Người Chăn Chiên Nhân Từ
Hiếm ai sinh ra, lớn lên tại Việt Nam mà biết nhiều về chiên hay cừu. Hình ảnh con thú quen thuộc nhất là con trâu với cái cày, hay con gà chạy trong sân nhà nơi thôn quê, làng xóm. Người VN không mấy ai nuôi chiên cừu. Kinh Thánh được viết ra chủ yếu tại vùng Trung Đông, là nơi ngày xưa rất đông dân cư sống bằng nghề nuôi chiên cừu nên có rất nhiều ví dụ với hình ảnh của chiên cừu. Ước tính có ít nhất 220 lần KT nói về chiên cừu hay dùng hình ảnh chiên cừu để làm ví dụ về một bài học nào đó. Như trong đọan KT chúng ta đọc sáng nay ví ĐCJC là người chăn chiên nhân từ, hiền lành và người tin, theo Ngài là bầy chiên.
Hình ảnh ĐCT là người chăn chiên và dân Ngài là bầy chiên cũng đã được dùng rất nhiều lần trong KT CU. Nổi tiếng và quen thuộc hơn hết là TT 23: Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi: tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì. Ngài khiến tôi an nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi, Dẫn tôi đến mé nước bình tịnh.
Trong PA Giăng có 7 lần ĐCJC nhận Ngài là: 1) Ngài là bánh và nước hằng sống, 2) Ngài là sự sáng thế gian, 3) Ngài là cửa để chiên ra vào, 4) Ngài là người chăn chiên nhân từ, 5) Ngài là sự sống và sự sống lại, 6) Ngài là đường đi, lẽ thật, sự sống, 7) Ngài là gốc nho. Đoạn KT chúng ta tìm hiểu sáng nay nói về 2 điều trong 7 điều Chúa xưng nhận: Chúa là cửa cho chiên ra vào và là người chăn chiên nhân từ.
Trước khi tìm hiểu về lời Chúa trong Giăng 10:7-18, chúng ta cần biết rằng đối tượng của đoạn KT này không phải trực tiếp cho các môn đồ hay những đoàn dân đi theo để nghe Chúa giảng dạy, nhưng cho những người Pha-ri-si. Những lời dạy này của ĐCJC tiếp tục cuộc đối thoại của Chúa cùng một số người Pha-ri-si trong đoạn 9. Sau khi Chúa phán: Ta đã đến thế gian đặng làm sự phán xét nầy: Hễ ai chẳng thấy, thì thấy; còn ai thấy, lại hóa mù. Mấy người Pha-ri-si bên cạnh Ngài nghe điều đó, thì nói với Ngài rằng: Còn chúng ta cũng là kẻ mù chăng? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Nếu các ngươi là kẻ mù, thì không có tội lỗi chi hết; nhưng vì các ngươi nói rằng: Chúng ta thấy, nên tội lỗi các ngươi vẫn còn lại. (9:39-41)
Để cho dễ đọc và nhớ nên KT chúng ta dùng phân đoạn, câu nhưng khi sứ đồ Giăng qua ĐTL viết lại câu chuyện này, chắc chắn ông không hề phân đoạn. Vậy 10:1-18 là lời tiếp tục từ đoạn 9.
Câu 6 cho biết ĐCJC dùng hình ảnh của người chăn chiên và bầy chiên để làm ví dụ cho lời của Chúa cùng những người Pha-ri-si nhưng họ không hiểu Chúa muốn nói gì với họ. ĐCJC nói gì trong ví dụ từ câu 1-5?
1. Quả thật, quả thật – Amen. Chúa muốn nhấn mạnh về sự thật quan trọng này. Hãy lắng nghe cách cẩn thận vì đây là lời thật, quan trọng, giá trị. Đoạn KT này gồm 2 ý chính: 1) Để phân biệt người chăn chiên thật sự của bầy chiên và người chăn chiên giả mạo. 2) Để phân biệt hai bầy chiên của hai người chăn khác nhau.
ĐCJC tự nhận rằng Ngài chính là người chăn chiên thật còn những người Pha-ri-si là những người chăn chiên giả mạo. Chúa cũng dạy rằng lý do người Pha-ri-si chống đối Chúa cho thấy rằng họ không phải là chiên của Ngài.
Khi hiểu được ý dạy của đoạn này chúng ta mới hiểu được ý Chúa trong câu 8: Hết thảy những kẻ đã đến trước ta đều là quân trộm cướp; nhưng chiên không nghe chúng nó. Chúng ta sẽ trở lại câu KT này sau.
