Nâng Đỡ Nhau Trong Chúa
Khi ĐCJC về trời, Ngài để lại cho các môn đồ và những người sẽ tin Ngài qua họ 3 điều: Kinh Thánh, ĐTL và hội thánh. Qv nghĩ xem trong 3 điều đó, điều gì là không toàn vẹn, thiếu sót, sẽ có lỗi lầm, vấp ngã? Dĩ nhiên là hội thánh. Tại sao? Bởi vì đây là nơi nhóm họp, thờ phượng, thông công, phục vụ của tội nhân. Và hễ nơi nào có tội nhân, chắc chắn nơi đó sẽ có vấp phạm, sai sót, lỗi lầm. Đây là một lý do chính mà KT dạy con dân Chúa trong hội thánh cần phải nâng đổ nhau.
Ba phần: 1) Hội thánh của những tội nhân; 2) Người yếu, kẻ mạnh; 3) Nâng đở nhau trong Chúa
HỘI THÁNH CỦA NHỮNG TỘI NHÂN
Tôi thường chia sẻ khi chúng ta dự tiệc thánh rằng hội thánh không phải là hội của những người thánh, nhưng là của những tội nhân được cứu chuộc, tha thứ. Khi nói hội thánh lỗi lầm, sai quấy, hư hoại thì chúng ta chỉ xác nhận lại một điều hiễn nhiên, rõ ràng: bởi vì hội thánh là hội của những người có tội! Bởi vì là hội của những tội nhân, dù đây là những tội nhân đang được ĐTL thay đổi đời sống, nên chắc chắn sẽ có lúc tín đồ cũng sẽ tranh cải nhau, bất hòa với nhau rồi thậm chí đưa đến sự rạn nứt, bè phái, đưa đến chia rẽ.
Một câu chuyện kể về 3 mục sư cùng thành phố nhóm lại với nhau để cầu nguyện cho hội thánh, công việc Chúa. Một mục sư cầu nguyện cảm tạ Chúa vì tuần qua được 3 tín đồ mới; mục sư kia cũng cám ơn Chúa vì 2 tín đồ mới. Người mục sư thứ ba cầu nguyện than thở cùng Chúa vì tuần qua hội thánh của ông mất năm tín đồ! Tín đồ giận nhau, bất mãn với mục sư rồi bỏ đi tìm hội thánh khác là sự thường.
Một trong những lý do khiến người ngoại không tin Chúa là vì tín đồ không sống theo lời Chúa dạy; họ cũng tham lam, ích kỷ, ghen tị với người khác về điều không có, mau hờn giận, chậm tha thứ… Hay vì hội thánh bất hòa, chia rẽ. Có người ngoại mai mỉa rằng: rất dễ cho hội thánh phát triển; cứ cho tín đồ cải cộ, xích mích, tranh chấp, ấu đả nhau là sẽ có nhiều hội thánh ngay!
KT là lời hằng sống của ĐCT, không sai lầm hay có thể thay đổi. ĐTL là Ngôi Ba ĐCT, toàn mỹ, toàn thiện, toàn năng, toàn tri, tuyệt đối. Nhưng hội thánh thì bất toàn, hội của tội nhân. Qv hỏi tại sao ĐCT lại dùng hội thánh, một công cụ bất toàn, đầy tì vết, lỗi lầm, thậm chí có lúc hư hoại như vậy để rao giảng Tin Lành, để là nơi tín đồ thông công, sinh hoạt, thờ phượng, nơi nghe lời Chúa giảng dạy? Có mấy lý do chính sau đây:
Sự chọn lựa của ĐCT: Anh chị em hãy xem xét lúc Chúa kêu gọi anh chị em. Giữa vòng anh chị em không có mấy người khôn ngoan theo trần tục, không mấy người có quyền thế, cũng không có nhiều người quý phái. 27 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những điều dại dột trong thế gian để làm hổ thẹn những người khôn. Đức Chúa Trời đã chọn những điều yếu đuối trong thế gian để làm hổ thẹn những kẻ mạnh. 28 Đức Chúa Trời đã chọn những gì hèn hạ, bị khinh khi trong thế gian và những điều không ra gì để hủy bỏ những điều trọng đại. (1 Cô-rinh-tô 1:26-28 – BDM)
Để ĐCT bày tỏ ân điển và tình yêu thương cho đến cuối cùng đối với con dân Ngài. Giăng 13:1b Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng.
