Mùa Xuân Vĩnh Viễn
Ngày Tết âm lịch của người Việt chúng ta có rất nhiều tục lệ, truyền thống. Như việc đưa ông Táo về trời vào ngày 23 tháng chạp, tục dựng nêu, tháo nêu, tục hái lộc. Nhưng có 2 tục lệ quan trọng và quen thuộc hơn hết là việc xông đất và việc chúc tết đầu năm.
Xông đất (hay đạp đất, mở hàng) là tục lệ đã có lâu đời ở Việt Nam. Nhiều người quan niệm ngày Mồng Một "khai trương" một năm mới. Họ cho rằng vào ngày này, nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, may mắn, cả năm cũng sẽ được tốt lành, thuận lợi. Ngay sau thời khắc giao thừa, bất cứ người nào bước từ ngoài vào nhà với lời chúc năm mới được coi là đã xông đất cho gia chủ. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng.
Muốn xông đất người khác thì phải ra khỏi nhà mình. Việc xuất hành là lần đi ra khỏi nhà đầu tiên trong năm, thường được thực hiện vào ngày tốt đầu tiên của năm mới để đi tìm may mắn cho bản thân và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày Hoàng đạo, giờ Hoàng đạo và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần, hỉ thần... Vào những ngày đầu năm, khi mặt trời mọc, người ta đi ra khỏi nhà xem chiều gió thổi và có thể đoán được năm mới hên hay xui chẳng hạn: Gió Nam: chỉ đại hạn; Gió Tây: chỉ cướp bóc loạn lạc; Gió Tây Nam: chỉ bệnh dịch tả; Gió Bắc: chỉ được mùa vừa phải; Gió Tây Bắc: chỉ được mùa đỗ, đậu; Gió Đông: chỉ có lụt lớn.
Có ít người đến xông đất người khác nhưng mọi người đều chúc tết cho nhau cả. Nhỏ tuổi chúc người lớn tuổi để được lì xì. Mọi người đều chúc nhau những điều tốt đẹp nhất cho năm mới. Tôi lên mạng tuyến internet để tìm xem ở VN những câu chúc nào mới mẻ nhất, được xem là hay nhất. Thú thật có những lời chúc mà không thể đọc cho các em thiếu niên, huống chi đọc lên trong bài giảng! Nhưng tựu chung những lời chúc đầu xuân đều qui về ý chính của câu này: Cung chúc tân niên; Sức khỏe vô biên; Thành công liên miên; hạnh phúc triền miên; túi luôn đầy tiền; sung sướng như tiên. Mọi người chúc cho nhau được thêm sức khỏe, thành công, hạnh phúc, giàu có, sung sướng.
Bài nhạc quen thuộc mà hầu hết chúng ta đều nghe hay hát hằng năm khi xuân đến là bài "Ly rượu mừng" của nhạc sĩ Phạm Đình Chương bắt đầu với lời chúc: "Đầu xuân nâng chén ta chúc nơi nơi. Mừng anh nông phu vua lúa thơm hơi, người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no, thoát ly đời gian lao nghèo khó". Lời chúc cho một năm mới phát đạt, thành công, lợi tức để thoát ra khỏi gian lao, nghèo khó.
Bài ca, bài hát có thể chúc nơi nơi, chúc chung chung nhưng khi mặt đối mặt thì lời chúc thích hợp, cụ thể. Khi chúc người cao niên, trọng tuổi như ông bà, cha mẹ, thầy cô thì phải dùng những lời lễ độ bày tỏ sự nể nang, kính trọng. Với những người đó, thường thì chúng ta chúc "tăng phúc tăng thọ", tức là được thêm phước tăng thêm tuổi sống. Đối với người làm nghề buôn bán thì họ thích được chúc "nhất bản vạn lợi", là vốn dù chỉ có một lời thì được gấp ngàn lần. Gặp người làm việc văn phòng, công chức, thì phải chúc họ được "thăng quan tiến chức", tức là được lên cấp, lên chức. Hồi còn bên Việt Nam, về làng quê gặp bà con sống bằng nghề làm ruộng rẫy thì cần chúc cho được "phong đăng hòa cốc", là cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Nhưng về đến tỉnh thành khi gặp học sinh, sinh viên còn mài quần trên ghế nhà trường thì chúng ta nên chúc "công thành danh toại" hay "bảng hổ đề danh", tức là chúc cho được thành tài hay đổ đạt. Khi gặp người trong những hoàn cảnh khó khăn, đang gặp nghịch cảnh thì sẽ chúc cho "tai qua nạn khỏi".
