Nhận Nước Hằng Sống
[Ôn lại bài giảng tuần rồi Phải Được Tái Sinh qua cuộc gặp gỡ giữa ĐCJC và Ni-cô-đem.]
KT có một chủ ý rất rõ ràng khi viết về hai cuộc gặp gỡ của ĐCJC với Ni-cô-đem trong đoạn 3 và với người phụ nữ Sa-ma-ri đoạn 4. Hai nhân vật này hoàn toàn tương phản với nhau như ngày và đêm, trắng với đen và hai cuộc gặp gỡ này xảy ra cũng tương phản nhau.
1) Ni-cô-đem: nam giới, người Pha-ri-si, thành viên của Sanhedrin, tòa thẩm phán tối cao của dân DT, một người có học thức, hiểu biết kinh luật Mô-se, có quyền chức, địa vị, giàu có. Được dân chúng, xã hội kính trọng. Người đàn bà Sa-ma-ri: không tên, vô danh, dân ngoại, kém đạo đức (5 đời chồng và đang sống chung với người đàn ông không phải là chồng). Bị dân chúng, xã hội xem rẽ.
2) Xảy ra trong đêm. Ni-cô-đem chủ động, tự ý đến tìm Chúa nhưng sợ người khác biết. Xảy ra lúc giữa trưa (giờ thứ 6, tức 12 giờ trưa). Chính ĐCJC bắt đầu câu chuyện.
3) N. bắt đầu cuộc đối thoại và Chúa không hề hỏi N. Chúa bắt đầu cuộc đối thoại với lời hỏi xin nước.
4) Nội dung câu chuyện trừu tượng, phức tạp hơn đến nỗi N. cũng không hiểu được. Cuộc đối thoại giữa Chúa và người đàn bà S. đơn giản, dễ hiểu đến nỗi bà có thể hiểu hết được.
Hai điều trong bài giảng này: 1) Nhận nước hằng sống; 2) Nói về nước hằng sống
NHẬN NƯỚC HẰNG SỐNG
Cuộc gặp gỡ giữa ĐCJC và người phụ nữ Samari xảy ra tại một thành tên Si-kha thuộc xứ Sa-ma-ri. Thường khi người Do Thái đi từ nam lên bắc hay bắc xuống nam như từ Jerusalem lên vùng biển Ga-li-lê thì họ sẽ đi theo đường phía đông của sông Giô-đanh. Đây cũng chính là đường Chúa đã đi từ xứ Ga-li-lê đến gặp Giăng Báp-tít để chịu phép báp-tem [chỉ bản đồ].
Một trong những lý do chính là bởi vì giữa dân Samari và dân Do Thái có sự thù hằn. Nhiều thế kỷ trước đó hầu hết dân Giu-đa bị đày sang xứ Babylon. Một số ít ở lại. Đây là những người nghèo khó, thuộc tầng lớp thấp trong xã hội. Và những người DT này sinh sống trong vùng rồi lập gia đình với người xứ Canan sinh ra người S. Người Do Thái khinh dễ người Samari vì họ là giống người lai. Người Samari nghĩ rằng nơi thờ phượng thật sự phải trên núi Gerizim chớ không phải tại thành Jerusalem như người DT. Vì vậy người DT thường tránh đi ngang qua xứ Samari. Chúa lại chọn đi đường ngang qua xứ Samari. [bản đồ]
[Đọc Giăng 4:4-9] Chúa cùng các môn đồ đi từ thành Jerusalem sau khi dự lễ Vượt Qua (Passover) để trở về xứ Ga-li-lê. Ngài chọn đi ngang qua xứ Samari nên đến thành Si-kha. Từ thành Jerusalem đến Si-kha độ khoảng 30 miles (50km). Khi đi bộ 50km từ J. đến Si-kha thì đã khoảng giữa trưa (giờ thứ sáu). Chúa mệt ngồi nghĩ tại một giếng nước ngoài thành. Còn các môn đồ thì vào thành mua thức ăn. Đang khi nghĩ thì có một phụ nữ S. đến lấy nước từ giếng.