Để không ai, một cá nhân, một nhóm tín đồ nào có thể tự hào rằng chính tôi, chính chúng tôi đã dựng một hội thánh tuyệt đối, hoàn toàn gương mẫu, không sai sót. Để tất cả chúng ta phải nương cậy vào lời Chúa trong KT, nương cậy vào quyền năng của ĐTL khi xây dựng hội thánh ĐCT.
Để chính cá nhân mỗi tín đồ sẽ ý thức về sự ấu trỉ, non nớt, thiếu sót của mình và được thay đổi qua sự thông công, sinh hoạt với những anh chị em khác trong hội thánh.
Qv hỏi tín đồ thay đổi thế nào khi sinh hoạt với các anh chị em trong hội thánh? Tôi lấy một ví dụ này: tôi muốn học bơi, lên mạng tra tìm, nghiên cứu mọi kỷ thuật bơi từ các huấn luyện nổi tiếng, tham khảo các huấn luyện viên địa phương tại các hồ bơi. Nhưng tôi lại không bao giờ xuống nước vì sợ lạnh, sợ nước dơ, sợ ghẻ người khác lây, sợ người ta cười mình, sợ không có người gác hồ, sợ huấn luyện viên khó quá, sợ tốn kém. Qv nghĩ có bao giờ tôi biết bơi được không? Chắc chắn là không.
Người muốn bơi giỏi phải xuống nước, bắt đầu cách non nớt, vụng về, lội một vòng, rồi hai vòng, rồi dần theo thời gian 5, 10, 50 vòng. Muốn giỏi hơn phải bơi chung với đội. Có lúc uống nước hồ vì sóng từ người lội chung lane, có lúc đau nhức thân thể, có lúc muốn bỏ cuộc nhưng được cha mẹ, huấn luyện viên, các bạn cùng đội động viên, khích lệ, nâng đở, xây dựng, cổ vủ nên cứ tiếp tục ngày này sang ngày nọ, năm này qua năm kia.
Đến một ngày khi tôi nhìn trên gương, tôi thấy thân thể mình thay đổi không ngờ. Vai rộng chắc, eo nhỏ lại, bắp thịt chắc chắn. Khi xuống hồ bơi, tôi hiểu rõ cách tôi phải thở, tay chân phải cử động thế nào. Và khi tôi lội chung với các bạn đồng đội, họ không còn là những người xa lạ nữa, nhưng là những người vô cùng quen thuộc, đã cùng tôi tập tành từ ngày này qua tháng nọ, từ năm này sang năm khác. Qv chắc hiểu tôi muốn nói gì?
ĐCT dùng hội thánh gồm những tội nhân ích kỷ, mau hờn giận, thiếu tế nhị là môi trường thực tập để biến hóa, để thay đổi cuộc đời, tín hạnh, để trái TL thể hiện, phát triển trong đời sống mỗi tín đồ. Qv có thể đọc KT về tình yêu thương chậm nóng giận, tha thứ mọi sự. Có thể nghe tiếng ĐTL nhắc nhở con cần thay đổi điều này: chậm nóng giận, mau tha thứ. Rồi khi vào nhà thờ, thấy người nào đó nói đụng đến mình thì KT cũng quên, sự nhắc nhở của ĐTL cũng quên luôn. Nhưng nếu qv tập tành điều đó trong hội thánh qua sinh hoạt, thờ phượng, làm việc chung với anh chị em trong Chúa thì với thời gian, lời KT, sự nhắc nhở của ĐTL sẽ thay đổi cuộc đời qv.
Trong hội thánh, khi nhìn thấy sự mau hờn giận, khi nhìn thấy sự thiếu sót của anh chị em, khi chúng ta chỉ trích, chê bai, buộc tội anh chị em mình thì chính đó là lúc ĐTL sẽ nhắc nhở chúng ta: chính con cũng là người đó. Như khi vua Đa-vít nghe chuyện kể của tiên tri Na-than về người giàu bất nhân bắt giết con chiên độc nhất của người nghèo để đãi bạn, thì vua buộc miệng: người đó đáng phải chết. Chính ngay lúc đó tiên tri Na-than nói cho vua hay rằng chính vua là kẻ đó.
