), DSK 35, PTTLK 19, và cuối cùng Giô-suê 20. Và trong sách Giô-suê, mạng lệnh này được viết trước cả việc phân bố 48 thành ở cho chi bộ Lê-vi của các thầy tế lễ.
Ngay sau khi ban phát 10 điều răn cho Mô-se trên núi Si-nai, ĐCT cũng nói về tương lai của các thành ẩn náu: Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử. 13 Nhược bằng kẻ đó chẳng phải mưu giết, nhưng vì Đức Chúa Trời đã phú người bị giết vào tay kẻ đó, thì ta sẽ lập cho ngươi một chỗ đặng kẻ giết người ẩn thân. (Xuất 21:12-13)
Trước khi dân sự vào đất hứa: Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã diệt các dân tộc của xứ mà Ngài ban cho ngươi, khi ngươi đã đuổi chúng nó đi, được ở trong các thành và các nhà chúng nó rồi, 2 thì phải để riêng ba cái thành giữa xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi nhận lấy. 3 Ngươi phải dọn đường, chia ra làm ba phần địa phận của xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp: ấy hầu cho kẻ sát nhân ẩn núp tại đó. (Phục Truyền 19:1-3)
Dọn đường: đường đến thành ẩn náu phải được dọn dẹp để hoàn toàn không có một chướng ngại. Không qua những đoạn đường đèo núi hiểm trở, khó khăn; qua sông phải có cầu. Đến mỗi ngã rẽ phải có phải chỉ dẫn rõ ràng cho đường đến thành. Sau này dọc đường có những trạm với người túc trực để giúp đỡ, hướng dẫn kẻ lỡ giết người.
Theo tự điển Unger, trách nhiệm giúp đỡ cho người vô ý giết người thuộc về hội đồng công luận (Sanhedrin). Họ phải bảo quản cách mọi con đường dẫn đến các thành ẩn náu cách tốt nhất. Không đồi núi cản trở, mỗi sông phải có cầu, và đường phải rộng ít nhất 32 cubits (48 ft). Ở mỗi ngã rẽ phải có bản chỉ đường với dòng chữ “nơi ẩn náu”, và sẽ có 2 người am tường luật pháp bổ nhiệm để hộ tống kẻ giết người vô cớ, e người trả thù máu sẽ giết anh trước khi đến thành ẩn náu. (Unger, p. 208)
Đường rộng 48 ft! Theo tài liệu hướng dẫn quy hoặc thành phố HK, thì các thành phố nhỏ chỉ cần 10 ft mỗi lane, thành phố lớn 12 ft. Nếu mỗi chiều có 2 lanes, thì đúng thật là 48 ft!
Chia làm 3 phần địa phận của xứ: Từ các thành lớn đến các thành ẩn náu chỉ trong vòng 1-2 tiếng đồng hồ. Và mỗi vùng, dù bên đây sông hay bên kia sông Giô-đanh đều có thành ẩn náu.
Không chỉ cho dân sự Ỵ nhưng cho cả những người ngoại bang và kiều dân trong xứ.
Bao nhiêu trường hợp này xảy ra? Không nhiều. Vậy tại sao ĐCT ra mạng lệnh lập sáu thành ẩn náu với nhiều điều kiện thuận tiện nhất để người vô ý sát nhân có cơ hội sống còn? Vì ĐCT là Đấng giàu lòng nhân từ, muôn ban cho người vô ý phạm trọng tội sát nhân được sống.