Tuy nhiên chúng ta biết rõ rằng dù những lời chúc có chân thành đến mấy, thâm tình đến mấy, ngọt ngào, tốt đẹp đến mấy thì cũng chỉ thể hiện một ước muốn, hy vọng. Hơn thế nữa chúng ta cũng biết rõ rằng nhiều lời chúc sẽ không thành sự thật trong năm mới đến. Lời chúc vạn sự bình yên, hạnh phúc vô biên, vui vẻ triền miên, kiếm được nhiều tiền, hạnh phúc như tiên không chắc sẽ thành toại trong năm mới này. Dù vậy mọi người đều lấy lời chúc làm trọng và thích được nghe những lời chúc tốt đẹp nhất cho năm mới. Bởi vì không ai có thể sống mà không có hy vọng.
Nhiều người vì đời sống lận đận, không như ý nguyện nên khi nghe những lời chúc đầu năm thì nghĩ như sáo ngữ, như những lời đầu môi chót lưỡi, chỉ hình thức nhưng không ý nghĩa gì. Như nhà văn Trần Tế Xương hay Tú Xương, một văn hào tài giỏi nhưng lận đận, qua đời lúc mới 37 tuổi. Ông rất thông minh và đi học sớm. Cuộc đời gắn liền với thi cử tổng cộng 8 lần. Rới 3 lần ông mới đậu được tú tài nhưng chỉ là tú tài thiên thủ (lấy thêm). Sau đó 5 kỳ thi đều rớt cử nhân. Con đông, nhà nghèo, đời sống khổ cực, vất vả nên có tâm trạng buồn phiền, cay đắng. Ông làm một bài thơ có tựa đề Chúc Tết để mỉa mai, châm biếm những lời chúc đầu năm:
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước, đứa mua quan
Phen này ông quyết đi buôn lọng
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn
Phố phường chật hẹp, người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non
Qua bài thơ này, cụ Tú Xương có ý mai mỉa, châm biếm những lời chúc đầu môi chót lưỡi, những lời chúc quen thuộc đến độ nhàm tai mà chúng ta thường nghe, thường chúc. Nếu những lời chúc của họ mà thành sự thật, thì ai cũng sống đến trăm tuổi. Vì mọi người đều sống đến trăm tuổi nên nghề chắc ăn nhất để có thể kiếm tiền là nghề bán cối giã trầu cho các ông bà già lớn tuổi ngày xưa ăn trầu. Nếu lời chúc giàu mà thành sự thật, tiền bạc sẽ đầy dẫy đến nỗi rơi rãy trên đất để gà mổ ăn nhưng thóc lúa vụng, thì có ai cần chi lo lắng đến sự giàu có nữa? Còn nếu lời chúc sang thành sự thật, nhiều người chắc sẽ đỗ đạt thành quan. Vậy cụ Tú làm nghề bán lọng cho quan che mưa che nắng thì chắc ăn nhất! Và nếu lời chúc đông con thành sự thật, thì phố thành sẽ trở nên đông đúc, chật chội. Người ta chắc phải dọn lên núi mà ở bởi vì không còn đất để cất nhà, sinh sống!
Dù biết là lời chúc không chắc sẽ thành sự thật, nhưng thử hỏi có ai trong chúng ta lại không thích chúc và được nghe chúc? Đầu năm muốn nhận bao lì-xì con cái phải vòng tay chúc Tết ông bà, cha mẹ. Mùng một, mùng hai chúng ta đi chúc tết gia đình, họ hàng, thân quyến. Mùng ba, mùng bốn đi gặp bè bạn để chúc tết cho nhau. Biết bao nhiêu người trong số quí vị gọi điện thoại những ngày đầu Xuân hay sang các tiểu bang khác để chúc tết cho thân quyến, bạn bè?
Khi suy nghĩ cho cùng thì hai tập tục xông đất và chúc tết này đều bắt nguồn từ một điều. Là hy vọng. Mọi người đều hy vọng mọi buồn đau, hoạn nạn, mất mát, mọi khó khăn, trở ngại, mọi bệnh tật qua đi như năm cũ đã qua đi và trong năm mới, khi mùa xuân mới đến thì mọi việc sẽ thay đổi trở nên tốt đẹp và như ý nguyện của mình.