Thông thường phụ nữ ra giếng lấy nước lúc sáng sớm khi trời còn mát. Tại sao người phụ nữ này lại lấy nước lúc giữa trưa khi trời nắng gắt, nóng bức? Vì bà đã có 5 đời chồng và người đàn ông đang sống chung lại không phải là chồng. Có lẽ các phụ nữ khác trong thành đều tránh xa người đàn bà này. Có lẽ họ xì xầm với nhau: Thứ đồ hư thân, mất nết, thứ đồ tội lỗi! Đây là người mà gia đình, xã hội chê trách, tránh xa, thậm chí ruồng bỏ. Đây là một người đang có một đời sống tội lỗi. Và dù ĐCJC biết rõ điều này vì chính Ngài nói với bà về sự thật đau lòng này trong đời bà, thì Ngài vẫn tiếp xúc và trò chuyện, rồi cho bà nước hằng sống.
Qv có thấy sự tương phản rõ rệt này hay không? Tại sao ĐCJC lại chủ ý gặp người phụ nữ Samari này sau khi đã gặp Ni-cô-đem, một người lãnh đạo, một giáo sư, một người quyền chức, giàu sang. Thứ Sáu qua là ngày nhậm chức tổng thống. Qv nghĩ ai là những người được ngồi trên cao nơi các tổng thống, bộ trưởng ngồi. Giữa N. và người phụ nữ S. qv nghĩ ai có thể ngồi trên nơi đó? Dĩ nhiên là N.
Sau lễ, tân tổng thống cùng đệ nhất phu nhân đến dự buổi tiệc do Quốc Hội thiết đãi. Qv nghĩ giữa hai người như N. và người phụ nữ S. ai là người sẽ được mời? [Ba hình]
Vậy đó mà ĐCJC chủ ý gặp người đàn bà vô danh, tội lỗi bị làng xóm, dân làng khinh dễ, thuộc một giống người bị xem thường, để nói về TL, để ban cho nước hằng sống. Khi đọc tiếp câu chuyện thì rõ ràng rằng mục đích của việc Chúa xin nước uống là để bắt đầu một câu chuyện quan trọng hơn, không phải về nước uống nhưng về điều Ngài gọi là nước hằng sống, về Tin Lành.
Nước là điều cần thiết cho thân thể, sự sống. Không có nước chắc chắn người, thú, cây, cỏ sẽ chết. Cơ quan NASA khi gởi con thuyền khám phá trên mặt trăng hay hành tinh Mars (hỏa tinh?) thì điều đầu tiên là họ muốn biết hành tinh đó có nước hay không. Tôi có khát nước qua một lần khi trên tàu vượt biên, thân thể dã dượi, đau đớn, đầu óc chỉ nghĩ đến nước. Một người đi trong nắng gắt có một ly nước mát lạnh uống thì sung sướng, thỏa thê đến chừng nào!
Không ai uống nước một lần mà không bao giờ khát cả. Vậy khi ĐCJC nói về nước hằng sống, uống vào sẽ không còn khát nữa thì chắc Ngài không nói về nhu cầu của thể xác, nhưng về nhu cầu tâm linh. Và cũng như nước là điều hết sức quan trọng, cần thiết cho thân thể, không có sẽ chết thì người không có nước hằng sống cũng sẽ chết về tâm linh.
Nhưng ĐCJC không chỉ nói về cuộc sống đời này nhưng còn về cả cuộc sống đời đời. Không chỉ thỏa mãn nhất thời, tạm bợ nhưng thỏa mãn luôn luôn, vĩnh viễn.