Chúa Giê-hô-va phán rằng: Ta há có vui chút nào về sự chết của kẻ dữ sao? Há chẳng thà vui về sự nó xây bỏ đường lối mình và nó sống sao? (Ê-xê-chi-ên 18:21)
NƠI ẨN NÁU CỦA ĐA-VÍT TRONG THI THIÊN
Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi nương náu mình nơi Ngài. (TT 31:1) Khá nghiêng tai qua tôi, mau mau giải cứu tôi. Hãy làm hòn đá vững chắc cho tôi, Một đồn lũy để cứu tôi. 3 Vì Chúa là hòn đá và đồn lũy tôi; Xin dẫn dắt tôi nhân danh Chúa
Từ nương náu - ḥāsâ (khaw-saw') dùng trên 200 lần trong KTCU. Nói lên hình ảnh của một người trong cơn nguy hiểm, khốn cùng, không có ai, không biết nơi nào trong vòng loài người để tìm đến được trợ giúp, bảo vệ, che chở. Thường đi với những hình ảnh về ĐCT như bóng mát trong cơn nắng nồng; bóng cánh của chim mẹ nâng đỡ, bảo vệ chim con; hòn đá ẩn núp khỏi giông bão, cung tên của kẽ thù; thuẫn đỡ (khiên) khỏi gươm giáo, cung tên; tháp cao, đồn lũy để chạy trốn, ẩn núp khi giặc thù tấn công, vây hãm
TT 57 Đa-vít viết trong thời gian bị vua Sau-lơ tìm đuổi để giết chỉ vì lòng ghen tị, phải hai lần chạy núp trong vào hang động (1 Sam 22:1, 24:3)
1 Đức Chúa Trời ôi! xin thương xót tôi, xin thương xót tôi, vì linh hồn tôi nương náu nơi Chúa! Phải, tôi nương náu mình dưới bóng cánh của Chúa, cho đến chừng tai họa đã qua. (TT 57:1)
4 Linh hồn tôi ở giữa các sư tử; 6 Linh hồn tôi sờn ngã:
TT 18, 2 Sam 22:2 sau khi được ĐCT giải cứu, Đa-vít hát ngợi khen Chúa: Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là năng lực tôi, tôi yêu mến Ngài. 2 Đức Giê-hô-va là hòn đá tôi, đồn lũy tôi, Đấng giải cứu tôi; Đức Chúa Trời là hòn đá tôi, nơi Ngài tôi sẽ nương náu mình; Ngài cũng là cái khiên tôi, sừng cứu rỗi tôi, và là nơi náu ẩn cao của tôi. (TT 18:1-2)
Không chỉ trong hiểm nguy nhưng còn trong những nỗi đau buồn, nhục nhã vì chính lỗi lầm của mình đã phạm: Đức Giê-hô-va ôi! xin hãy thương xót tôi, vì tôi bị gian truân. Con mắt tôi hao mòn vì cớ buồn rầu, Linh hồn và thân thể tôi cũng vậy. 10 Mạng sống tôi tiêu hao vì cớ buồn bực, các năm tôi sút kém tại than thở; Vì cớ tội ác tôi, Sức mạnh tôi mỏn yếu, và xương cốt tôi tiêu tàn. (TT 31:9-10)
Bởi cớ các cừu địch tôi, tôi trở nên sự ô nhục, Thật một sự ô nhục lớn cho kẻ lân cận tôi, và một vật sợ hãi cho những kẻ quen biết tôi; Kẻ nào thấy tôi ở ngoài đều trốn khỏi tôi. 12 Tôi bị chúng quên đi như kẻ chết mà lòng không còn nhớ đến; Tôi giống như một cái bình bể nát. (31:11-12) – ô nhục, từ bỏ, xa lánh, không muốn đến gần; bình bể nát – lòng tan vỡ
Tôi đã nghe lời phao vu của nhiều kẻ, Tứ phía có sự kinh khủng: Đang khi chúng nó bàn nhau nghịch tôi, Bèn toan cất mạng sống tôi. (TT 31:13) – phao vu, dèm pha, nói xấu, buộc tội vì tội lỗi đã phạm.
