Nhớ Người Đem Đến Tự Do – Ê-sai 61:1-7
Thứ Hai tới đây là ngày lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial Day). Hầu hết thích ngày lễ này vì có thêm một ngày nghĩ thứ Hai. Nhưng đối với những gia đình có người đã mất trong chiến tranh, hoặc còn đang phục vụ trong quân đội, thì ngày lễ này mang một ý nghĩa vô cùng đặc biệt. Bởi vì chính những gia đình đó đã mất người thân yêu khi phục vụ trong quân đội, cho đất nước, cho sự tự do mà chúng ta đang có.
Stephen có một người bạn học chung lớp. Cha của em hiện đang ở một trại lính tiểu bang khác chờ ngày được gởi đi Afghanistan để phục vụ ở đó 1 năm. Tôi chắc rằng thứ hai tới đây ngày lễ Memorial có một ý nghĩa, giá trị đặc biệt vì chồng, cha sẽ được đưa đến một xứ lạ, vô cùng nguy hiểm, không biết tính mạng sẽ ra sau.
Người VN ta hiểu rõ ý nghĩa và giá trị của hai chữ tự do. 1000 chống giặc Tàu lúc nào cũng muốn xâm chiếm, đồng hóa; 100 đánh giặc Tây muốn VN làm thuộc địa cho Pháp. Năm 1954 sau ngày 20 tháng 7, hội nghị Geneva chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17, gần 500 ngàn người miền Bắc bỏ quê hương để vào miền Nam mà tìm sự tự do. Rồi 20 năm nội chiến vì mỗi bên đều tranh đấu cho tự do. Sau 1975 hằng trăm ngàn người liều mạng, bỏ xứ vượt biển Thái Bình mênh mông để làm gì? Để tìm sự tự do.
Sự khao khát được tự do là một ước nguyện chung của mọi người trên đất bất luận màu da, tiếng nói, chủng tộc, văn hóa, quốc gia, lục địa. Nhiều quốc gia tại vùng Trung Đông (Egypt, Libya, Siria, Iran, Tunisia) dân chúng biểu tình đòi sự tự do trước lãnh đạo độc tài, chuyên chế, dù bị bắt bớ, bị bắn giết. Điều này cũng cho thấy rõ rằng tự do tốn một giá hết sức đắt, tốn cả tiền bạc, tài của, tính mạng, xương máu. Có sự tự do nào lại không tốn một giá đắt?
CÁC LOẠI TỰ DO
Trong bài diễn văn trước Quốc Hội 06 tháng 01, 1941, Tổng Thống Franklin Roosevelt nói về 4 sự tự do: tự do ngôn luận (ăn nói); tự do tôn giáo, tín ngưỡng; tự do kinh tế; tự do khỏi sự sợ hãi (về chiến tranh, bắt bớ, tù đày, tra tấn). Chính vì 4 tự do này mà chúng ta đến xứ này để định cư, để chọn nơi đây làm quê hương thứ 2, để thế hệ tới của con cháu có tương lai, được tự do.
Giới nghiêm trong thời chiến tranh và sự tự do đi lại ngày đêm tại HK.
Hạn chế đi lại, thăm viếng sau 75 và sự tự do đi bất cứ nơi nào trên xứ mà không cần đến giấy tờ ngoài driver license
Tự do chỉ trích chính quyền, tổng thống và sự bắt bớ, tù đày, tra tấn tại nhiều xứ, cả tại VN
Tự do làm ăn buôn bán, mở tiệm bất cứ tiểu bang nào
GIÁ NÀO BẠN TRẢ CHO SỰ TỰ DO
Nếu hỏi sáng nay quý vị quý sự tự do nào nhất thì sẽ trả lời sau? Thường thì chúng ta quí điều chúng ta phải trả giá. Hễ giá càng cao thì điều đó càng quí. Nhưng thường thì điều gì miễn phí, không phải trả, chúng ta thường xài thả cửa! Tự do cũng vậy. Đối với người đã một lần mất tự do, hay phải trả một giá hết sức đắt (có thể mất người thân yêu, mất tài sản, danh dự) thì hai chữ tự do mang một ý nghĩa rất đặc biệt, rất quí báu.
