Món Nợ Lớn Ai Có Thể Trả Hết!
Sứ đồ Phao-lô viết lá thư ngắn nhưng vô cùng thân thương và cảm động này khi ông bị giam tại thành La-mã trong thời gian cuối đời vào khoảng năm 58-61.
Phi-lê-môn là một chủ nhân giàu có tại thành Cô-lô-se, một thành phố nhỏ thuộc vùng Tiểu Á (ngày nay thuộc miền Tây xứ Thổ Nhĩ Kỳ). Không rõ sứ đồ Phao-lô gặp gở và quen biết Phi-lê-môn khi nào và tại đâu. Có thể hai người gặp nhau tại Ê-phê-sô, thành phố lớn nhất của vùng Tiểu Á thời bấy giờ trong một chuyến truyền giáo của Phao-lô. Sau khi được Phao-lô chia sẻ Tin Lành về sự tha thứ và cứu tội của Chúa Giê-xu, Phi-lê-môn tin nhận Chúa. Đời sống ông thay đổi. Phi-lê-môn làm chứng cho vợ là bà A-phi và con là A-chíp. Cả vợ và con ông đều tin nhận Chúa. Vợ chồng Phi-lê-môn và A-phi quyết định dùng căn nhà rộng rãi của mình để làm nơi nhóm thờ phượng cho hội thánh tại thành Cô-lô-se.
Phi-lê-môn là một người giàu có. Ông có nhà cửa rộng rãi đến nỗi cả hội thánh có thể nhóm lại để thờ phượng. Phi-lê-môn lại còn có nô lệ. Nô lệ trong thế kỷ thứ nhất, thời Phao-lô và Phi-lê-môn sinh sống rất khác với nạn nô lệ tại các quốc gia Tây Phương trong thế kỷ 19. Ước tính đế quốc La-mã thời đó có khoảng từ 5 đến 10 triệu nô lệ. Rất đông nô lệ thời đó là những người vì tình trạng kinh tế phải tự bán mình để làm công cho người. Nhiều người giàu có mua các nô lệ học thức cao để giáo dục cho các con họ. Mọi người giàu có đều có nô lệ làm việc cho họ.
Một trong các nô lệ của Phi-lê-môn là một thanh niên trẻ tuổi tên Ô-nê-sim. Anh không chấp nhận làm nô lệ cho chủ. Anh nghĩ mình có thể trở nên một người tự do, thành công. Ô-nê-sim quyết định bỏ trốn. Không chỉ bỏ trốn mà anh còn lấy trộm tiền của của chủ. Với số tiền của lấy trộm, Ô-nê-sim bỏ đi thật xa để không ai có thể tìm bắt được anh. Anh chạy trốn đến thành La-mã, thủ đô của đế quốc La-mã, 1500 dặm cách xa thành nhỏ Cô-lô-se.
Chúng ta có thể tưởng tượng khi mới đến thành La-mã, Ô-nê-sim dùng tiền của lấy trộm để rượu chè, ăn chơi trác tán. Tại thành lớn đông dân từ tứ xứ đó, Ô-nê-sim yên tâm vì không ai biết anh là ai và đã làm gì. Tại đó, Ô-nê-sim có thể che dấu quá khứ và tội lỗi đã phạm. Không chỉ Ô-nê-sim mà còn biết bao nhiêu tội phạm như anh cũng lẫn trốn tại thủ đô La-mã. Lẫn trốn trong đám đông, dấu mình theo đám đông, sống như mọi người sống, làm như mọi người làm là phương cách rất phổ thông mà mỗi chúng ta đều có lần đã làm để che dấu những tội lỗi, vết nhơ trong quá khứ không muốn ai biết đến.
Một ngày Ô-nê-sim đến trường đua để xem đua ngựa và đánh cá với hy vọng thêm chút đỉnh tiền bạc. Có thể Ô-nê-sim tin rằng thời vận của anh đã tới qua việc cá độ đua ngựa. Người ngồi kế anh trò chuyện, hỏi thăm xem anh từ đâu đến. Dĩ nhiên Ô-nê-sim nói dối để che dấu thân thế, lý lịch thật của mình.