2. Ban đêm bầy chiên thường về chuồng để được bảo vệ khỏi mưa gió, sói dữ hay trộm cướp muốn đến bắt chiên. Chuồng cũng có thể là nơi được cất, nhưng cũng có thể là một hang động nào đó hay thậm chí là một vòng rào tạm bợ làm bằng dây gai nơi đồng trống. Người chăn chiên thường ngủ với bầy chiên để coi chừng bầy nhưng hình ảnh những mục đồng chăn giữ bầy chiên lúc đêm khuya ngoài đồng khi thiên sứ đến báo tin mừng về sự giáng sinh của ĐCJC. Vì là người chăn giữ bầy nên không lý do gì mà họ lại leo rào hay leo tường để vào chuồng cả. Sau khi đã lùa chiên vào chuồng, người chăn đi vào bằng cửa chính cách công khai.
Tại sao ĐCJC lại nói rằng Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào chẳng bởi cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào từ nơi khác, thì người đó là trộm cướp. Nhưng kẻ bởi cửa mà vào, là người chăn chiên? Câu 3-5 cho biết lý do: Người canh cửa mở cho chiên nghe tiếng người chăn; người chăn kêu tên chiên mình mà dẫn ra ngoài. Khi người đã đem chiên ra hết, thì đi trước, chiên theo sau, vì chiên quen tiếng người. Nhưng chiên chẳng theo người lạ; trái lại nó chạy trốn, vì chẳng quen tiếng người lạ. Lý do là vì chiên quen thuộc với tiếng người chăn và chỉ theo tiếng gọi của người chăn.
Chiên thường không cần uống nước nhiều nếu được ăn cỏ sáng sớm có đọng sương đêm. Nhưng đến mùa khô, không còn sương sáng nên thường người chăn dẫn bầy đến các suối hay nước giếng. Nơi đó họ gặp những người chăn chiên khác và các bầy chiên thường lẫn lộn nhau. Nhưng bầy chiên nào theo người chăn đó. Tiếng lạ khiến cho chiên sợ hãi. Chỉ cần một động tịnh khác lạ hay tiếng động lạ lớn tiếng cũng đủ làm cho cả bầy chiên chạy tản loạn. Nhưng nó yên tỉnh, bình an khi nghe tiếng của người chăn chiên chăm sóc nó từ bấy lâu nay. Một nơi khác tôi đọc cho biết chiên có thể không chỉ nhận biết tiếng người chăn nhưng còn cả gương mặt của người chăn.
Sở dĩ trộm cướp phải leo trèo từ nơi khác vào chuồng vì bầy chiên không biết họ. Khi nghe tiếng hay thấy bóng dáng, gương mặt lạ thì cả bầy có thể náo lộng, chạy khỏi chuồng. Người chăn thật dù đi trước thì bầy chiên vẫn đi theo Ngài vì nó quen biết tiếng gọi của người chăn giữ nó. Nhưng sẽ chạy trốn khi nghe tiếng người lạ.
Bài học: Chúng ta cần quen thuộc với tiếng gọi của ĐCT qua lời KT, qua sự nhắc nhở của ĐTL trong đời sống. Hễ khi nào chúng ta còn nhạy cảm và nhận biết tiếng Chúa gọi thì chúng ta còn trong ràng của Ngài. Nhưng khốn thay cho những tín đồ nghe theo tiếng gọi của thế gian, của vật chất, của ma quỉ mà ngày càng xa rời Chúa. Quí vị có thể chắc chắn rằng mình biết tiếng Chúa, Đấng chăn chiên nhân từ hay vẫn còn chưa rõ. Quí vị quen thuộc và đang nghe tiếng gọi của ai? của ĐCT hay của thế gian này? Ai là người chăn giữ linh hồn của quí vị?
CỬA NÀO CHÚNG TA VÀO, NGƯỜI CHĂN NÀO CHÚNG TA THEO?
v. 7, 9: Đức Chúa Jêsus lại phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta là cửa của chiên… Ta là cái cửa: nếu ai bởi ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi; họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ.