Trong hội thánh chúng ta tập bày tỏ trái TL: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ với các anh chị em trong Chúa. Qua hội của những người bất toàn, khiếm khuyết, ĐCT chỉ cho chúng ta về những bất toàn, khiếm khuyết trong chính đời sống mình. Và để dạy chúng ta biết nhường nhịn nhau, thông cảm cho nhau, hiền lành, nhân từ, mềm mại với nhau, để dè giữ tiết độ trong lời nói, cử chỉ, hành động.
Làm sao qv có thể làm chứng về Chúa cho người ngoại khi chính qv không thể làm chứng cho anh chị em trong Chúa qua cách cư xử, thái độ, hành động? Hội thánh là nơi chúng ta tập tành trái TL, để ý thức rõ rằng tất cả chúng ta trong hội thánh là anh chị em cùng một đội, một gia đình, một thân trong Chúa. Để chúng ta thương yêu nhau, đùm bọc nhau. Để mỗi chúng ta nâng đở, khích lệ, động viên nhau. Chị ngã em nâng chứ không phải chị ngã, em buông hay em xô!
NGƯỜI YẾU, KẺ MẠNH
Đoạn KT đã nghe đọc trong Rô-ma 14 viết về một nan đề lớn trong HT tại thành La-mã. HT La-mã không phải là HT duy nhất gặp khó khăn này. HT tại thành Cô-rinh-tô cũng có những khó khăn tương tự như vậy. 4Vậy, về sự ăn của cúng tế các thần tượng, chúng ta biết thần tượng trong thế gian thật là hư không, chỉ có một Đức Chúa Trời, chớ không có thần nào khác. 5 Thật người ta xưng có các thần khác, hoặc ở trên trời, hoặc ở dưới đất, (bởi đó họ thờ nhiều thần nhiều chúa), 6 về phần chúng ta, chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi, là Đức Chúa Cha, muôn vật bởi Ngài mà ra, và chúng ta hướng về Ngài; lại chỉ có một Chúa mà thôi, là Đức Chúa Jêsus Christ, muôn vật đều nhờ Ngài mà có, và chúng ta cũng vậy. (1 Cô-rinh-tô 8:4-6)
Vấn đề là gì? Tại HT La-mã, một số tín đồ nói rằng: tất cả tín đồ đều phải theo các luật pháp Mô-se về các thức ăn, hay phải giữ ngày thánh trong tuần. Một số tín đồ trong HT không làm theo điều này như những người tín đồ này muốn làm nên họ
In Rome, there was a group of Christians who began to say, “All Christians need to follow the Jewish dietary laws.” Because they said that, they began to withdraw from people who wouldn’t eat according to those laws, and they began to condemn the Christians who didn’t live according to those laws.
In Corinth we had a rather different issue. That is there were people there who said, “No Christian should ever eat food that had been dedicated or blessed in the name of or dedicated to one of the pagan deities like Apollo or Athena and so on.” Just as the idea that all Christians should follow the Jewish dietary rules meant those people began to withdraw because you couldn’t eat with people who didn’t believe with you, from people who didn’t share their religious beliefs, the same thing happened in Corinth.
Rô-ma 14 cho biết rõ lý do của kẻ yếu, người mạnh. Có hai lý do sau: 1) thức ăn, thức uống 14:1-4; 2) ngày thánh 14:5-7. Đây cũng là một vấn đề sanh đến bất hòa trong hội thánh Cô-rinh-tô (đoạn 8)
Thành La-mã là thủ đô của đế quốc La-mã, là nơi nhiều dân trong các xứ đến cư ngụ, như Sài Gòn hôm nay. Phong tục khác nhau, hiểu biết khác nhau, niềm tin khi lớn lên khác nhau. Người Giu-đa, dù đã tin Chúa, nhưng không phải một ngày một buổi mà bỏ qua những lễ tế, lễ chuộc trong ngày này, ngày nọ. Người La-mã, Hy lạp thì coi mọi ngày như nhau. Hai bên không đồng ý với nhau, đâm ra tranh cải, bất hòa, dẫn đến hờn giận, chia rẽ.