“Tôi từ vùng Tiểu Á, đến thành La-mã để làm ăn buôn bán, kiếm sống.”
Rồi hai người trở thành bạn. Một ngày người bạn mới của Ô-nê-sim nói với anh: “Tôi biết một người hết sức đặc biệt. Ông đã trên 60, tên Phao-lô. Một người học thức, tài giỏi. Phao-lô có thể nói cho anh nghe cả ngày về niềm tin của ông vào Giê-xu Na-xa-rét, người tự nhận là Con Đức Chúa Trời xuống thế gian chịu chết để chuộc tội cho mọi người. Dép của ông Phao-lô này đã dính đầy bụi đất từ mọi con đường thuộc đế quốc La-mã. Ông đi khắp các thành lớn nhỏ trong cả đế quốc La-mã từ Giê-ru-sa-lem cho đến xứ Tiểu Á và sang cả các xứ Ma-xê-đoan, A-chi-a, rồi đến tận thành La-mã này. Ô-nê-sim, tôi nghĩ anh nên gặp Phao-lô. Nếu anh muốn tôi sẽ xắp xếp để anh có thể gặp Phao-lô. Vì thật ra Phao-lô đang bị giam lỏng trong một căn nhà tại thành La-mã này.”
Chúng ta không biết rõ Ô-nê-sim và Phao-lô gặp gở nhau thế nào. Chỉ biết chắc rằng Phao-lô chia sẻ Tin Lành về sự tha tội, cứu rỗi của Giê-xu Na-xa-rét cùng Ô-nê-sim. Cuối cùng qua lời làm chứng của Phao-lô, Ô-nê-sim tin nhận Giê-xu là Cứu Chúa của đời anh.
Đây là điều kỳ diệu về Tin Lành của sự cứu tội trong Đức Chúa Giê-xu Christ. Tin lành chạm lòng mọi người nghe, dù là người trí thức, tầng lớp cao cấp, thượng lưu, hay người ít học, thấp hèn, bần cùng trong xã hội. Phao-lô là người học thức, đạo đức, vâng giữ luật pháp. Phi-lê-môn là một chủ nhân giàu có. Ô-nê-sim là một nô lệ thấp hèn. Tin lành đều chạm đến tấm lòng cả ba người như nhau.
Tôi và quí độc giả sinh ra và lớn lên trong những hoàn cảnh, môi trường hoàn toàn khác nhau. Người lớn lên ở tỉnh thành, người ở ruộng quê. Người đầy đủ, sung túc, người nghèo khó, thiếu thốn. Người có một tuổi thơ êm đềm, hạnh phúc, người chỉ muốn quên đi cái tuổi thơ bất hạnh của mình. Nhưng tất cả chúng ta đều có cơ hội để nghe cùng một Tin Lành và tin nhận vào sự tha thứ và cứu chuộc của Đức Chúa Giê-xu Christ.
Bên ngoài không ai giống ai. Bên trong mọi người đều có những nhu cầu, ước mơ, hy vọng như nhau. Ai lại không muốn được yêu thương, chấp nhận. Ai cũng muốn được tha thứ, tin cậy. Bên trong mọi người đều có những bí mật không muốn cho ai biết, không thể nói cùng ai. Bên trong lòng, trong sâu kín nhất của tận đáy lòng, của tâm hồn, đó chính là nơi sứ điệp Tin Lành thấm sâu, ảnh hưởng, tác động.
Tin lành đã cảm động lòng Phao-lô, Phi-lê-môn, và Ô-nê-sim như nhau: khiến họ ý thức rõ hơn bao giờ trong đời rằng họ là tội nhân cần được Đức Chúa Trời tha thứ, cứu chuộc; rằng cái cái vỏ đạo đức cũng chỉ như một lớp sơn mỏng hào nhoáng bề ngoài, dù có thể đánh lừa con người nhưng không thể che dấu được tấm lòng dối trá, tham lam, ích kỷ, tội lỗi dưới mắt Đức Chúa Trời. Tin Lành mở mắt tâm linh để họ thấy được sự cần thiết của việc ăn năn tội lỗi, xin tha thứ và tin nhận Giê-xu là Cứu Chúa cuộc đời. Tin Lành hoàn toàn thay đổi ba cuộc đời rất khác nhau này. Cũng như Tin Lành đã cảm động và thay đổi cuộc đời của mỗi chúng ta, những người được Chúa cứu.