Một ý nghĩa khác của nước ở đây là những nhu cầu, đòi hỏi vật chất trong đời sống hiện tại trên đất này. Nhưng rồi cũng như nước, chúng ta lại khát nữa. Tác giả sách Truyền Đạo đã viết từ ngàn năm trước đây: Muôn vật thảy đều lao khổ, loài người không thế nói ra được; mắt không hề chán ngó, tai chẳng hề nhàm nghe. (1:8) Kẻ tham tiền bạc chẳng hề chán lắc tiền bạc; kẻ ham của cải chẳng hề chán về huê lợi. Điều đó cũng là sự hư không. Hễ của cải thêm nhiều chừng nào, kẻ ăn cũng thêm nhiều chừng nấy. (5:10-11) Tác giả Châm Ngôn cũng viết: Con mắt loài người chẳng hề chán, Cũng như âm phủ và vực sâu không hề đầy vậy. (27:20)
Như nước biển mặng càng uống chúng ta càng khát, đòi hỏi của thể xác, vật chất đời này càng có nhiều lại muốn thêm nhiều. Sự đòi hỏi về những điều trong cuộc sống này thật sự không bao giờ chấm dứt. Từ dumb phone sang đến smart phone, từ laptop sang đến iPad, từ Toyato Camry cho đến Lexus, từ nhẫn ½ ly sang đến 2 ly, từ nhà nhỏ sang đến nhà lớn, từ quan hệ này sang quan hệ khác, từ nơi du lịch này đến nơi du lịch khác. Có bao giờ chúng ta gọi là đủ? Bao giờ chúng ta ngừng uống nước trong đời này? Nó sẽ biến chúng ta thành nô lệ. Có lẽ chỉ khi nằm trên giường bệnh, chỉ khi gần đất xa trời, chỉ khi chúng ta ý thức rằng bên cạnh đời sống vật chất, còn có đời sống tâm linh, dù vô hình nhưng rất thật, rằng nước hằng sống cho linh hồn quan trọng hơn vật chất đời này.
ĐCJC nói với người đàn bà đã thử uống nhiều nước trong đời. Có thể thứ nước quan trọng nhất với bà là quan hệ, sự an ninh từ người đàn ông, chăm sóc, lo lắng, nuôi cho mình. Và mỗi chúng ta đều có một thứ nước quan trọng cho mình. Có người tìm nó trong quan hệ, có người trong việc làm, có người trong tiền của, quyền thế, bằng cấp, chức tước. Khi mới có những điều này chúng ta lấy làm thỏa mãn vô cùng, đã khát. Nhưng sau khi sự thỏa mãn trước đó qua rồi, sự vui thích lúc đầu không còn nữa, chúng ta lại phải tiếp tục chạy tìm thứ mới hay tăng liều thứ cũ.
Có lần tôi xem một tài liệu về một thanh niên người Bắc Hàn trốn thoát được sang Nam Hàn. Anh sanh ra và lớn lên trong trại lao động, thấy chính mẹ mình bị bắn chết, bị tra tấn, đánh đập, lúc nào cũng đói khổ. Khi sang được Nam Hàn một điều anh lấy làm lạ là số thanh niên thiếu nữ tự tử. Năm 2011 thống kê cho biết số người tự tử tại Nam Hàn đứng đầu thế giới và Nhật Bản đứng thứ ba. Và điều lạ lùng hơn là trong danh sách 34 quốc gia có số người tự tử cao nhất hầu hết đều là những quốc gia hòa bình, phồn thịnh và không có những quốc gia nghèo khó hơn. Tại HK, năm 2010 số người trung niên (middle age) tự tử cao hơn số tử vong vì tai nạn xe cộ. Trong tất cả các nghề nghiệp bác sĩ là nghề có số người tự tử cao nhất.
Điều này cho thấy rằng vật chất vô nghĩa khi đời sống không có ĐCT, không có nước hằng sống ĐCJC nói đến. Có vật chất đầy đủ, dư thừa nhưng không bao giờ vui thỏa trong lòng. Lòng thấy trống vắng, đời sống vô vị. Một điều không thể tránh được là mọi người, tất cả chúng ta đều cần có một điều gì đó để hy vọng, để sống. Chúa nói rằng nếu chúng ta chỉ sống cho những điều trong thế gian này thì sẽ bao giờ thỏa nguyện. Khi chưa có, chúng ta bị dằng vật, khổ sở vì không có được. Chúng ta thất vọng, giận dữ, oán trách, trả thù khi ai đó ngăn cản điều chúng ta muốn đạt đến. Khi được rồi, mừng lắm. Nhưng không lâu lại chán muốn có cái mới.