Người La-mã thời đó chịu ảnh hưởng văn hóa, phong tục, tôn giáo của người La-tinh và Hy lạp. Người Hy-lạp thờ vô số thần. Đến nỗi sách CV cho biết khi đến thành A-thên, thủ đô Hy-lạp thì Phao-lô đang đợi hai người [Si-la & Ti-mô-thê] tại thành A-thên, động lòng tức giận, vì thấy thành đều đầy những thần tượng. Một học giả viết số tượng thần trong thành phố đó nhiều hơn dân cư sinh sống. Vì ảnh hưởng niềm tin Hy lạp nên dân La-mã cũng thờ vô số thần. Ai yêu đương thì có thần ái tình Venus phò họ. Ai uống rượu và party thì có thần Bacchus phò họ; dĩ nhiên đây là thần được dân chúng ái mộ hơn hết. Ai đi biển thì cầu thần Neptune. Đến mùa gặt hái thì cầu thần Ceres.
Chính vì thờ vô số thần nên trong thành La-mã hay thành Cô-rinh-tô hầu hết thức ăn đều đã được dâng cúng cho thần trước khi ăn. Một số tín đồ Giu-đa có thể bảo các tín đồ La-mã, hay Hy-lạp: Thật người ta xưng có các thần khác, hoặc ở trên trời, hoặc ở dưới đất, (bởi đó họ thờ nhiều thần nhiều Chúa), 6 về phần chúng ta, chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi, là Đức Chúa Cha, muôn vật bởi Ngài mà ra, và chúng ta hướng về Ngài; lại chỉ có một Chúa mà thôi, là Đức Chúa Jêsus Christ, muôn vật đều nhờ Ngài mà có, và chúng ta cũng vậy. (1 Cô-rinh-tô 8:5-6)
Nhưng các tín đồ La-mã hay Hy-lạp có thể không nghĩ như vậy: Nhưng chẳng phải mọi người đều có sự hay biết đó. Một đôi người vì nghĩ thường có thần tượng, nên khi ăn của cúng tế đó cho là của cúng tế thần tượng; thì lương tâm yếu đuối của họ bởi đó ra ô uế. (v7) Tuy nhiên ăn đồ cúng hay không ăn đồ cúng, xem ngày này là thánh, hay mọi ngày như nhau không phải là vấn đề trọng yếu, sống còn của hội thánh Chúa. PL giải thích: Vì nước Đức Chúa Trời chẳng tại sự ăn uống, nhưng tại sự công bình, bình an, vui vẻ bởi Đức Thánh Linh vậy (Rô-ma 14:17)
PL dạy HT giải quyết thế nào? Hãy tiếp nhận người yếu đức tin, đừng lên án những vấn đề không biết chắc: 2 Người này tin có thể ăn mọi thức ăn, nhưng người kia yếu đuối chỉ ăn rau. 3 Người ăn đừng khinh bỉ kẻ không ăn và người không ăn chớ lên án kẻ ăn vì Đức Chúa Trời đã tiếp nhận người ấy. 4 Ngươi là ai mà lên án đầy tớ của người khác? Nó đứng vững hay ngã xuống, đó là việc của chủ nó; nhưng nó sẽ đứng vững vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng. (Rô-ma 14:1-4)
Từ tiếp nhận trong câu 1 theo tiếng Hy-lạp là proslambano, có nghĩa là kéo lại gần, kéo vào vòng, mở vòng tay để mời đón. PL lập lại từ này trong 15:7 và dùng hình ảnh của Chúa đã tiếp nhận chúng ta: Vậy, anh chị em hãy tiếp nhận nhau như Chúa Cứu Thế đã tiếp nhận chúng ta để đem vinh quang cho Đức Chúa Trời. Chúa tiếp nhận chúng ta thế nào? Đang khi chúng ta còn là người có tội, đang khi chúng ta còn nghịch cùng ĐCT.