Chúng ta thường nghe một số người nói rằng: những người VN đầu tiên đến xứ này hay đến nhiều năm trước đây có nhiều cơ hội hơn chúng tôi hôm nay. Sự thật là ngày hôm nay có nhiều chương trình trợ giúp hơn 75-76. Khi mới đến Dallas tôi biết rất nhiều người VN không hề biết đến các chương trình trợ giúp welfare, foodstamp hay sức khỏe. Tôi biết có một thanh niên đạp xe đạp đi làm, bị xe vượt đèn đỏ đụng. Anh phải nghĩ làm mấy ngày rồi trả cả tiền nhà thương vì không có cộng đồng, không biết tiếng Anh.
Cha mẹ VN thường nói với các con rằng nó không biết quí cơ hội, quí tự do có trên xứ này vì nó không phải trả giá cho những gì nó có.
Nhưng sự dững dưng này không chỉ với người Việt hay người HK hôm nay mà là điều cũng đã được ghi lại trong KT.
Hơn 400 năm dân tuyển của ĐCT là Y-sơ-ra-ên bị bắt làm nô lệ trong xứ Ai Cập. Sách XEDTK viết những lời này về đời sống nô lệ của dân sự, Người Ê-díp-tô bắt làm công việc nhọc nhằn, gây cho đời dân ấy nên cay đắng, vì nỗi khổ sở nhồi đất, làm gạch và mọi việc khác ở ngoài đồng. Các công việc nầy người Ê-díp-tô bắt dân Y-sơ-ra-ên làm nhọc nhằn lắm. (XEDTK 1:14) 400 năm. Một thời gian rất dài, nhất là sống trong vòng nô lệ. 5, 6 thế hệ sanh ra, lớn lên, không biết gì khác ngoài cuộc đời cay đắng, nhọc nhằn ngày đêm của người nô lệ. Thử hỏi có ai muốn sống cuộc đời nô lệ như dân Chúa tại Ai Cập?
Rồi ĐCT gọi Mô-se lãnh đạo dân sự ra khỏi xứ nô lệ. Phải chăng sự tự do đến với họ cách dễ dàng? Chỉ sau khi trải qua 10 tai họa ĐCT giáng trên xứ và vua dân Ai Cập, vua mới để cho họ rời xứ nô lệ. Mãi đến nay hàng năm người Do Thái vẫn kỷ niệm Lễ Vượt Qua để nhớ về sự tự do có sau khỏi vòng nô lệ trong xứ Ai Cập.
Nhưng sau khi có tự do dù chỉ trong một thời gian ngắn, khi gặp khó khăn dân sự lại than trách cùng Mô-se và ĐCT vì sự thiếu thốn vật chất. Họ không tin rằng Đấng đã giải cứu họ ra khỏi xứ nô lệ sau 400 năm có thể giải cứu họ khỏi quân của Pha-ra-ôn nơi biển đỏ, ban cho họ bánh, nước, áo, quần. Khi đến biển đỏ và bị quân Ai Cập đuổi theo, dân sự có lời sau đây với Mô-se Chúng lại nói cùng Môi-se rằng: Xứ Ê-díp-tô há chẳng có nơi mộ phần, nên nỗi người mới dẫn chúng tôi vào đồng vắng đặng chết sao? Người đưa chúng tôi ra xứ Ê-díp-tô để làm chi? Chúng tôi há chẳng có nói cùng người tại xứ Ê-díp-tô rằng: Để mặc chúng tôi phục dịch dân Ê-díp-tô, vì thà rằng phục dịch họ còn hơn phải chết nơi đồng vắng? (XEDTK 14:11-12). Họ thà trở lại làm nô lệ còn hơn chết nơi đồng vắng! Nhưng khi sống trong vòng nô lệ lại ta thán cùng ĐCT!