HY VỌNG VÀ ĐỨC TIN
Không phải ngẫu nhiên mà Tết được cử hành vào đầu mùa xuân. Sau mùa đông lạnh lẽo, khắc nghiệt mọi người đều mong đợi mùa xuân. (Tại thành phố Chicago gió lạnh thổi làm cho nhiệt độ xuống đến dưới 50 độ âm). Xuân đến khí trời ấm áp hơn, cây nhú các mầm non báo hiệu sự sống đã trở lại, hoa sẽ nở. Ngay cả loài thú vật cũng đón mừng xuân: các loài chim sẽ trở về đất thường sống sau khi di cư đến một nơi khác để chạy trốn mùa đông; các con thú như gấu, chồn thức dậy sau một giấc ngủ dài trong mùa đông lạnh lẽo. Dĩ nhiên không phải mọi người đều mong mỏi mùa xuân vì đây cũng là mùa của dị ứng cây cỏ (allergy)!
Khi tả về mùa xuân, Kinh Thánh có lời viết như sau, "Vì, mùa đông đã qua, mưa đã dứt hết rồi; bóng hoa nở ra trên đất; mùa hát xướng đã đến nơi, và tiếng chim cu nghe trong xứ. Cây vả đương chín trái xanh tươi của nó, và nho trổ hoa nực mùi hương" (Nhã Ca 2:11). MSTS Lê Hoàng Phu diễn ý câu KT qua dòng thơ sau: "Mưa đông vừa dứt, mùa hoa đã về. Cây nứt lộc, lá sum sê. Oanh ca, phượng múa bên lề rừng mai. Em ơi, xuân đã lên ngai. Hoa nho thơm phức ca bài yêu đương".
Mùa xuân là mùa bông hoa nở nực mùi hương, mùa hát xướng và tràn đầy tiếng chim hót ca trên đất. Đây thật sự là mùa mà ngay cả thiên nhiên cũng tỏ bày, chung góp sự vui mừng, hân hoan và đầy tràn hy vọng cùng loài người chúng ta. Chính vì hy vọng đó mà chúng ta mới chúc nhau trong ngày đầu xuân.
Tiếng Anh có một thành ngữ Pandora Box có nghĩa là món quà mới xem tưởng như vô cùng quí báu nhưng thật sự là một tai họa. Thành ngữ này dựa theo câu chuyện thần thoại Hy Lạp về nữ thần rất xinh đẹp tên Pandora, còn gọi là món quà của các thần. Khi thần Prometheus ăn cắp lửa từ trời để cho loài người thì thần Zeus, trưởng thần, rất giận dữ. Để trừng phạt các thần, thần Zeus tạo ra một người phụ nữ vô cùng xinh đẹp là thần Pandora. Rồi thần Zeus mới tặng cho nữ thần Pandora một món quà là một bình rất đẹp; nhưng căn dặn bà khi xuống thế gian không được mở ra. Dĩ nhiên vì sự tò mò nên Pandora mở bình ra. Từ trong bình thoát ra tất cả những vấn đề thế giới ngày nay phải chịu: chiến tranh, bệnh tật, hung ác, giết chóc, đau khổ… Sau khi thấy những điều nầy thoát ra khỏi bình, thần Pandora vội đóng lại thì đã muộn rồi. Nhưng còn lại trong bình là một điều duy nhất: Hy vọng.
Tôi nghĩ đây là một câu chuyện rất ý nghĩa. Vì trước tất cả mọi mất mát, đau khổ, thất vọng, bệnh tật trong cuộc sống này, điều gì khiến con người có thể tiếp tục sống, cho dù không biết ngày mai, năm tới cuộc đời mình sẽ ra sao? Chỉ có hy vọng! Vì vậy có người nói: Một người có thể sống 40 ngày không cần thức ăn, 4 ngày không nước uống, 4 phút không cần dưỡng khí, nhưng không ai có thể sống dù là 4 giây mà không có hy vọng.
Khi nói đến hy vọng, chúng ta nói đến những điều chưa xảy ra, những điều thuộc về tương lai. Như KT viết: nhưng hy vọng mà đã thấy rồi thì không còn là hy vọng nữa; vì điều gì người ta thấy thì còn hy vọng gì nữa? (Rô-ma 8:24).
Hy vọng của một người gắn liền với những điều người đó tin về cuộc sống, tương lai. Nếu chỉ tin cuộc sống trên đất này là cuộc sống duy nhất, khi chết rồi là hết thì hy vọng sẽ được đặt vào những điều thuộc về đời sống này. Nếu tin vật chất quan trọng hơn tâm linh thì hy vọng sẽ đặt nặng vào vật chất. Nếu không tin vào hồn linh của tổ tiên, ông bà có thể phù hộ thì lời chúc được ông bà phù hộ không có ý nghĩa gì.