Rô-ma 15:1 Vậy chúng ta là kẻ mạnh, phải gánh vác sự yếu đuối cho những kẻ kém sức, chớ làm cho đẹp lòng mình. BDM: Chúng ta là người mạnh phải gánh vác những khiếm khuyết của người yếu; chớ nên chỉ làm hài lòng mình. BD2011: Chúng ta là những người mạnh phải gánh vác những gì những người yếu làm không nổi, chứ không chỉ lo làm vui lòng mình. Chú ý các từ dịch khác nhau: Yếu đuối, khiếm khuyết, những gì làm không nổi. BDM gần từ nguyên thủy hơn hết. Đây là từ duy nhất dùng trong KT TU, có nghĩa là lỗi lầm, thiếu sót, khuyết điểm từ ý nghĩ non nớt, chưa trưởng thành.
PL khẳng định một sự thật trong hội thánh: có người yếu, kẻ mạnh; có sự khác biệt, bất đồng ý kiến. Có người trưởng thành, hiểu biết, có người non nớt, thiếu hiểu biết. Và giữa hai mức này có nhiều dáng vẽ, chừng mực khác nhau. Trưởng thành hơn, non nớt hơn.
ĐTL ban cho mỗi người trong hội thánh ân tứ khác nhau, nhưng cùng một trái TL để làm gì? Chính Ngài cho một số người làm sứ đồ, một số làm tiên tri, một số làm truyền giáo, một số làm mục sư và giáo sư, 12 nhằm mục đích trang bị các thánh đồ trong công tác phục vụ, gây dựng Thân Thể Chúa Cứu Thế, 13 cho đến khi tất cả chúng ta đạt đến sự hợp nhất trong đức tin và trong sự hiểu biết Con của Đức Chúa Trời, tiến đến mức trưởng thành, phát triển đến tầm thước vóc dáng đầy trọn của Chúa Cứu Thế. (Ê-phê-sô 4:11-13) ĐTL ban cho ân tứ, trái TL để tín đồ trong hội thánh làm gì? Câu 12. Trang bị để làm gì? Để phục vụ, để gây dựng hội thánh (thân thể Chúa). Cho đến khi nào? Qv cùng đọc lại với tôi câu 13.
Chính vì cho đến khi tất cả chúng ta đạt đến sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự hiểu biết ĐCJC, đến khi mọi người trưởng thành nên có lúc hội thánh chỉ có thể đi nhanh nhất với tốc độ của người chậm nhất! Bởi vì ĐCT lập hội thánh để mọi người trong hội cùng nhau phục vụ, cùng nhau trưởng thành. Chứ không phải chỉ cho một vài người, một nhóm nào đó.
Ý ĐTL muốn tất cả anh chị em trong hội thánh đều trưởng thành, đều phát triển đầy trọn. Nhưng PL ghi nhận một sự thật rằng con cái Chúa trong hội thánh đầu tiên tại thành La-mã không trưởng thành tất cả, và dĩ nhiên cũng trong hội thánh ngày nay. Một số mạnh mẽ, một số vẫn còn non nớt, yếu đuối, khiếm khuyết trong sự hiểu biết KT, trong đức tin, trong sự phục vụ.
PL bảo những người mạnh phải làm gì cho những kẻ yếu? Gánh vác sự yếu đuối, gánh vác những khiếm khuyết, gánh vác những điều họ không làm nổi (chứ không phải làm biếng!) Và trong câu 2: Mỗi người trong chúng ta hãy làm hài lòng người lân cận để giúp ích và xây dựng họ. KT dạy người mạnh không kiêu hảnh, khinh dễ kẻ yếu. Trái lại phải gánh vác sự yếu đuối đó, để nâng đở, tương trợ, để giúp cho anh em chị còn non nớt, yếu đuối tiếp tục lớn lên trong Chúa. Còn kẻ yếu không tự ái, ý thức sự thiếu sót, non nớt, khuyết điểm, mà cần được nâng đở, tương trợ từ anh chị em mạnh mẻ trong Chúa.
Đây là thể hiện của người tín đồ có trái TL trong đời sống. Đây là lời Chúa dạy cho tín đồ trong hội thánh.