KT kể một câu chuyện hết sức thương tâm. Am-môn thương Ta-ma, em gái cùng cha khác mẹ với mình. Thương mến và muốn được đến nỗi hao mòn. Rồi có người xấu bàn cho Am-môn giả bệnh. Khi vua Đa-vít đến thăm thì xin vui cho em gái Ta-ma làm bánh cho hắn ăn. Khi nàng làm bánh đem vào nơi giường bệnh, Am-môn đuổi hết người hầu ra ngoài rồi hãm hiếp em mình. KT viết: Nhưng Am-nôn không khứng nghe nàng [nghe lời van xin]; và vì người mạnh hơn, bèn gian hiếp nàng, nằm cùng nàng. Rồi đó, Am-nôn lấy làm gớm ghét nàng quá, đến đỗi tình người ghen ghét nàng lại lớn hơn tình thương yêu nàng khi trước. Am-nôn nói cùng nàng rằng: Hãy đứng dậy, đi đi! (2 Sa-mu-ên 13:14-15).
Có người nói tôi chỉ thích điều mới nhưng không bị nó làm chủ. Nếu ĐCT không là chủ đời sống quí vị, thì vật chất đời này làm chủ. Chín năm trước đây trong buổi lễ ra trường đại học Kenyon, diễn giả là một tác giả trẻ, 43 tuổi tên David Foster Wallace. Trong bài nói chuyện cùng các sinh viên ra trường, ông có những lời như sau: Mọi người đều thờ phượng. Sự chọn lựa duy nhất là chúng ta sẽ thờ phượng điều gì. Và một lý do hấp dẫn khi chọn một thần nào đó để thờ phượng… là bởi vì mọi thứ khác trên đời này rồi sẽ nuốt sống bạn. Nếu bạn thờ phượng tiền và vật, nếu đó là điều bạn tìm ý nghĩa cho cuộc sống, thì bạn sẽ không bao giờ có đủ, không bao cảm thấy đủ. Đó là sự thật. Thờ phượng thể xác này và sắc đẹp và thu hút tình dục, rồi bạn sẽ luôn thấy xấu xí. Và khi đến khi thời gian và tuổi tác bắt đầu làm bạn già đi, bạn sẽ chết một cái chết triệu lần trước khi người thân chôn bạn. Thờ phượng quyền lực, rồi bạn sẽ cảm thấy yếu đuối và sợ hãi, và sẽ tiếp tục cần quyền lực để làm tê dại nỗi sợ hãi… Sự gian dối, xảo quyệt của những sự thờ phượng này không phải là tự nó độc ác hay tội lỗi; nhưng bởi vì đó là điều tự nhiên ẩn trong tiềm thức mỗi người.
Đức Giê-su đáp: "Ai uống nước nầy rồi cũng khát lại,14 nhưng uống nước Ta ban cho sẽ chẳng bao giờ khát nữa. Nước Ta ban cho sẽ biến thành suối nước trong người, tuôn tràn sự sống vĩnh phúc." (Giăng 4:13-154
Ai nghĩ rằng trong số mọi người Chúa có thể ban cho nước hằng sống này, Ngài lại chọn người phụ nữ Sa-ma-ri có 5 đời chồng này? Vì lòng nhân từ ĐCJC dù biết bà có một quá khứ và hiện tại tội lỗi,
Chúa tha thứ, đón nhận, và cho bà một cơ hội mới. Sứ điệp hết sức quan trọng trong câu chuyện này là mọi người đều có thể nhận nước hằng sống dù quá khứ, giai cấp, thân thế ra sao. Nước hằng sống, TL không phải chỉ dành cho một số người đặt đến một tiêu chuẩn đạo đức nào, nhưng cho mọi người trong mọi tình cảnh của đời sống.