Hy vọng của người tin Chúa hoàn toàn dựa vào lời hứa của ĐCT trong KT và sự thành tín của Chúa. Dù cảnh ngộ sẽ thay đổi thế nào, thuận lợi hay bất lợi, theo ý nguyện hay trái với ý nguyện, dù hanh thông hay hoạn nạn thì cái neo của hy vọng cho đời sống chúng ta vẫn bám chặt vào lời hứa và sự thành tín của Chúa. Chúng ta có hy vọng nầy như cái neo vững vàng bền chặt của linh hồn. (Hê-bơ-rơ 6:19 – BDM)
Lời Chúa hứa sẽ ban phước về tâm linh lẫn vật chất, ban bình an thịnh vượng cho con dân Ngài: Chúa sẽ yêu thương, ban phước và tăng gia nhân số anh chị em. Chúa sẽ ban phước cho con cháu anh chị em, cho thổ sản ngoài đồng kể cả ngũ cốc, rượu nho và dầu, cho các con mới sinh của bầy bò và bầy chiên tại trong xứ Ngài thề hứa với các tổ tiên là sẽ ban cho anh chị em. (PT 7:13 – BDM) Nhưng có một điều hoàn toàn khác với những lời chúc của người đời. Điều đó là nguồn gốc của mọi sự thịnh vượng, sức khỏe, thành công, hạnh phúc, giàu có là từ ĐCT.
Vì tin vào sự cứu rỗi của ĐCJC, tin vào KT là lời hằng sống của ĐCT, tin vào sự hiện diện của ĐTL trong đời sống, nên chúng ta cầu chúc cho nhau: Cầu xin sự bình an và ân điển Chúa luôn ở cùng anh em. Hay như lời của sứ đồ Giăng cho một tín đồ tên Gai-út như: Hỡi kẻ rất yêu dấu, tôi cầu nguyện cho anh được thạnh vượng trong mọi sự, và được khỏe mạnh phần xác anh cũng như đã được thạnh vượng về phần linh hồn anh vậy. (3 Giăng 2)
MÙA XUÂN VĨNH VIỄN
Xuân đến rồi xuân sẽ đi. Năm mới đến rồi năm mới sẽ qua đi. Không ai có thể giữ hoài hiện tại của mùa xuân cũng như không ai có thể giữ hoài hiện tại hạnh phúc. Cũng không ai có thể nắm bắt được tương lai. Tương lai không nằm trong vòng tay với của chúng ta. Vì vậy chúng ta chỉ chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất với hy vọng những điều đó sẽ xảy ra. Nhưng nếu những điều đó không xảy ra trong năm mới đến này thì sao? Lúc đó quí vị hy vọng điều gì?
KT xác nhận chắc chắn rằng cuộc sống trên đất này không phải là duy nhất và tất cả. Xuân đến, xuân đi trên thế gian này. Nhưng một mùa xuân vĩnh viễn sẽ đến với những người tin Chúa nơi thiên đàng. KT viết: Lúc ấy, tôi thấy trời mới và đất mới vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến mất và biển cũng không còn nữa. 2 Tôi cũng thấy thành phố thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ Đức Chúa Trời trên trời mà xuống, chuẩn bị như cô dâu trang điểm chờ chàng rể. 3 Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai nói: "Này, đền tạm của Đức Chúa Trời ở với loài người, Ngài sẽ ở với họ. Họ sẽ làm dân Chúa, chính Ngài sẽ ở với họ và Ngài sẽ là Đức Chúa Trời của họ. 4 Ngài sẽ lau sạch tất cả nước mắt nơi mắt họ, sẽ không còn chết chóc, tang chế hoặc khóc than hay đau khổ nữa, vì những việc trước đã qua rồi. 5 Đấng ngự trên ngai phán: "Này, Ta tân tạo tất cả vạn vật!” (KH 21:1-5)
KH 21:1 viết về một trời mới và đất mới. Trong tiếng Hy-lạp, tức ngôn ngữ nguyên thủy của KT dùng khi viết KH, có 2 từ khác nhau về sự mới, là kainos và neos. Neos dùng để nói về một điều mới, mới xảy ra, mới đến, mới xây; chúng ta có thể thay vào từ non, trẻ cho từ mới này, tức một vật, một sự việc mới có, mới xảy ra không lâu theo thời gian. Khác với neos, kainos có thể dùng để nói về một vật, một sự việc, việc diễn biến đã có, đã xây, đã lập, đã xảy ra lâu trước, dù là 1 ngàn hay 1 triệu năm, nhưng về chất lượng vẫn còn mới như ban đầu. Kainos dùng để nói về sự mới mẻ về chất lượng, về phẩm tính, về giá trị cho dù đã có rất lâu. Dù vàng hay kim cương không thể gọi là neos, mới có, nhưng dù theo thời gian giá trị của vàng và kim cương ngày càng kainos, mới. Vậy một vật vẫn có thể kainos dù không còn neos, tức một vật vẫn còn mới về giá trị, phẩm chất như ngày nào dù đã về vật thể đã có từ rất lâu.