NƠI ẨN NÁU TRONG GIÊ-XU
Người ta thường mượn danh một Đấng lớn hơn mình mà thề, phàm có cãi lẫy điều gì, thì lấy lời thề mà định. 17 Đức Chúa Trời cũng vậy, muốn càng tỏ ra cho những kẻ hưởng lời hứa biết ý định Ngài là chắc chắn không thay đổi, thì dùng lời thề; 18 hầu cho nhờ hai điều chẳng thay đổi đó, --- và về hai điều ấy Đức Chúa Trời chẳng có thể nói dối, --- mà chúng ta tìm được sự yên ủi lớn mạnh, là kẻ đã trốn đến nơi ẩn náu, mà cầm lấy sự trông cậy đã đặt trước mặt chúng ta. 19 Chúng ta giữ điều trông cậy nầy như cái neo của linh hồn, vững vàng bền chặt, thấu vào phía trong màn, 20 trong nơi thánh mà Đức Chúa Jêsus đã vào như Đấng đi trước của chúng ta, vì đã trở nên thầy tế lễ thượng phẩm đời đời, theo ban Mên-chi-xê-đéc. (Hê-bơ-rơ 6:16-20) Hai điều chẳng thay đổi: lời hứa và lời thề của ĐCT.
chúng ta là những người chạy đến ẩn náu nơi Ngài, được sự an ủi lớn và nắm chắc niềm hi vọng đã đặt trước mặt mình. (BHĐ)
chúng ta, những người trốn vào nơi ẩn náu, được khích lệ mạnh mẽ, nắm lấy niềm hy vọng đặt trước mặt mình. (BDM)
Bốn điểm giống nhau giữa các thành ẩn náu và nơi ẩn náu trong ĐCJC:
1. Trung tâm điểm của hai nơi ẩn náu. Các thành ẩn náu nằm trong khắp xứ, hai bên sông Giô-đanh. Mọi người trong xứ đều có thể chạy đến thành không khó khăn. Đường đi không có chướng ngại. Mọi con đường được sửa chữa cẩn thận vào mỗi mùa xuân, sau những cơn mưa và thời tiết xấu của mùa đông. Hơn nữa, những cây cầu được xây dựng ở những nơi cần thiết để một người chạy trốn không phải chạy xuống khe núi mà có thể đi thẳng, đi theo con đường ngắn nhất có thể đến thành phố. Ở mỗi ngã tư là những biển báo đặc biệt có nội dung, "Nơi ẩn náu!" và chỉ về hướng thành phố. Chúng phải đủ lớn để một người đàn ông chạy chăm chỉ có thể dễ dàng đọc chúng. Chúng ta có thể hình dung một người đàn ông đang đi trên đường. Một người đàn ông khác đang đuổi theo anh ta, kiếm ra. Người đàn ông đầu tiên, không có thời gian để sử dụng kính lúp, đến gần bảng hiệu và nhìn thấy những từ lớn, phóng đại "Nơi ẩn náu!" Anh ta chạy đến thành phố và an toàn.
2. Các thành ẩn náu dành cho mọi người, không phân biệt dân sự Ỵ, hay kiều dân, hay dân ngoại.
3. Cửa thành không bao giờ đóng.
4. Thành có đủ chổ ở, thức ăn cho người đến xin ẩn náu.
5. Nếu không chạy đến thành, thì kẻ vô ý sát nhân sẽ chịu chết dưới tay người trả thù máu, không ngoại lệ. Ngoài các thành ẩn náu, không có bất cứ một nơi nào khác trong xứ chắc chắn an toàn, bảo vệ cho kẻ vô ý sát nhân.
Sự giống nhau giữa thành ẩn náu và ĐCJC hết sức rõ ràng:
1. ĐCJC là trung tâm của sự cứu tội. Mọi người từ mọi nơi, trong mọi lúc đều có thể đến với Ngài. HT Chúa là nơi rao báo về Tin Lành, Phúc Âm, tin vui mừng về Chúa. HT phải là bản chỉ dẫn “Nơi ẩn náu” cho mọi người tìm Chúa.
Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không. (Khải Huyền 22:17)
2. ĐCJC tiếp nhận mọi người, Giu-đa hay dân ngoại, nam hay nữ, trẻ hay già, nô lệ hay tự do, giàu hay nghèo, học thấp hay học cao – không phân biệt. Cho mọi người.