Khi Ô-nê-sim đến thành La-mã, anh là một nan đề, một nô lệ bỏ trốn, một tên trộm. Sau khi tin Chúa, anh trở nên một người hữu dụng cho Phao-lô. Trong thời đó, khi bị giam lỏng tại gia như Phao-lô, người bị giam thường ở trên tầng lầu cao để khó chạy trốn hay giải cứu. Họ lại phải chịu cùm với lính canh La-mã ngày như đêm. Họ phải tự lo mọi nhu cầu cần thiết cho cuộc sống hằng ngày, từ quần áo mặc, đến thức ăn mỗi ngày. Chính quyền La-mã không hề cung cấp bất cứ điều gì cho họ, ngoại trừ cùm gông và lính gác.
Ô-nê-sim trở nên người giúp đở cho Phao-lô. Hằng ngày anh đem thức ăn, giấy bút đến cho Phao-lô. Anh vào thành La-mã tìm mua hay nhận lấy thức ăn từ các tín hữu hội thánh đem về cho Phao-lô, chăm sóc các vết thương cho Phao-lô, giúp liên lạc với các tín hữu trong thành La-mã. Theo thời gian, Phao-lô và Ô-nê-sim ngày càng gần gũi nhau hơn. Phao-lô xem Ô-nê-sim như con mình. Ô-nê-sim xem Phao-lô như người cha mà anh chưa hề biết đến trong đời. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời Ô-nê-sim cảm nhận được niềm vui và sự yên ủi khi có được một người cha tinh thần thật sự quan tâm đến cuộc đời mình. Đúng như lời Phao-lô viết trong thư gởi các tín đồ tại một hội thánh khác: Dầu anh chị em có hàng vạn thầy kèm trẻ trong Chúa Cứu Thế, nhưng anh chị em không có nhiều cha. Vì nhờ Phúc Âm tôi đã sanh anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu. (1 Cô-rinh-tô 4:15 - BDM)
Đức Thánh Linh cũng thay đổi cuộc đời Ô-nê-sim và nhắc nhở anh về tội trộm cắp đã phạm cùng Phi-lê-môn và A-phi. Rồi một ngày, Ô-nê-sim tâm sự về tội phạm này cùng Phao-lô:
“Cha ơi, con có điều này muốn nói cùng cha.”
“Điều gì con cứ nói.”
“Thật ra con không phải là người ở thành La-mã nhưng đến từ một thành phố nhỏ vùng Tiểu Á là Cô-lô-se.”
“Cô-lô-se? Dù ta chưa bao giờ đến thành này, nhưng ta biết một người trong thành tên Phi-lê-môn. Ở đó cũng có một hội thánh nhóm tại nhà anh Phi-lê-môn và chị A-phi, vợ anh.”
“Cha biết Phi-lê-môn?”
“Đúng vậy. Ta biết Phi-lê-môn. Ta làm chứng cho Phi-lê-môn và cầu nguyện với anh để tin nhận Chúa. Khi con về lại Cô-lô-se, cho ta gửi lời chào thăm anh Phi-lê-môn, vợ anh và cả gia đình anh.”
“Con không thể gặp Phi-lê-môn!”
“Tại sao?”
“Con là nô lệ bỏ trốn. Chủ con chính là Phi-lê-môn. Con không chỉ bỏ trốn mà còn lấy trộm nhiều tài của của Phi-lê-môn và A-phi.”
Phao-lô lắng nghe Ô-nê-sim thuật lại toàn bộ câu chuyện. Hôm sau, Phao-lô bảo Ô-nê-sim rằng ông có cách để giúp. “Ta sẽ viết một thư gởi cho Phi-lê-môn. Con cầm lấy thư ta viết và trao tận tay cho Phi-lê-môn. Ta tin Phi-lê-môn sẽ nguôi giận và tha thứ cho con.”