Cửa gồm hai mặt. Một mặt hướng ngoại, một mặt hướng nội (bên trong) . Như cánh cửa của hội thánh hay như cửa nhà của mỗi chúng ta. Dù bên ngoài nóng nực đến cháy da nhưng khi bước qua cửa để vào bên trong thì sẽ thấy mát mẻ, dễ chịu. Khi bên ngoài tuyết đá, mưa bão phía bên kia của cánh cửa là căn nhà quen thuộc, ấm áp với người thân yêu. Nhà không cửa thì sao được bảo vệ? Cửa cũng chính là vật bảo vệ cho nhà. Tôi nhớ hình ảnh của ngày 30/4/75 hằng trăm người đứng quanh các tòa đại sứ quán, đặc biệt toà đại sứ KH tại Sài gòn. Người ta chỉ mong được bước qua bên kia của cánh cửa sắt của sứ quán vì bên kia là hy vọng, sự sống, là tương lai cho cá nhân, cho gia đình. Rôi khi chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi nóc tòa đại sứ HK, hằng chục người cố nhảy lên để được vào bên trong nhưng hình chụp một người Mỹ đấm vào mặt của người cố nhảy lên.
Khi đêm đến, bên ngoài trời tối tăm, đầy nguy hiểm cho chiên. Nào là sói dữ, nào là trộm cướp muốn bắt chiên; bóng tối dày đặt của ban đêm cũng khiến cho chiên nào đi lạc không thể tìm được đường về, rồi chưa kể đến mưa bão, tuyết đá. Nhưng bên trong chuồng, đằng sau cánh cửa, chiên được bảo vệ, an toàn, ấm áp, được gần gủi với các chiên khác và biết rằng người chăn chiên luôn bên cạnh để chăm sóc, bảo vệ, dù trong đêm tối, dù thời tiết băng giá, bão tố thế nào. Bên kia cửa là hiểm nguy, sự chết, bên đây cửa là bình an, sự sống. Quí vị nghĩ chiên, dù là con vật đơn giản, không khôn ngoan như chó, mèo, sẽ chọn bên nào của cánh cửa chuồng chiên?
Vậy khi ĐCJC nói Ngài chính là cửa của chiên thì Chúa muốn xác nhận rằng chỉ có một con cách thức, cửa nẽo để vào nơi yên nghĩ, an toàn cho những con chiên nghe tiếng người chăn nhân từ, nghe tiếng Chúa. Ngài mới chính thật là đường dẫn đến sự sống. Chúa xác nhận rõ ràng, cụ thể điều này trong câu 9: Ta là cái cửa: nếu ai bởi ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi; họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ. Và rõ hơn hết khi Ngài tuyên bố: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. (Giăng 14:6)
Khi ĐCJC nói Hết thảy những kẻ đã đến trước ta đều là quân trộm cướp; nhưng chiên không nghe chúng nó thì Ngài có ý gì? Dĩ nhiên Chúa không nói về những tiên tri ĐCT sai để giảng dạy lời Chúa, cảnh giác dân sự thời CU. Từ KTCU ĐCT cũng đã cảnh giác dân Ngài về những tà thần, những tiên tri, giáo sư giả.
Giê-rê-mi 1:1-2 - Đức Giê-hô-va phán: Khốn thay cho những kẻ chăn hủy diệt và làm tan lạc bầy chiên của đồng cỏ ta. Vậy nên, về những kẻ chăn giữ dân Ngài, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Các ngươi làm tan lạc bầy chiên ta, đã đuổi đi và không thăm nom đến; nầy, ta sẽ thăm phạt các ngươi về những việc dữ mình làm, Đức Giê-hô-va phán vậy.
Ê-xê-chi-ên 34:2-6 - Hỡi con người, hãy nói tiên tri nghịch cùng những kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên; hãy nói tiên tri, và bảo những kẻ chăn ấy rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Khốn nạn cho kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên, là kẻ chỉ nuôi mình! Há chẳng phải những kẻ chăn nên cho bầy chiên ăn sao? Các ngươi ăn mỡ, mặc lông chiên, giết những con chiên mập, mà các ngươi không cho bầy chiên ăn! Các ngươi chẳng làm cho những con chiên mắc bịnh nên mạnh, chẳng chữa lành những con đau, chẳng rịt thuốc những con bị thương; chẳng đem những con bị đuổi về, chẳng tìm những con bị lạc mất; song các ngươi lại lấy sự độc dữ gay gắt mà cai trị chúng nó. Vì không có kẻ chăn thì chúng nó tan lạc; đã tan lạc thì chúng nó trở nên mồi cho hết thảy loài thú ngoài đồng. Những chiên ta đi lạc trên mọi núi và mọi đồi cao; những chiên ta tan tác trên cả mặt đất, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm.