Trong Ma-thi-ơ 9 ĐCJC giải thích cùng các môn đồ về luật pháp Mô-se và sự cứu rỗi, tha tội của Ngài như sau: Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; nếu làm như thế, bầu da sẽ nứt, rượu chảy hết mà bầu cũng hư; nhưng người ta đổ rượu mới vào bầu da mới, thế là giữ được cả hai." (9:17 – BDM) Từ mới về rượu mới là neos nhưng từ mới trong bầu da mới là kainos. Có nghĩa là bầu da cũ là cũ về chất lượng, không thể giữ được rượu, có thể vì da đã khô, đã mòn, đã mỏng. Nhưng bầu da mới là bầu da với chất lượng vẫn còn tốt, da vẫn còn dầy để giữ được rượu trong bình cho dù, cho dù bình đã có từ lâu.
Trong Chúa, một người dù không còn neos nhưng vẫn có thể ngày càng kainos, như lời PL: Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. (2 Cô-rinh-tô 4:16).
Từ mới trong KH 21:1 về trời mới và đất mới là kainos, có nghĩa là thời gian không hề ảnh hưởng, không hề làm cho cũ đi, làm giảm đi phước hạnh, tươi mới. Định luật thứ hai trong nhiệt động học (2nd law of thermodynamics) cho biết mọi vật trong trời đất, vũ trụ này, từ loài động vật nhỏ nhất như vi khuẩn mắt trần không thấy được cho đến những hành tinh trong vũ trụ to lớn triệu lần mặt trời, đều rồi sẽ tàn lụi, từ sáng trở nên tối, từ trạng thái trật tự trở nên trạng thái hoàn toàn hỗn loạn, từ sống rồi sẽ chết. Không một vật gì trong thế giới hữu hình này, bất cứ vật gì ngày sẽ càng trở nên mới hơn, tốt hơn, dù là kim cương hay vàng quí. Đúng như lời PL viết: Bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy. (2 Cô-rinh-tô 4:18). Trời và đất này rồi sẽ cũ nát và tàn rụi, nhưng trời và đất mới sẽ không.
Trong mùa xuân vĩnh viễn trên thiên đàng sẽ không còn có sự chết, tang chế đáng sợ chia cắt những người yêu mến nhau, yêu mến Chúa. Cũng sẽ không có khóc than, đau khổ vì tật bệnh trong thân thể mõi mòn, già yếu với thời gian; về sự tranh dành, bon chen về miếng ăn, manh áo trong cuộc sống tất bật với con người gian dối này; hay về chiến tranh triền miên đẫm đầy nước mắt, khổ đau, đến nỗi đất đậm cả màu máu và lời than khóc.
ĐCT hứa chính Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt cho con dân Ngài. Chính Chúa hứa sẽ thay đổi mới lại (tân tạo) tất cả vạn vật. Quyển sách đầu tiên của KT là sách STK viết về sự sáng tạo của ĐCT nên vũ trụ, trời đất, và về sự sáng tạo con người đầu tiên A-đam từ bụi đất. Chính ĐCT đã hà hơi của Ngài vào A-đam bụi đất để trở nên A-đam sinh động với sự sống.