Rồi trong căn nhà giam lỏng tại thành La-mã, sứ đồ Phao-lô viết một lá thư ngắn nhưng rất thân thương và cảm động gửi cho Phi-lê-môn và cả vợ con ông. Đó là bức thư Phi-lê-môn lưu lại trong Kinh Thánh Tân Ước gần 2000 năm qua cho đến hôm nay.
Ô-nê-sim cẩn thận cất giữ lá thư của Phao-lô trao cho. Anh giã từ Phao-lô. Có lẽ đó là lần cuối cùng trong đời anh nhìn thấy người sứ đồ, người cha trong Chúa can trường, trung tín, giàu lòng nhân từ, yêu thương. Chúng ta biết vài năm sau đó, Phao-lô bị đại đế Nê-rô xử chém tại thành La-mã.
Trên chuyến thuyền trở lại Cô-lô-se, Ô-nê-sim cầu nguyện không thôi. Dù tín cẩn Phao-lô nhưng làm thế nào anh biết chắc được Phi-lê-môn sẽ tha thứ, bỏ qua tội trọng đã phạm. Cuối cùng anh trở lại Cô-lô-se, trở lại ngôi nhà rộng lớn của Phi-lê-môn.
Phi-lê-môn đang làm việc, thình lình một đầy tớ bảo ông có người xin gặp.
“Ai vậy?”
“Thưa chủ, người đó không nói tên, chỉ xin gặp chủ gấp.”
Phi-lê-môn bước ra, không ngờ chính thật Ô-nê-sim đang đứng đó.
“Ngươi thật cả gan bỏ trốn, lại còn lấy cắp tiền của ta. Bây đâu, gọi lính đến để bắt nó!”
Ô-nê-sim van nài cùng Phi-lê-môn: “Thưa chủ, khoan, thưa chủ. Trước khi gọi người bắt tôi, xin chủ đọc lá thư này.”
Rồi Ô-nê-sim thận trọng mở túi ngoài đến túi trong lấy thư Phao-lô viết gửi cho Phi-lê-môn. Phi-lê-môn một mắt coi chừng Ô-nê-sim, một mắt cẩn thận mở lá thư. Thư viết: Tôi là Phao-lô.
“Phao-lô? Ngươi biết Phao-lô sao?”
“Thưa chủ, tôi gặp Phao-lô ở thành La-mã.”
Phi-lê-môn đọc tiếp: Tôi là Phao-lô bị tù vì Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Ông thở dài và hỏi: “Phao-lô lại ở tù sao Ô-nê-sim?”
Ô-nê-sim trả lời: “Dạ đúng, ông bị người Giu-đa tìm cớ buộc tội để giết tại thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tù hai năm trời oan uổn tại thành Xê-xa-rê. Cuối cùng ông kháng án lên đại đế Sê-sa nên phải chịu giải đến thành La-mã. Hiện ông đang bị giam lỏng tại thành La-mã.”
Phi-lê-môn đọc tiếp trong thư: cùng với người anh em là Ti-mô-thê. Mến gởi anh Phi-lê-môn yêu quý, cũng là đồng lao của chúng tôi. Một niềm vui lớn dâng trào trong lòng Phi-lê-môn khi đọc dòng chữ viết thân ái này của người sứ đồ can trường, chịu tù đày vì danh Chúa. Ông không ngờ chính người sứ đồ trung tín này lại xem mình là người bạn yêu quí và là kẻ đồng lao trong Chúa.
Thư viết tiếp: chị A-phi, người chị của chúng tôi, anh A-chíp, chiến hữu của chúng tôi, cùng hội thánh họp tại nhà anh. Đọc đến đoạn thư này có tên A-phi, Phi-lê-môn hối hả gọi vợ:
“Bà ơi, bà ơi, thư của anh Phao-lô viết gửi cả cho bà đây!”
A-phi từ nhà trong, chạy vội ra từ trong bếp, tay còn chùi vào khăn. Nhìn thấy Ô-nê-sim, bà giật mình: “Tên ăn trộm bỏ trốn này thật có gan về đây.”