Nhưng làm thế nào để nhận được nước hằng sống? 15 Thiếu phụ nói: "Thưa ông, xin cho tôi nước đó để tôi không còn khát và cũng khỏi đến đây múc nước nữa!" 16 Ngài bảo: "Chị về gọi chồng ra đây!" 17 Thiếu phụ thưa: "Tôi không có chồng!" 18 Ngài nói: "Bảo là không chồng thì cũng đúng, vì chị đã có năm đời chồng và người chị hiện có cũng chẳng phải là chồng! Chị đã nói thật đó!" (4:13-17)
Chúa nói gì với bà: người phải nhận tội mình. Khi nói về TL chắc chắn chúng ta phải nói về tội, bởi chính tội lỗi ngăn cách loài người và ĐCT. Một người không thể nhận nước hằng sống cho đến khi họ ý thức rõ họ là người có tội và không tự cứu mình được.
Rô-ma 3:23: vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời; Rô-ma 5:8 Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. Con người thường so sánh đạo đức nhưng dưới mắt ĐCT mọi người đều là tội nhân cần được cứu. Nếu so sánh thì Ni-cô-đem đạo đức hơn người phụ nữ này. Nhưng Chúa vẫn bảo ông cần phải được tái sanh cho dù đạo đức, công chính đến mấy.
PHÁ BỎ HÀNG RÀO NGĂN CẢN TIN LÀNH
Câu chuyện này cũng nói lên một bài học vô cùng quan trọng cho người tin Chúa và HT Chúa: Để đem TL đến cho đồng hương thành phố và những nơi khác, chúng ta cần phải chú ý đến những hàng rào ngăn cản TL và phá bỏ nó đi.
Lời đầu tiên của Chúa cùng bà là để xin nước uống. Điều này khiến bà vô cùng kinh ngạc: Ủa kìa! ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đàn bà Sa-ma-ri sao? (Số là, dân Giu-đa chẳng hề giao thiệp với dân Sa-ma-ri.) (4:9). Bà tưởng ĐCJC là người Giu-đa vì Ngài từ xứ đó đi lên. Một người đàn ông DT nói chuyện với một người đàn bà S., nhất là một phụ nữ 5 đời chồng thật là một chuyện động trời (scandal). Ai thấy được, biết được chắc sẽ xì xầm cả tuần lễ, thậm chí cả tháng trời!
Thời đó cũng có một câu nói của người DT tỏ ý khinh bỉ xứ S. Nước xứ S. còn dơ hơn nước đồ heo ăn. Chúng ta không biết ĐCJC có biết câu nói này hay không nhưng chắc rằng những người thầy thông giáo, luật pháp và người dân DT tại thành J. biết. Và khi họ nghe rằng J. này xin nước của người đàn bà S. để uống thì sự khinh khi còn đến chừng nào!
Đối với chúng ta hôm nay khi đọc những lời này thấy như không có gì quan trọng. Nhưng trong thời đó, bối cảnh đó là một điều hết sức lạ lùng, đặc biệt. Như những người da trắng đầu tiên có quan hệ, làm bạn với người da đen trong thời kỳ còn kỳ thị nặng nề.
Chúa chúng ta vượt qua 5 sự ngăn trở trong quan hệ: 1) ngăn trở về chủng tộc, giống dân (racial), 2) ngăn trở về phong tục, tập quán (cultural), 3) ngăn trở về phái giữa nam và nữ (gender), 4) ngăn trở về giai cấp, tầng lớp, và 5) ngăn trở về đạo đức (moral).
Trong xã hội HK ngày nay sự bình quyền giữa nam và nữ, không chỉ là đòi hỏi của phòng trào nữ giới, nhưng còn là luật pháp. Khi đi bác sĩ khám bệnh hay xin việc làm tất cả giấy tờ đều nêu rõ rằng bệnh viện và hãng xưởng đều không được phân biệt hệ phái nam hay nữ, nhưng phải đối xử bình đẳng. Đây là một tiến bộ lớn trong xã hội ngày nay. Không như ngày xưa thật bất công và sai lầm khi người ta nói: Nam thì năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng.