Sách STK cũng viết về vườn địa đàng đầu tiên Ê-đen là nơi mà thiên nhiên, mọi loài vật hòa hiệp, nơi cuộc sống hạnh phúc thỏa mãn. Viết về vườn địa đàng đó, KT nói đến hai cây: cây của sự sống và cây của sự thiện và ác. Giê-hô-va, Đức Chúa Trời nắn lên loài người từ bụi đất, hà sinh khí vào lỗ mũi và người trở nên một linh hồn sống. 8 Giê-hô-va, Đức Chúa Trời trồng một khu vườn tại Ê-đen ở phía đông và đặt người Ngài đã dựng nên tại đó. 9 Giê-hô-va, Đức Chúa Trời khiến từ đất mọc lên mọi cây cối đẹp mắt và ăn ngon. Giữa vườn có Cây Sự Sống và Cây Biết Thiện Ác. (STK 2:7-9). STK cũng đề cập đến một dòng sông có bốn nhánh: Một dòng sông chảy ra từ Ê-đen để tưới vườn và từ đó chia làm bốn nhánh. (2:10)
Mọi người chắc đều biết về sự cám dỗ của con rắn hay ma quỉ với E-va để ăn trái của cây của sự thiện và ác. Nó nói với E-va: Rắn bảo người nữ: "Chắc chắn không chết đâu! 5 Vì Đức Chúa Trời biết ngày nào đó ông bà ăn trái ấy mắt ông bà sẽ mở ra, ông bà sẽ trở nên giống như Đức Chúa Trời, biết điều thiện, ác." (2:4). E-va và chồng A-đam ăn trái của cây của sự thiện và ác, trái lại với mạng lệnh của ĐCT. Hậu quả là họ bị xa cách với ĐCT, rồi họ sẽ chết, và họ sẽ đem tội lỗi vào thế gian.
Quyển sách cuối cùng của KT là KH. Và trong hai đoạn cuối cùng của sách KH viết về trời mới đất mới, và về một giòng sông chảy giữa thành mới với cây dọc hai bên sông. Rồi thiên sứ chỉ cho tôi xem sông nước hằng sống trong như pha lê chảy ra từ ngai Đức Chúa Trời và ngai Chiên Con, 2 chảy giữa đại lộ của thành phố. Hai bên bờ sông trồng cây hằng sống ra trái mười hai mùa, mỗi tháng một lần kết quả, lá cây dùng để chữa bệnh cho các dân tộc. (22:1-2)
Một số qv sẽ hỏi MS vừa nói trên thiên đàng sẽ không còn bệnh hoạn, đau đớn, cũng không còn tội lỗi thì tại sao lại có cây mà lá dùng để chửa bệnh cho các dân tộc? Sứ đồ Giăng dùng hình ảnh này từ một đoạn KTCU để nói về một nơi trong tương lai mà không còn có bệnh tật: Dọc theo hai bên bờ sông, người ta sẽ trồng đủ loại cây ăn trái, lá sẽ không tàn, trái không dứt; mỗi tháng cây đều sinh trái nhờ nước từ đền thờ chảy ra. Trái sẽ dùng làm thực phẩm và lá làm thuốc. (Ê-xê-chi-ên 47:12 – BDM)
Sông nước trong vườn Ê-đen uống khi khát, nhưng rồi cơn khát vẫn sẽ đến. Sông nước trên thiên đàng là sông nước hằng sống, uống vào sẽ không bao giờ khát nữa. Sông nước trong vườn Ê-đen phân làm 4 nhánh, mỗi nhánh đem đến nước cho các vùng đất và dân chúng khác nhau. Tượng trưng cho sự chia cách. Sông nước thiên đàng phát nguồn từ chính ngai ĐCT và ĐCJC, và chảy giữa đại lộ của thành phố. Chỉ có một sông. Mọi đều nhìn thấy, thưởng ngoạn và tận hưởng nước hằng sống. Không còn có sự chia cách giữa các vùng, các đất, giữa các giống dân cư trên đất. Và dọc hai bên sông có cây của sự sống. Không còn cây của sự thiện và ác nữa vì sẽ không còn có sự ác trên thiên đàng và chính ĐCT sẽ là sự thiện. Hình ảnh hết sức ý nghĩa này cho chúng ta biết về một nơi mà mùa xuân sẽ là vĩnh viễn. Chúng ta vui hưởng mùa xuân này nhưng lòng luôn hướng về trời mới, đất mới đó, về Đấng toàn thiện cai trị trời đó và về một mùa xuân trường cữu.
Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy. (Hê-bơ-rơ 11:1)
ĐCT mời gọi tất cả quí vị đến nhận nước Trời: Thánh Linh và cô dâu cùng nói: "Xin hãy đến!" Người nào lắng nghe cũng hãy nói: "Xin hãy đến!" Người nào khát hãy đến, người nào muốn hãy nhận nước hằng sống miễn phí! (KH 22:17)