Phi-lê-môn khuyên vợ: “Bà ơi, bà ơi, từ từ để đọc thư này của anh Phao-lô viết gửi chúng ta đã.”
Rồi Phi-lê-môn đọc thư đến câu 10: Tôi xin anh giúp cho đứa con mà tôi sinh trong cảnh ngục tù, đó là Ô-nê-sim.
Phi-lê-môn hoài nghi niềm tin của Ô-nê-sim. Ông nói lớn tiếng: “Bộ Phao-lô không biết ngươi lấy trộm tiền của chúng ta hay sao? Phao-lô nghĩ ngươi tin Chúa thật sao? Ta không tin cho đến khi có bằng chứng chắc chắn về niềm tin của ngươi.”
Tuy vậy, Phi-lê-môn đọc tiếp thư Phao-lô: Trước kia đối với anh, nó thật là vô dụng nhưng bây giờ đã trở nên hữu dụng cho anh lẫn cho tôi.
Phi-lê-môn nghĩ thầm: “Vô dụng, chắc chắn rồi. Bây giờ trở nên hữu dụng? Để xem thật giả ra sao!”
Tên Ô-nê-sim có nghĩa là hữu dụng. Phao-lô dụng ý dùng chữ để nói lên sự thay đổi trong cuộc đời của một người vô dụng được Chúa thay đổi trở nên người hữu dụng.
Thư tiếp: Vậy, nếu anh xem tôi là bạn đồng đạo, thì xin anh hãy tiếp nhận nó như tiếp nhận chính mình tôi. 18 Nếu nó có làm thiệt hại hay mắc nợ anh điều gì, anh cứ tính cho tôi. 19 Tôi, Phao-lô, chính tay tôi viết điều này, tôi sẽ hoàn lại cho anh.
Hóa ra Phao-lô biết rõ rằng mọi điều Ô-nê-si đã làm. Dù vậy, Phao-lô vẫn hứa sẽ hoàn trả lại tất cả món nợ lớn Ô-nê-sim đang thiếu Phi-lê-môn.
Đây là hình ảnh rõ ràng và cảm động về Tin Lành, tin mừng cho người nhận Đức Chúa Giê-xu là Cứu Chúa cuộc đời họ. Tất cả tội lỗi vi phạm được tha thứ. Như tiên tri Ê-sai đã viết: Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên. (Ê-sai 1:18)
Một người lính trẻ tuổi, con trai của người bạn cũ của Nga Hoàng Nicholas được bổ nhiệm đến một trại quân nơi xa xôi để giữ tài chánh và sổ sách của đội quân. Buồn chán vì đời sống tẻ nhạt tại doanh trại nơi đèo heo hút gió nên anh mượn rượu và cờ bạc để giải sầu. Sau nhiều lần thua bạc, anh bắt đầu thâm lạm tài chánh của chính quyền. Số nợ ngày càng lớn và lên đến vài ngàn đồng rubles – một số nợ mà anh chắc chắn không thể nào trả nỗi.
Nga Hoàng Nicholas thường giả dạng lính thường để đến duyệt xét các trại binh. Một đêm dưới lớp giả dạng của một người lính, Nga Hoàng Nicholas đi quanh doanh trại lúc đã khuya. Ông nhận thấy trong một trại đèn vẫn còn sáng nên bước vào. Người lính trẻ tuổi, con trai của người bạn cũ của Nga Hoàng đang gục đầu ngủ trên bàn ngỗn ngang giấy tờ tài chánh. Nga Hoàng dự định đánh thức anh để hỏi chuyện. Nhưng ông dừng lại khi mắt nhìn thấy một chai rượu cạn, một khẩu súng cạnh bên, một số tiền, và một tờ giấy với dòng chữ viết từ chính tay người lính trẻ tuổi này.