Một lúc khác, dân sự lại trách móc Mô-se chỉ sau 2 tháng 15 ngày ra khỏi xứ nô lệ Ôi! thà rằng chúng tôi chịu chết về tay Đức Giê-hô-va tại xứ Ê-díp-tô, khi còn ngồi kề nồi thịt và ăn bánh chán hê! Vì hai người dẫn dắt chúng tôi vào nơi đồng vắng nầy đều bị chết đói. (XEDTK 16:3) Không lâu sau đó, họ lại tìm cải lộn cùng Mô-se vì không có nước uống Dân sự bèn kiếm cớ căi lộn cùng Môi-se mà rằng: Hăy cho chúng tôi nước uống. Môi-se đáp rằng: Sao các ngươi kiếm cớ căi lộn cùng ta? Sao ướm thử Đức Giê-hô-va vậy? Dân sự ở đó không có nước, bị khát, nên oán trách Môi-se mà rằng: Sao người khiến chúng tôi ra xứ Ê-díp-tô, hầu cho chúng tôi, con và các bầy súc vật phải chịu chết khát thế nầy? (17:2-3)
Sống khổ sở, nhọc nhằn, nhục nhả trong xứ Ai Cập thì dân sự chỉ muốn được tự do. Khi có tự do rồi vẫn chưa đủ, lại muốn thêm nhiều điều khác. Chính vì vậy trước khi vào đất hứa ĐCT dùng Mô-se để nhắc dân sự những lời như sau Chớ đoán xét bất công khách lạ hay là kẻ mồ côi; và chớ chịu cầm áo xống của người góa bụa. Khá nhớ rằng mình đă làm tôi mọi nơi xứ Ê-díp-tô, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă chuộc ngươi khỏi đó. Cho nên ta dặn biểu ngươi phải làm như vậy. Khi ngươi gặt trong đồng ruộng, quên một nắm gié lúa ở đó, thì chớ trở lại lấy. Nắm gié ấy sẽ về phần khách lạ, kẻ mồ côi, và người góa bụa, hầu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho ngươi trong mọi công việc của tay ngươi làm. Khi ngươi rung cây ô-li-ve mình, chớ mót những trái sót trên nhánh; ấy sẽ về phần khách lạ, kẻ mồ côi, và người góa bụa. Khi người hái nho mình, chớ mót chi còn sót lại; ấy sẽ về phần khách lạ, kẻ mồ côi, và người góa bụa. Khá nhớ rằng mình đă làm tôi mọi trong xứ Ê-díp-tô; bởi cớ ấy, ta dặn biểu ngươi phải làm như vậy. (PTLLK 24:17-22)
Chúa muốn nhắc dân sự điều gì? Hai điều: 1) Chớ quên giá của sự tự do bởi vì các ngươi cũng đã từng sống tệ hơn khách lạ trong xứ Ai Cập. Phải mót lúa, mót trái mà sống, 2) Chớ quên rằng hôm nay có được tự do, được đầy đủ thì phải biết chia xẻ, giúp đở người thiếu thốn. Tự do không phải chỉ để dùng cho đến khi hết nhưng phải biết quí trọng, biết bồi đấp, biết dùng nó cách hữu dụng.
TỰ DO TÂM LINH
Bên cạnh tự do trong cuộc sống này, KT còn dạy chúng ta về một tự do khác nữa, tự do tâm linh: Xưa kia, anh em chẳng biết Đức Chúa Trời chi hết, thì làm tôi các thần vốn không phải là thần. Nhưng hiện nay anh em biết Đức Chúa Trời lại được Đức Chúa Trời biết đến nữa, sao còn trở hướng về lề thói hèn yếu nghèo nàn đó mà suy phục nữa ư? (Ga-la-ti 4:8-9). KT dạy trước khi được Chúa cứu chúng ta là nô lệ phục vụ cho các thần mà không phải là thần: sắc đẹp, bằng cấp, danh vọng, tài của.
Bên cạnh các thần không phải là thần, KT cũng dạy rằng trước khi được cứu chúng ta cũng là nô lệ của tội lỗi: Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi. (Giăng 8:34); Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời, vì sau khi anh em làm tôi mọi tội lỗi, thì đã từ lòng vâng phục đạo lý là sự đã ban làm mực thước cho mình! (Rô-ma 6:17)
Nhưng sau khi được cứu chúng ta không còn là nô lệ của tội lỗi nữa, được tự do khỏi tội lỗi, khỏi đời sống tối tăm trong tội lỗi: Đấng Christ đă buông tha chúng ta cho được tự do; vậy hăy đứng vững, chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa. (Galati 5:1)
Đoạn KT ĐCJC chọn đọc trong nhà hội khi về làng Na-xa-rét, quê hương Chúa, được ghi lại trong sách Lu-ca 4 là Ê-Sai 61: Thần của Chúa ngự trên ta: Vì Ngài đă xức dầu cho ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo; Ngài đă sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, Kẻ mù được sáng, Kẻ bị hà hiếp được tự do; Và để đồn ra năm lành của Chúa. (Lu-ca 4:18-19)
Mục đích của Tin Lành là để đem đến sự tự do cho những ai bị giam cầm trong tù ngục của ma quỉ, sợ hãi trước sự chết.
