Ngôi Lời Giáng Thế
[Đọc Giăng 1:1-5, 11-14] Mục đích của bài giảng này là để giải thích ý nghĩa thật sự của lễ GS.
Nếu hỏi các em thiếu nhi GS là gì, các em sẽ trả lời: GS là ngày sinh nhật của Giê-xu (Jesus’ birthday). Câu trả lời đúng phải không qv? Tuy nhiên nếu dừng lại và suy nghĩ thêm, chúng ta có thể nhận xét vài điều rất đặc biệt về ngày sinh của Giê-xu.
Đầu tiên ngày sinh của Giê-xu là một sự kiện lịch sử có thật đã xảy ra hơn 2000 năm trước đây. Hôm nay tất cả các sử giả, dù là người tin hay không tin Chúa đều xác nhận điều này: Giê-xu là một nhân vật có thật trong lịch sử. Và ngày sinh của Giê-xu đánh dấu một sự kiện lịch sử quan trọng đến nỗi lịch chúng ta dùng hôm nay tính từ trước và sau khi Giê-xu sinh ra. Trước công nguyên BC – before Christ; sau công nguyên AD – Anno Domini (tiếng La-tinh, năm của Chúa chúng ta). Đúng như một câu chúng ta thường nghe: "Bản lề của lịch sử nằm tại cửa của chuồng chiên tại Bethlehem nơi Giê-xu giáng sinh!
Thứ hai không có ngày sinh của bất kỳ một lãnh tụ tôn giáo nào hay lãnh đạo nào từ xưa đến nay lại được kỷ niệm hàng năm trên khắp thế giới như ngày Giê-xu ra đời. cả thế giới hàng năm đều kỷ niệm sinh nhật của Giê-xu, bất luận người da trắng, da vàng hay da đen, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào, dù tại Mỹ châu hay Phi châu, dù là Á châu hay Âu châu. (2.38 tỉ người, 31.2% của tổng dân số thế giới)
Thứ ba, chúng ta gọi ngày mọi người sinh ra là sinh nhật nhưng người VN chúng ta lại gọi ngày sinh của Giê-xu là ngày giáng sinh. Giáng là từ trên đi xuống, từ cao hạ xuống thấp. Gọi sự ra đời của Giê-xu là GS hàm ý rằng Jesus này ở trên con người, từ nơi cao trọng nhập thế làm người.
Ngay cả trong Anh ngữ ngày Jesus sinh ra gọi là Christmas, là ngày của Christ. Christ không phải là họ của Jesus nhưng có nghĩa là người được xức dầu, người được chọn. Từ Christ xuất phát từ tiếng Hy Lạp "Christos", dịch từ tiếng Hơ-bơ-rơ có nghĩa là "Đấng Mê-si". Đấng Mê-si là đấng Cứu Tinh mà ĐCT đã hứa sẽ đến để giải cứu dân Ngài. Đối với người DT thì Đấng Mê-si đến để giải cứu họ ra khỏi ách thống trị của đế quốc La-mã thời xưa, và vẫn còn chờ đợi cho đến hôm nay. Nhưng theo KTTU thì Đấng Mê-si đến để giải cứu muôn dân ra khỏi tội.
Ba điều này khiến chúng ta hỏi: Giê-xu này là ai mà dòng lịch sử con người phân hai bởi sự ra đời của Ngài, mà hàng năm hàng tỉ người trên khắp 5 châu đều kỷ niệm sinh nhật, và tại sao ngày sinh của Giê-xu lại được gọi là ngày GS với người VN chúng ta. Câu trả lời ngắn gọn là vì hài nhi Giê-xu sinh ra trong chuồng chiên máng cỏ tối tăm, dơ bẩn, hôi hám chính thật là Đấng từ trời xuống thế gian để cứu tội cho muôn người trên đất.
PA Giăng không viết về câu chuyện GS như hai sách Ma-thi-ơ và Lu-ca. Mục đích của Giăng không phải để kể lại câu chuyện Giê-xu giáng sinh xảy ra thế nào nhưng để giải thích cho người đọc biết Giê-xu là ai và xuống thế gian để làm gì qua những lời mở đầu của sách.
PA Giăng mở đầu với lời: Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Giăng chủ ý bắt đầu sách với từ ban đầu để nhắc người đọc về lời đầu tiên trong sách STK: Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất. Từ ban đầu trong Giăng khác với ban đầu trong STK. Ban đầu trong STK nói về sự sáng tạo. Ban đầu trong Giăng nói về Đấng Sáng Tạo. Đấng Sáng Tạo phải có trước sự sáng tạo, như con người phải có trước những sản phẩm do con người tạo ra trên thế giới này.