3. ĐCJC không bao giờ khóa cổng cho người tìm đến. Không cần đánh thức Ngài, không cần phải đứng chờ cho cửa mở trong khi hiểm nguy ụp đến. Ngay trong giờ phút cuối đời, một người vẫn còn có cơ hội để thật sự ăn năn, xin Chúa tha tội và tin nhận Ngài. Như tên trộm cướp trên thập giá.
Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; 10 vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi. 11 Vả, Kinh thánh nói rằng: Kẻ nào tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn. 12 Trong người Giu-đa và người Gờ-réc không có sự phân biệt gì hết, vì họ có chung một Chúa, giàu ơn đối với mọi kẻ kêu xin Ngài. 13 Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. (Rô-ma 10:9-13)
4. ĐCJC chắc chắn có thể cứu mọi tội nhân. Trong Chúa không hề thiếu chỗ, thiếu thức ăn, nước uống, thiếu nguồn trợ giúp cho những ai tìm đến Ngài. Tại sao? Bởi vì Ngài Ngôi Hai ĐCT, là ĐCT nên sự chết của Ngài vô giá. Không chỉ tha thứ, cứu tội nhưng còn qua sự bảo chứng của ĐTL, Ngôi Ba ĐCT mà mọi người tin nhận được quyền làm con trai, con gái ĐCT. Trong Con Yêu Dấu của Ngài
Trong thư Ê-phê-sô, sứ đồ Phao-lô viết: Trong tình yêu thương, Ngài [Đức Chúa Trời] đã định sẵn cho chúng ta địa vị làm con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo mục đích tốt đẹp của ý muốn Ngài, 6 để ca ngợi ân điển vinh quang mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài! (Ê-phê-sô 1:5-6 – BHĐ)
Câu “trong Con yêu dấu của Ngài” hay “trong Ngài” được dùng hơn 140 lần trong Kinh Thánh Tân Ước. Đây là một cách chính yếu để giải thích một ý thứ hai quan trọng và vô cùng cảm động về Tin Lành: khi chúng ta tin nhận Chúa, chúng ta không chỉ được Đức Chúa Trời tha thứ tội, nhưng còn được Ngài yêu thương, chấp nhận, ban cho như Ngài yêu thương, chấp nhận, ban cho chính Con Độc Sinh Giê-xu Christ. Đây là ý nghĩa của câu Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài.
5. Không có một nơi nào khác an toàn, không có một nguồn trợ giúp nào khác có thể cứu ngoài ĐCJC.
Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu. (Công Vụ 4:12)
Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót, 29 huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao? (Hê-bơ-rơ 10:28-29)
Hai khác biệt vô cùng to lớn và quan trọng giữa các thành ẩn náu và ĐCJC.
Thứ nhất, các thành ẩn náu chỉ có thể cứu những kẻ vô ý sát nhân, cứu những người phạm lỗi. Nhưng ĐCJC cứu những người có tội.
Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối, Đấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội. 7 Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. 8 Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. (Rô-ma 5:6-8) Từ yếu đuối có nghĩa là hoàn toàn bất lực, không thể tự cứu mình.
Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 5:21)
Thứ hai, ĐCJC ở gần tội nhân hơn các thành ẩn náu xưa cho người vô ý sát nhân.
Chúng ta không giống như một người vô ý sát nhân chạy đến một thành ẩn náu và được tha bổng sau một phiên tòa vì anh ta vô tội. Tất cả chúng ta đều có tội. Nếu bạn vẫn là một người không phải là Cơ đốc nhân, hãy chạy đến với Đấng Christ, vì những lời hứa của chính Đức Chúa Trời nói rằng, "Nơi ẩn náu! Nơi ẩn náu!" Nếu chúng ta là Cơ Đốc nhân, chúng ta phải tìm đến ĐCJC để làm nơi ẩn náu chắc chắn, trọn vẹn có thể tẩy sạch mọi tội lỗi và trong mọi những thăng trầm của cuộc sống, dù ngay trong khoảnh khắc này và tới, trong toàn bộ cuộc sống của chúng ta.
Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta. (Khải Huyền 3:20)
Còn HT Chúa thế nào?