Nhưng thực tế là vẫn còn có sự ngăn cách về sự bình đẳng giữa nam và nữ về mức lương, về sự đánh giá trong xã hội, về đòi hỏi giữa hai phái (giữa cha và mẹ). Như một thực tế là trong hầu hết các HTVN trên HK này (và có lẽ tại khắp nơi khác) thì thông thường số nữ giới nhóm thờ phượng và tham gia vào các công việc HT nhiều hơn nam giới.
Hiện nay trên thế giới ước tính hằng năm có gần 800K phụ nữ và trẻ em trong cảnh nghèo khó bị dụ dỗ, bị bán bởi cha mẹ, hay bị bắt cóc để bán làm nô lệ tình dục. Nói chung thân phận người phụ nữ trên rất nhiều nơi trên thế giới ngày nay vẫn còn bị xem thấp hèn hơn nam giới, đặc biệt trong các nước hồi giáo.
Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa ĐCJC và người phụ nữ Sa-ma-ri không chỉ cho chúng ta thấy rất rõ về lòng nhân từ, tình yêu thương, thái độ hòa nhã, tử tế, không kỳ thị của Chúa cùng phụ nữ nhưng còn cho biết rất rõ một điều khác rất quan trọng: TL đến với mọi người, mọi giống người, mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội; và cả tình trạng tội lỗi.
Theo sách Lu-ca thì có 24 lần ĐCJC hoặc gặp gỡ, hoặc trò chuyện, hoặc nói về người phụ nữ và tất cả 24 lần đều đối xử tử tế, nhân hậu, hòa nhã. Có ít nhất 14 người phụ nữ ghi lại trong 4 sách Phúc Âm gặp gỡ, trò chuyện, theo phục vụ được đề cập đến. Tác giả nổi tiếng Dorothy L. Sayers viết: Có lẽ chẳng lấy gì làm lạ khi phụ nữ là người đầu tiên tại máng cỏ [nơi Chúa sinh ra] và cũng là người cuối cùng tại thập giá. Họ chưa bao giờ biết được một người như Người [Chúa Jêsus], cũng sẽ không có một người đàn ông nào như vậy. Một tiên tri và thầy dạy không bao giờ rầy rà, trách móc, không bao giờ tán tỉnh, mỉa mai hay mắng nhiếc: người không bao giờ dùng phụ nữ để diễu cợt… người nghe những câu hỏi và lý lẽ của phụ nữ một cách nghiêm chỉnh. (Are Women Human?, page 47).
Qv nhớ về những người phụ nữ ĐCJC gặp gỡ và cách đối xử của Ngài với họ:
Người phụ nữ bắt quả tang phạm tội tà dâm
Người phụ nữ có tội đến đổ thuốc thêm lên chân Chúa và lấy nước mắt lau chân Chúa
Người phụ nữ bị bệnh xuất huyết sờ vạt áo Chúa
Người phụ nữ tên Mari Mác-đơ-len, bị 7 quỉ ám được chửa lành và là người ĐCJC hiện ra đầu tiên sau khi sống lại
Người phụ nữ S. này
Một tín đồ nam giới, một người hầu việc Chúa nam giới không thể có sự kỳ thị, xem thường phái nữ bởi vì chính ĐCJC đã xem trọng họ và đối xử với tấm lòng nhân từ, mềm mại, yêu thương.