Ban đầu có Ngôi Lời có nghĩa là Ngôi lời đã hiện hữu từ trước đời đời vô cùng, từ trước khi thời gian và không gian hiện hữu, từ trước khi hàng tỉ tỉ ngôi sao, tinh tú, các dãy ngân hà xuất hiện, từ trước con người được tạo dựng. Chỉ có ĐCT là Đấng không có sự khởi đầu và kết thúc, từ đời đời cho đến đời đời Ngài luôn hiện hữu. Vậy Ngôi lời chính là ĐCT.
2 phần kế của câu 1 cũng nhằm xác nhận lại ý quan trọng này để người đọc không thể hiểu lầm. Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, Ngôi Lời là Đức Chúa Trời – Mới đọc qua câu KT này tưởng như mâu thuẫn với nhau. Ở cùng hàm ý rằng có 2 thân vị khác nhau, như khi tôi nói tôi đang ở cùng với qv trong phòng nhóm này có nghĩa là mỗi người đây là một thân vị riêng biệt. Vậy làm thế nào có thể viết: Ngôi ở cùng ĐCT và Ngôi lời là ĐCT? Nói cách khác ý nghĩa của câu KT này là dù Ngôi Lời và ĐCT là hai thân vị khác nhau nhưng có cùng một bản thể, cả hai đều là một ĐCT. Đây là loại toán chưa từng thấy 2 = 1! Đúng hơn KT dạy 3 = 1 là vì một thân vị thứ 3 là ĐTL cũng chính là ĐCT.
Tôi biết đây là một ý tưởng hết sức khó hiểu và khó giải thích. Tuy nhiên niềm tin về 3 ngôi ĐCT giải thích rất nhiều điều quan trọng trong đời sống con người, như quan hệ, như tình yêu thương. Nếu ĐCT chỉ là Một Thể, Một Thân Vị thì làm sao có quan hệ, có quan hệ với ai, và nếu không có quan hệ thì làm sao có tình yêu thương.
Nhưng bởi vì ĐCT gồm có 3 thân vị gọi là Ngôi thứ nhất (ĐCC) và Ngôi thứ hai (ĐCCon, ĐCJC) và Ngôi Ba là ĐTL, nên từ đời đời 3 thân vị của ĐCT đã có quan hệ với nhau, có tình yêu thương, có sự hiệp một với nhau. Vì vậy khi ĐCT sáng tạo con người theo hình của Ngài có nghĩa là Ngài tạo con người cần có quan hệ với nhau, cần tình tình yêu thương, sự hiệp một. Không có gì trong đời đau khổ hơn là mất đi quan hệ với người thân yêu trong đời chúng ta.
Ngôi Lời là ai? Ngôi Lời là ĐCT hiện hữu từ đời đời. Ngôi lời là Ngôi Hai trong ba ngôi ĐCT. [Tưởng rằng đến để nghe điều êm đềm, ấm áp mùa GS nhưng không ngờ lại nghe những điều cần vận trí như vầy!]
Nhưng câu KT giải thích rõ nhất về ý nghĩa của GS: Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha. (Giăng 1:14).
Ngôi lời trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta có nghĩa là trở nên con người bằng xương thịt và sinh sống trong vòng con người. Đấng Sáng Tạo muôn loài, Đấng có sự sống đời đời đã trở thành con người và sống trong vòng con người. Câu KT này cho chúng ta biết Ngôi Lời chính là hài nhi Giê-xu, Đấng đã giáng sinh hơn 2000 năm trước đây. Đấng mà hôm nay tất cả dân tộc, quốc gia trên thế giới này đều đón mừng ngày sinh của Ngài.
Nhưng tại sao Giê-xu lại được gọi là Ngôi Lời? Tại sao Giăng lại dùng từ Ngôi Lời để viết về ĐCJC, Ngôi Hai ĐCT?
1. Để nhắc những người đọc gốc Do Thái rằng Ngôi lời cũng chính là Đấng đã dùng để sáng tạo muôn vật như trong STK 1 Đức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng. 9 lần trong câu chuyện sáng tạo. ĐCT dùng chính lời phán thì mọi vật hiện hữu. Hàm ý rằng ĐCT đã dùng chính Ngôi Lời, ĐCJC để tạo dựng muôn vật. Như trong câu ba: Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài. Vậy Giăng muốn cho biết rằng Đấng Giáng Sinh, Ngôi Lời cũng chính là Đấng Sáng Tạo muôn loài.