NÂNG ĐỞ NHAU TRONG CHÚA
Việc này liên hệ đến hội thánh ngày nay, tại đây thế nào? Xã hội hôm nay có những điều mà tín đồ này tin thế này, tín đồ kia tin thế khác. Tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đang nói đến những vấn đề không trọng yếu của Tin Lành, không trái với lời dạy KT. Như có người tín đồ tin rằng khi thờ phượng Chúa không được giơ tay cao, không được vũ múa trên bục giảng, không được dùng bản dịch nào khác bản dịch truyền thống. Có hội thánh mục sư phải mặc áo vét cho kỉnh kiền; có hội thánh mục sư mặc áo ngắn tay, bỏ ra ngoài, quần jean. Câu hỏi không phải là ai đúng, ai sai, nhưng là làm thế nào để những bất đồng ý kiến từ các việc nhỏ, không đáng này không làm chia rẽ tín đồ, chia rẽ hội thánh Chúa.
Sứ đồ PL trong 1 Cô-rinh-tô 8 và Rô-ma 14, và 15:1-7 dạy tín đồ và hội thánh Chúa mấy nguyên tắc quan trọng sau đây để tránh sự tranh cải, chia rẽ trong vòng tín đồ:
1. Chú tâm vào điều trọng yếu. Một số qv có thể rất ngạc nhiên khi nghe tôi nói điều này: Mục đích trọng yếu của hội thánh mà ĐCJC ủy thác không phải là thay đổi đời sống anh chị em mình, mà là đại mạng lịnh rao giảng Tin Lành và dạy họ hiểu rõ KT (môn đồ hóa) Ma-thi-ơ 28:19-20. Việc thay đổi đời sống là việc của ĐTL. Ngài dùng KT, dùng tín đồ trong hội thánh để rao giảng TL, để giải thích, dạy dỗ KT, nhưng chính ĐTL mới là Đấng khiến một cuộc đời thay đổi. Ai nghĩ rằng tôi làm cho người này, người nọ đổi đời là người không hiểu KT, hay kiêu hảnh. Tôi và qv là công cụ của ĐTL. Nên hãy bỏ đi ý nghĩ thay đổi tánh tình của anh này, chị kia, em nọ trong hội thánh.
Nhà văn Pháp Saint Exupery viết Yêu nhau không phải là nhìn nhau nhưng cùng nhìn về một hướng. Tôi nghĩ đây là lời rất ý nghĩa. Nhìn nhau sẽ thấy lỗi của nhau, thấy tật xấu, thấy khiếm khuyết, sự ấu trỉ, non nớt, nhưng khi tín đồ nhìn cùng chú tâm về một hướng vào những điều trọng yếu Chúa dạy, như rao giảng Tin Lành, học làm theo lời KT dạy thì chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ sẽ hóa không.
Tác giả sách Hê-bơ-rơ dạy tất cả tín đồ phải chăm nhìn ĐCJC là cội rễ, và cuối cùng của đức tin mà chạy. Những tín đồ nhìn ĐCJC mà chạy mới là những người mạnh, người trưởng thành, người tập trung vào điều quan trọng, mà bỏ qua những tranh cảnh, bất hòa vì những việc không đáng, việc phụ.
MS Rick Warren kể rằng vào khoảng năm 1910 khi chế độ Bôn-sơ-vít bắt đầu cuộc cách mạng đỏ tại xứ Nga sô. Xã hội, đất nước, dân sự đang trong cảnh dầu sôi, lửa bỏng. Trong cảnh đó các mục sư, lãnh đạo của hội thánh Orthodox tranh cải nhau về vấn đề ren đeo trên áo giảng phải dài ngắn bao nhiêu.
Qv có biết bao nhiêu hội thánh chia rẽ, tín đồ hờn giận nhau, muốn tống khứ mục sư vì những chuyện nhỏ nhặt, không quan trọng, không chủ yếu hay không? Làm mục sư gần 20 mươi năm rồi, tôi thấy và nghe và cũng đã kinh nghiệm được điều này. Điều vô cùng đáng buồn là hội thánh ĐCT tan rã là bởi vì những việc vô cùng nhỏ mọn.
Tôi thường dùng câu này trong các bài giảng: In essentials, unity; in non-essentials, liberty; in all, charity – Trong những vấn đề trọng yếu, hiệp một; trong những vấn đề không trọng yếu, tự do; trong mọi sự, có tình yêu thương.