Trong TU có một lá thư rất ngắn Phao-lô viết có tên là Phi-lê-môn. Trong thời đó nô lệ đầy dẫy trong xã hội La-mã. Phi-lê-môn có một người nô lệ tên Ô-nê-sim bỏ trốn. Sau khi bỏ trốn, Ô-nê-sim trở nên người tin Chúa và gặp được PL khi PL bị giam tại thành La-mã. PL viết lá thư cho Phi-lê-môn để xin ông nhận lại Ô-nê-sim, người nô lệ bỏ trốn, không phải như một nô lệ, Vả, có lẽ người đă tạm xa cách anh, cốt để anh nhận lấy người măi măi, không coi như tôi mọi nữa, nhưng coi hơn tôi mọi, coi như anh em yêu dấu, nhứt là yêu dấu cho tôi, huống chi cho anh, cả về phần xác, cả về phần trong Chúa nữa. Vậy nếu anh coi tôi là bạn hữu anh, thì hăy nhận lấy người như chính mình tôi vậy. Nhược bằng người có làm hại anh hoặc mắc nợ anh điều chi, thì hăy cứ kể cho tôi. (Philêmôn 1:15-18)
Vậy KT không chỉ nói về sự tự do trong thế giới hữu hình này nhưng còn về sự tự do trong tâm linh.
Và cũng như giá của sự tự do trong đời sống này rất đắt thì giá của sự tự do tâm linh của chúng ta dù miễn phí cho người nhận nhưng phải khiến Con Trời hạ sinh làm người, chết cho tội lỗi con người.
LÀM GÌ VỚI TỰ DO?
Sinh sống trên đất nước tự do, trù phú là một ơn phước rất lớn ĐCT ban cho chúng ta. Nói đúng hơn chúng ta đến xứ này để được hưởng tự do, chớ không phải để đem lại tự do! Đối với người hưởng tự do, giá của nó là miễn phí. Nhưng với người tạo tự do, giá nó hết sức đắt. Lắm khi phải trả bằng chính mạng sống. Chính vì được hưởng tự do nên lắm khi chúng ta quên đi giá thật của nó, quên đi những người trả bằng chính mạng sống để đem lại tự do. Thậm chí lắm khi chúng ta lạm dụng tự do để làm việc không chính đáng, để đem lợi cho mình dù bất lợi, có hại cho người khác.
Lá thư cuối cùng từ Hạ Sĩ Jason Bogar, Seattle, Wash, mất 13 tháng 07, 2008 sau cuộc giao chiến dữ dội lấy đi 8 người chiến sĩ trong đơn vị. Anh 25 tuổi khi qua đời.
TO MY FAMILY
I feel my days are numbered so I want to say all this while I still can. I pray to god no-one will ever have to read this but as death is all around me if it falls upon me you will understand my recent feelings on this madness we call life.
My views and outlook on life seems to be drastically changing recently. As many of you saw before I left when I quit drinking, I was just starting to live my life. Never have I felt as strong as I do about what I am doing here in Afghanistan is the right thing to be doing and is understood and accepted by god. As a result of that death is easier to accept.
Coming back over here again seemed more appealing than being in America surrounded by Americans that are more concerned about there next new car, new house, celebrity, ect. Than the threat to the way of life of the west that is so prevalent in the places I‘ve grown to accept as daily life. I hope one day there will be more Americans knowledgeable on the situation with terrorism in Afghanistan and how important it is that it’s destroyed.
Being back here in Afghanistan is exactly were I was supposed to be and where I wanted to be. I feel I’m doing more good over here than I was as an electrician. I knew exactly what I was doing when I re-enlisted Infantry I’m just sorry that you all have to suffer for it now.
Lá thư cuối cùng của Hạ Sĩ Diego Fernando Rincon, 19 tuổi, của Conyers, GA viết ngày 22 tháng 02, 2003, nhận 22 tháng 03, 2003. Anh mất ngày 29 tháng 03, 2003.
I try not to think of what may happen in the future, but I can't stand seeing it in my eyes. There's going to be murders, funerals and tears rolling down everybody's eyes. But the only thing I can say is, keep my head up and try to keep the faith and pray for better days. All this will pass. I believe God has a path for me. Whether I make it or not, it's all part of the plan. It can't be changed, only completed.
Mother will be the last word I'll say. Your face will be the last picture that goes through my eyes. I'm not trying to scare you, but it's reality. The time is here to see the plan laid out. And hopefully, I'll be at home in it. I don't know what I'm talking about or why I'm writing it down. Maybe I just want someone to know what goes through my head. It's probably good not keeping it all inside.
I just hope that you're proud of what I'm doing and have faith in my decisions. I will try hard and not give up. I just want to say sorry for anything I have ever done wrong. And I'm doing it all for you mom. I love you.
Diego Ricon