2. Lời là phương tiện chính yếu và quan trọng nhất để trao đổi tin tức, diễn đạt ý nghĩ, bày tỏ tình cảm, nói lên cảm xúc trong lòng giữa con người. Giăng muốn nói rằng Đấng Sáng Tạo muôn loài đã sinh ra làm người, sống trong vòng con người để bày tỏ ý tưởng, lời dạy của ĐCT cho con người, cho tôi, cho qv. Ngài nói gì với loài người? Vì yêu thương con người nên Ta xuống thế gian để chịu chết cho tội của con như trong câu KT quen thuộc: Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời. (Giăng 3:16)
3. Để khẳng định, cả quyết rằng mọi lời dạy của Ngôi lời là hoàn toàn chính xác, chắc chắn, bảo đảm: vì đó chính là lời của ĐCT, chứ không qua trung giang của một xứng ngôn viên, dại diện nào cả.
Từ xưa đến nay có biết bao nhiêu giáo chủ, giáo sư, thầy dạy tôn giáo, triết gia, lãnh đạo dạy người quanh mình về ĐCT. Những người này cố gắng hết sức để tu hành, xa lánh thế gian, nghiên cứu, suy nghĩ, lý luận về ĐCT để hiểu rõ hơn về lẽ đạo, về ĐCT nhằm để dạy cho người quanh họ về ĐCT.
Nhưng khi Giăng dùng danh xưng Ngôi lời, thì ông khẳng định, cả quyết rằng tất cả mọi lời Ngôi lời phán dạy là lời của ĐCT. Chỉ có Ngôi lời mới là lời hoàn toàn đáng tin cậy vì Ngài chính là ĐCT. Lời của Ngôi lời là lời từ ĐCT. Điều Ngôi lời dạy bảo là lời dạy bảo của ĐCT; an ủi là từ chính ĐCT; sửa trị, trách phạt là từ chính ĐCT.
Đây chính là lý do mà ĐCJC, Ngôi lời mới có thể khẳng định: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. 7 Ví bằng các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta; và từ bây giờ các ngươi biết và đã thấy Ngài. (Giăng 14:6-7)
[Câu chuyện ví dụ tôn giáo như những người mù sờ con voi. Mỗi người chỉ nhận biết 1 phần. Chỉ có người sáng mắt mới có thể nhìn thấy cả con voi. Người sáng mắt ấy chính là ĐCJC, là Ngôi lời]
Lời trong tiếng nguyên thủy Hy-lạp là logos. Logos có nghĩa là lời nói. Ngôi chỉ là một từ phụ để bày tỏ sự kính trọng nhưng không có trong bản viết nguyên thủy. Từ logos đã được dùng bởi một triết gia Hy Lạp tên Heraclitus sống khoảng 500 năm trước khi Giê-xu giáng sinh. Trong thời Giăng viết những lời này, một triết gia người Do Thái rất nổi tiếng tên Philo cũng đã dùng từ logos này. Vậy từ logos đã được dùng trước và trong thời Chúa giáng sinh. Trong triết lý Hy-lạp thì logos được hiểu như một lý do căn bản của Thượng Đế để điều hành vũ trụ bao la này. Với người DT từ này nói đến những lời khải thị của ĐCT qua các tiên tri thời xưa.
Giăng chủ ý dùng từ logos để giải thích cho mọi dân tộc, dù là Hy-lạp hay Do Thái, dù là Tây Phương hay Đông Phương rằng ý nghĩa thật sự là ĐCT đã trở nên con người. Để nói với hết thảy chúng ta rằng ĐCT yêu thương con người, không chỉ qua lời nói, lý thuyết trừu tượng nhưng yêu thương đến nỗi đã hy sinh Ngôi Hai để đến thế gian sống giữa vòng con người, rồi cuối cùng chịu chết đau thương trên thập giá để cứu tội con người.
[Nếu đủ thời gian: Câu chuyện Anh phải sống để nói lên giá trả bằng chính mạng sống để cứu các con mình] ĐCT đã đến thế gian hy sinh chính mạng sống Ngài để chuộc tội cho chúng ta. Đó chính thật là sự bày tỏ tình yêu thương, không chỉ qua lời nói nhưng qua hành động.