2. Nhượng quyền tự do vì kẻ yếu
Vì danh Chúa, vì hội thánh Chúa, vì anh chị em trong Chúa mà tôi sẽ không làm điều tôi có tự do để làm. Tôi sẽ nhượng quyền tự do để nâng đở, xây dựng cho nhau trong Chúa. Đây là nguyên tắc cho những người tín đồ trưởng thành.
Qv sẽ hỏi vậy tôi có sự tự do để làm điều tôi muốn, nếu điều đó không phải vấn đề trọng yếu phải không? Câu trả lời là phải và không. Phải là qv thật có quyền tự do như PL đã khẳng định. Có quyền ăn đồ cúng, có quyền xem Chúa nhật như mọi ngày. Nhưng không là bởi vì có một lời dạy khác cho những người ý thức rằng mình là người tự do: Nhưng hãy giữ lấy, kẻo sự tự do mình làm dịp cho kẻ yếu đuối vấp phạm... Cho nên, nếu đồ ăn xui anh em tôi vấp phạm, thì tôi sẽ chẳng hề ăn thịt, hầu cho khỏi làm dịp vấp phạm cho anh em tôi. (1 Cor 8:9, 13) Hỡi anh em, anh em đã được gọi đến sự tự do, song chớ lấy sự tự do đó làm dịp cho anh em ăn ở theo tánh xác thịt, nhưng hãy lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau. (Ga-la-ti 5:13) Nói cách khác vâng tôi có quyền tự do làm điều này điều nọ nhưng nếu khi tôi làm điều đó mà gây ra sự vấp phạm cho người anh chị em yếu đuối trong đức tin, trong sự hiểu biết thì tôi sẽ không làm. Tôi sẽ nhượng quyền tự do đó cho người anh chị em còn yếu đuối, non nớt trong đức tin.
Sứ đồ PL viết cho tín đồ hội thánh Cô-rinh-tô những lời sau đây: Tôi không được tự do sao? Tôi không phải là sứ đồ sao? Không phải tôi đã thấy Chúa Giê-su sao? Không phải anh chị em chính là công trình của tôi trong Chúa sao? 4Chúng tôi không có quyền ăn, uống sao? 5 Chúng tôi không có quyền đem theo một chị em làm vợ như các sứ đồ khác hoặc như các em của Chúa và như Sê-pha sao? 6 Hay là chỉ có tôi và Ba-na-ba mới phải tự túc làm việc để sống? 15Nhưng tôi đã không sử dụng những quyền này. Tôi cũng không viết những lời này để đòi quyền ấy. (1 Cô-rinh-tô 9:1,4-6, 15)
Khi có tiệc thông công tôi nhận xét có một số anh chị em không bao giờ ngồi vào bàn ăn trước cả. Không phải vì họ không có sự tự do để làm điều này, nhưng chọn nhượng sự tự do để phục vụ. Họ dọn bàn, phân phát thức ăn. Sau khi mọi người đã có thức ăn, họ mới ăn và ăn đứng. Sau đó dọn dẹp, rửa chén. Lý do gì họ làm những điều này? Tiên khách, hậu chủ; kính lão, đắc thọ; phục vụ cho anh chị em trong hội thánh. Và nếu có thiếu thức ăn thì họ phải nhịn cho những anh chị em trong hội thánh ăn, dù có quyền tự do để ăn uống đầy đủ.
Trong hội thánh, có người nấu ăn giỏi hơn người khác, có người khéo hơn người khác, có người hiểu biết KT nhiều hơn người khác. Người nấu ăn giỏi đừng chê đồ ăn của người nấu dở. Nếu muốn ăn ngon thì về nhà tự nấu ăn hay đi nhà hàng. Người khéo chớ chê việc làm của người vụng. Người hiểu biết KT chớ khinh dễ người học hoài mà vẫn không hiểu. Qv có nghĩ ĐTL dùng những anh chị em đó, những điều khiến qv không vui, không thỏa lòng để dạy cho qv biết nhường nhịn, biết khiêm nhường, biết kiên nhẫn hơn hay không?