Vì bởi đức tin trong Ðức Chúa Jesus Christ, tất cả anh chị em là con cái của Ðức Chúa Trời. 27 Vì hễ ai đã được báp-têm vào trong Ðấng Christ đều được mặc lấy Ðấng Christ. 28 Không còn phân biệt chủng tộc Do-thái hay Hy-lạp, không còn phân biệt giai cấp nô lệ hay tự do, không còn phân biệt phái tính nam hay nữ, vì tất cả anh chị em đều là một trong Ðức Chúa Jesus Christ (Ga-la-ti 3:28 – BD2011)
Dưới chân thập giá, đất bằng phẳng cho mọi người. Những hàng rào này khiến người bên đây kiêu hãnh nhìn người bên kia nếu không thương hại thì chế diễu, hạ thấp. KT dạy: Hãy sống hòa thuận với nhau. Ðừng tự cao nhưng hãy hòa mình với những người khiêm hạ. Ðừng tự cho mình là khôn ngoan hơn người. (Rô-ma 12:16)
Hỡi anh em, anh em đã tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa vinh hiển chúng ta, thì chớ có tây vị người nào. 2 Giả sử có người đeo nhẫn vàng, mặc áo đẹp, vào nơi hội anh em, lại có người nghèo, quần áo rách rưới, cũng vào nữa; 3 nếu anh em ngó kẻ mặc áo đẹp, mà nói rằng: Mời ngồi đây, là chỗ tử tế; lại nói với người nghèo rằng: Hãy đứng đó, hoặc ngồi dưới bệ chân ta, 4 thế có phải anh em tự mình phân biệt ra và lấy ý xấu mà xét đoán không? 5 Hỡi anh em rất yêu dấu, hãy nghe nầy: Đức Chúa Trời há chẳng lựa kẻ nghèo theo đời nầy đặng làm cho trở nên giàu trong đức tin, và kế tự nước Ngài đã hứa cho kẻ kính mến Ngài hay sao? (Gia-cơ 2:1-5)
Trong bài giảng trên núi, ĐCJC dạy người theo Chúa phải là muối và ánh sáng. Cả hai hình ảnh này đều vừa thu hút, hấp dẫn, nhưng đồng thời cũng gây khó chịu, tổn thương. Muối giúp cho thịt lâu hư, có tính sát trùng, khi thoa vào vết thương làm cho đau đớn. Nhưng muối cũng được dùng hằng ngày trong mọi thức ăn để tăng thêm khẩu vị của thức ăn. Thử nghĩ nếu thức ăn nào cũng thiếu muốn thì còn gì là ngon miệng!
Nhiều tín hữu nghĩ về muối không phải với ý để đem lại hương vị cho thức ăn, để giữ cho thịt thà lâu hư nhưng với ý tự hào rằng muối của tôi đã chà lên bao nhiêu vết thương, không phải để làm cho lành, nhưng để làm cho đau, cho rát. Hay nghĩ về muối với ý rằng thế gian này, người chưa biết Chúa như thức ăn nhạt, như thịt sẽ hư. Nếu thật sự là muối, thì chúng ta phải là người đem lại sự hòa thuận, sự hàn gắn, đem đến lòng nhân từ, sự tử tế, sự kiên nhẫn, tha thứ, mềm mại, hiền lành, tức mọi phẩm tính của trái Thánh Linh.
Làm sao hội thánh, tín đồ có thể bày tỏ lòng nhân hậu với người chưa biết Chúa nếu chúng ta chỉ biết lên án, kết tội, chỉ trích thay vì kiêm nhường, mềm mại, nhẫn nhịn để giải thích về tin lành? Thay vì làm cho lành vết thương chỉ muốn làm cho đau thêm?
Tôi tin KT dạy mục đích chính yếu của hội thánh Chúa, của người tin Chúa không phải để chỉ ra cho thế gian, cho người chưa tin Chúa rằng “thế gian này, xã hội này, người không tin Chúa là tội lỗi, sẽ bị trừng phạt đời đời nơi địa ngục” Nhưng để rao giảng Tin Lành về sự tha thứ, cứu chuộc tội lỗi, về đời sống mới trong sự dạy dỗ của ĐTL, về hội của những tội nhân cố học hỏi, thay đổi để trở nên như ĐCJC.
Hội thánh Chúa tại đây phải là nơi phá bỏ những hàng rào trên để đem TL đến cho đồng hương thành phố. Ấn tượng gì khi một người chưa bao giờ nghe về ĐCJC bước vào hội thánh, khi gặp gỡ, tiếp xúc một người môn đồ Chúa? Phán xét, lên án, chỉ trích hay chấp nhận, thương yêu, nhân từ, tha thứ? Mỗi qv đây muốn nhận được điều gì? Hội thánh, tín đồ phải là trái ngọt thay vì là trái chua, trái đắng.