Ngôi lời đến và ở giữa chúng ta như thế nào?
Sinh ra trong nơi chiên lừu ở tối tăm, hôi hám, dơ bẩn, không ai muốn sinh con mình ra nơi đó cả
Con của một thiếu nữ hết sức tầm thường, nghèo nàn & người thợ mộc
Tin báo đầu tiên cho ai? Những người chăn chiên ngoài đồng lúc nửa khuya.
Phải tị nạn tại xứ Ai-cập
Sinh sống, lớn lên trong làng Nazareth, nơi có gì tốt mà ra
Giao tiếp với những người thuộc tầng lớp thấp hèn nhất trong xã hội: người mắc bệnh, phung cười, tật nguyền, câm điếc, phạm tội tà dâm, bị quỉ ám
[Câu chuyện của hai người đính hôn. Nam tặng cho Nữ một chiếc nhẫn rất đắt tiền. Nữ làm mất. Khi nghe Nam trả lời: chiếc nhẫn dù đắt tiền nhưng vẫn có thể mua được, nhưng tình yêu thương của chúng ta không thể mua được bằng mọi giá]
HÃY ĐẾN VỚI NGÔI LỜI
Dù Ngôi Lời đã đến thế gian để nói với mọi người: Ta yêu thương con đến nỗi hy sinh chịu chết cho tội của con; Ta đến để ban cho con sự sống đời đời. Hãy đến để có thể nhận sự sống đó.
Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy. 12 Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, 13 là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy.
Như những người chăn chiên đang canh giữ bầy chiên trong đêm khuya. Dù họ không hiểu tất cả ý nghĩa, mục đích của GS nhưng họ vâng lời căn dặn của Thiên sứ mà đến để thờ lạy. Có thể một số qv đây không hiểu rõ nhiều điều trong câu chuyện GS, nhưng qv vẫn có thể đến với tấm lòng chân thành.
Đến như các bác sĩ đông phương không ngại đường xa, chỉ đễ dâng của lễ cho con trẻ mới sinh.
Qv hỏi tại sao Ngôi Lời phải chịu chết? Mỗi lỗi, mỗi tội trong đời này đều có một giá trả. Lỡ chạy xe quá tốc độ thì sẽ bị phạt tiền; nhiều lần sẽ bị treo bằng lái. Nhưng lái xe khi say rượu có thể sẽ bị tù. Trước một ĐCT hoàn toàn thánh khiết, không thể chấp nhận tội lỗi trong nước Ngài thì mọi tội đều thiếu mất sự vinh hiển, thánh khiết của Ngài, ai có thể đạt được tiêu chuẩn đó vì mọi người đều phạm tội.
Điều này sinh ra hai nan đề con người hoàn toàn không có cách giải quyết. Nan đề thứ nhất là vì mọi người đều phạm tội nên không ai có thể trả giá cho tội người khác trước ĐCT thánh khiết. Người bị giam trong tù làm sao có thể giải cứu người khác cũng bị giam trong tù. Người không đủ tiền trả nợ làm sao có thể trả nỗi số nợ lớn của người khác.
Vấn đề thứ hai ai có thể trả nỗi nợ của tội cho muôn người? Ngoại trừ khi người đó là ĐCT. Để giải quyết nan đề thứ nhất phải cần một người hoàn toàn không bao giờ phạm tội, hoàn toàn vô tội để có thể đứng trước ĐCT xin tha tội cho người. Nhưng chưa đủ. Để giải quyết nan đề thứ hai người hoàn toàn vô tội đó phải có đủ “tiền” để trả giá chuộc tội cho con người. Ai có đủ khả năng để trả giá của tội? Chỉ có ĐCT.
Ngôi lời là giải pháp duy nhất để cứu tội cho tôi và qv. Vì ngôi lời là người duy nhất không hề phạm tội, hoàn toàn thánh khiết, vô tội. Và vì ngôi lời cũng là ĐCT nên dư khả năng để trả hết nợ do tội lỗi vi phạm của con người. Đây chính là ý nghĩa thật sự của GS. Do tình yêu thương bao la, ĐCT hy sinh trở nên con người, sống giữa con người, có thể cảm thông thân phận con người như một người hoàn toàn vô tội. Nhưng Ngài cũng chính là ĐCT nên có thể trả hết nợ của loài người qua sự chết trên thập giá.