Khi thấy một anh chị em trong hội thánh có vẽ buồn mình, qv làm gì? Người gì mà kỳ cục, đụng chút là hờn, là giận. Không chơi nữa. Dĩ nhiên qv có quyền làm bạn với người mình thích, và không làm bạn với người mình không thích. Nhưng vì danh Chúa, vì hội thánh Chúa, vì tình yêu thương, kẻ mạnh trong Chúa, người có trái TL phải ép mình để chủ động làm bạn, để giải hòa, dù có thiệt thòi.
Hãy bằng lòng tiếp lấy kẻ kém đức tin, chớ cãi lẫy về sự nghi ngờ. 2 Người nầy tin có thể ăn được cả mọi thứ; người kia là kẻ yếu đuối, chỉ ăn rau mà thôi. 3 Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn; và người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn, vì Đức Chúa Trời đã tiếp lấy người. (Rô-ma 14:1-3).
Chính vì thái độ khinh dể, xét đoán giữa kẻ mạnh, người yếu mà hội thánh có chuyện lục đục, lấn cấn. Người mạnh mẽ phải học để càng tăng thêm tình yêu thương, học sự nhường nhịn cho danh Chúa, công việc Ngài, cho hội thánh. Kẻ yếu đuối phải học thêm sự hiểu biết về lời KT để ý thức điều gì quan trọng, điều gì không quan trọng. Và cả hai người mạnh, kẻ yếu phải kính trọng nhau, nâng đở nhau, xây dựng nhau. Như thế hội thánh mới vững mạnh, danh Chúa mới được cả sáng.
Vì không một ai trong chúng ta sống cho chính mình hoặc chết cho chính mình, 8 vì nếu chúng ta sống là sống cho Chúa; và nếu chúng ta chết là chết cho Chúa. Như thế, dù sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa cả. (Rô-ma 14:7)
3. Nâng đở, xây dựng cho nhau trong Chúa thay vì trách móc, buộc tội, khinh thường nhau.
Vậy, ta hãy đeo đuổi những việc đem lại hòa thuận và xây dựng nhau. 20 Đừng vì món ăn mà hủy hoại công việc của Đức Chúa Trời. Mọi vật thật ra đều trong sạch, nhưng người nào gây vấp phạm cho kẻ khác vì món ăn là sai quấy rồi. (Rô-ma 14:19-20)
Còn ngươi, tại sao lên án anh chị em mình? Sao ngươi khinh bỉ anh chị em mình? Vì tất cả chúng ta đều sẽ ứng hầu tòa án của Đức Chúa Trời… 12 Như thế, mỗi người trong chúng ta phải tường trình công việc mình cho Đức Chúa Trời. 13 Vậy nên chúng ta đừng lên án lẫn nhau nữa, nhưng quyết định không làm trở ngại hay gây cớ vấp ngã cho anh chị em mình. (Rô-ma 14:10-13)
Bốn lãnh vực cần nghĩ đến:
1. When another Christian is going through hard times. I suppose this is the area in which I see the failure of the self-styled "strong" toward the "weak" brother or sister most often. Christians go through hard times. Sometimes it is in the family. A husband is deserted by his wife, or a wife is abandoned by her husband. Sometimes a Christian loses his job and, if the individual is a husband, may come to a point where he is unable to support his family. Sometimes there is sickness or an accident that brings a person to the very edge of life.
2. Sự khác biệt trong mức độ hay thể hiện của lòng tin kính, đời sống đạo. A second area where Christians continue to judge one another is personal piety. Do you have a "quiet time" every morning? How long per day do you pray? Are you reading good Christian books? How often do you witness?
Donald Grey Barnhouse and James Strong
3. Denominational affiliation. Church affiliations also often wrongly divide believers and produce judgmental attitudes. I am not saying that we have to consider other denominations to be right in their distinctives, any more than we have to consider other Christians as always right when they differ from us. But just as we are to accept other Christians as Christians, so must we accept other denominations as true elements of the one body of Christ—if they acknowledge him as Lord and confess the gospel as the one way of salvation.
4. Personality differences. What about personality differences? Does every Christian have to be grim like an undertaker, or always smiling like a stand-up comedian? Charles Spurgeon was the greatest preacher of his age, but he was frequently criticized for being funny. When one woman objected to the humor he inserted into his sermons Spurgeon told her, "Madam, you would think a great deal better of me if you knew the funny things I kept out."