NGƯỜI CHĂN CHIÊN NHÂN TỪ
Khác với bọn chăn chiên bất nhân tiên tri Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên cảnh giác, ĐCJC là người chăn chiên nhân từ, hiền lành. Chúa nêu lên những khác biệt giữa người chăn chiên tốt lành với bọn chăn vô tâm:
1. Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình. 12 Kẻ chăn thuê chẳng phải là người chăn, và chiên không phải thuộc về nó. Nếu thấy muôn sói đến thì nó bỏ chiên chạy trốn; muôn sói cướp lấy chiên và làm cho tản lạc. 13 Ấy vì nó là kẻ chăn thuê, chẳng lo lắng chi đến chiên. ĐCJC đến thế gian để chịu chết trên thập giá hầu cứu chuộc tội cho loài người. Ngài thật sự đã phó sự sống chính Ngài cho chúng ta.
2. Ta là người chăn hiền lành, ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta, 15 cũng như Cha biết ta và ta biết Cha vậy; ta vì chiên ta phó sự sống mình. Người chăn chiên nhân từ là người chăn quen biết chiên cách cụ thể, rõ ràng, tường tận. Từ quen ở đây nói lên một sự hiểu biết rất tận tường, chứ không qua loa, mơ hồ. Biết cụ thể về tình trạng mỗi con chiên trong ràng mạnh khỏe, đau yếu. Biết tính tình từng con, biết có con hay đi lang thang xa bầy, có con hung hăn, quậy phá, có con cần được chăm sóc đặc biệt. Chúa so sánh sự quen biết này như Cha biết ta và ta biết Cha vậy, như hai ngôi ĐCT biết nhau. Từ trước khi trời đất vũ trụ được tạo dựng thì Cha và Con đã có rồi. Quan hệ giữa ba ngôi ĐCT là một quan hệ toàn thiện, toàn mỹ. Ba ngôi biết nhau sâu kín hơn cả chồng vợ biết nhau, cha mẹ biết con cái, hơn cả tình bạn thân thiết nhất trong đời này. Đó cũng là sự quen biết của ĐCJC cùng chiên Ngài.
Đây thật sự là một yên ủi hết sức to lớn cho những ai là chiên của Chúa vì Ngài biết rõ mọi tình cảnh trong cuộc đời của họ. Người ta há chẳng bán năm con chim sẻ giá hai đồng tiền sao? Nhưng Đức Chúa Trời không quên một con nào hết. 7 Dầu đến tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm cả rồi. (Lu-ca 12:5-7)
Hỡi nhà Gia-cốp, và hết thảy các ngươi là dân sót của nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe ta, ta đã gánh vác các ngươi từ lúc mới sanh, bồng-ẵm các ngươi từ trong lòng mẹ. 4 Cho đến chừng các ngươi già cả, đầu râu tóc bạc, ta cũng sẽ bồng-ẵm các ngươi. Ta đã làm ra, thì sẽ còn gánh vác các ngươi nữa. Ta sẽ bồng ẵm và giải cứu các ngươi. (Ê-sai 46:3-4)
3. Người chăn chiên nhân từ không những chỉ quan tâm đến bầy chiên trong ràng nhưng còn đến cả những con chiên đang lạc mất. Ta còn có chiên khác chẳng thuộc về chuồng này; ta cũng phải dẫn nó về nữa. Chiên đó sẽ nghe tiếng ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi.
Chiên khác là chiên nào? Là những người ngoại, không phải tuyển dân của ĐCT. ĐCJC đến thế gian không chỉ để cứu dân DT nhưng cả mọi dân trên đất này. ĐCJC cũng đã dùng ví dụ của một người chăn chiên của bầy 100 con. Dù chỉ một con đi lạc thì người chăn cũng để lại 99 chiên kia để tìm cho được chiên lạc mất.
Vậy nếu chúng ta là chiên của Chúa thì chắc chắn Ngài sẽ gìn giữ, bảo vệ, chăm sóc chúng ta cách trọn vẹn, chu đáo. Không phải vì có mấy tỉ người tin Chúa nên Chúa không quan tâm đến cá nhân của tôi và mỗi quí vị đây. Có người nói thế này: Dù ĐCJC đến thế gian để chết cho cả thế gian, nhưng nếu chỉ mỗi mình bạn thì Chúa vẫn chịu chết thay cho.
Tình yêu thương của Chúa không chỉ cho cả bầy chiên nhưng cho từng mỗi một con.