Khi đọc tờ giấy viết Nga Hoàng hiểu rõ sự tình là chính người lính trẻ tuổi này đã thâm lạm ngân quỹ để trả nợ cho rượu chè, cờ bạc. Và trong đêm nay khi xem lại sổ sách tài chánh, anh ý thức về tội phạm to lớn, trầm trọng của mình: anh đã thâm lạm một số tiền quá lớn mà anh không thể nào trả hết. Trong cơn tuyệt vọng, anh có ý định tự kết liễu đời mình bằng cách dùng khẩu súng để bắn vào đầu. Để có đủ can đảm làm điều này, anh uống hết cả chai rượu. Nhưng rồi trong cơn say và nỗi tuyệt vọng, anh ngũ gục trên bàn. Trên tờ giấy người lính trẻ viết một dòng chữ nói lên nan đề chính yếu dẫn đến quyết định tự kết liễu cuộc đời mình: Món nợ lớn này ai có thể trả hết!
Không một ai trong doanh trại lính đó hay cả quân đội có thể trả hết món nợ quá lớn của người lính trẻ tuổi đó. Không ai cả. Ngoại trừ một người. Đó là Nga Hoàng Nicholas.
Ban đầu Nga Hoàng giận dữ và có ý bắt giam người lính trẻ này. Nhưng khi nghĩ lại tình bạn với cha anh, khi nhìn thấy người con ngu dại, tội lỗi của bạn mình nằm gục thảm thương trên bàn, khi nhìn thấy dòng chữ viết tuyệt vọng của anh, Nga Hoàng động lòng thương xót. Sau đó ông viết lên tờ giấy cạnh dòng chữ: Món nợ lớn này ai trả hết được! chính tên ông: Nicholas, và dùng ấn của nhẫn đeo đóng dấu cạnh tên.
Với một chữ viết tên mình và dấu ấn của nhẫn đeo, Nga Hoàng Nicholas hứa sẽ trả hết món nợ lớn mà người lính trẻ không bao giờ có thể trả được. Một tên, chỉ một tên đem lại sự tha thứ và hồi phục sự sống cho người lính trẻ phạm tội đáng chết. Tên đó là Nga Hoàng Nicholas.
Chỉ với một tên, một danh dưới trời này mà mọi tội nhân như chúng ta được cứu. Danh đó là Giê-xu Christ. Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu. (Công Vụ 4:12)
Mãi cho đến năm tôi 24 tuổi, chưa một lần nào trong đời tôi nghĩ đến Trời hay Thượng Đế. Nhưng tôi biết chắc một điều: tôi là người đầy tội. Nếu có một Đức Chúa Trời, Thượng Đế, ông Trời thánh khiết, công bình chắc chắn tôi sẽ phải chịu chết trong địa ngục vì tội lỗi nhơ nhớp, xấu xa của mình. Nhưng rồi một tên đem lại sự cứu chuộc và bình an cho tâm hồn tôi như tên Nga Hoàng Nicholas đã đem lại sự cứu chuộc và bình an cho người lính trẻ. Tên đó là Giê-xu.
Điều mà Nga Hoàng Nicholas đã làm cho người lính trẻ - trả hết món nợ lớn mà anh không thể trả nổi, điều Phao-lô đã làm cho Ô-nê-sim – trả hết món nợ lớn mà anh không thể trả nổi, điều mà Chúa Giê-xu đã làm cho tôi và bao nhiêu tội nhân khác– trả hết món nợ lớn vì tội mà mỗi chúng ta không thể trả nổi: Đây chính là Tin Lành của sự cứu chuộc, tha thứ tội lỗi.
Đọc xong lá thư, Phi-lê-môn bảo Ô-nê-sim hãy về chỗ cũ mà nghĩ ngơi rồi mai sẽ làm việc lại. Chỗ cũ đây là nơi dành cho những người làm công, nô lệ. Nhưng bà A-phi ngưng chồng lại: “Ông đọc lại câu anh Phao-lô viết: Vậy, nếu anh xem tôi là bạn đồng đạo, thì xin anh hãy tiếp nhận nó như tiếp nhận chính mình tôi. Anh Phao-lô yêu cầu chúng ta tiếp Ô-nê-sim như tiếp chính anh. Nếu mình tiếp anh Phao-lô lẽ nào mình lại để cho anh ngủ phòng của những người làm hay sao? “Tiếp nhận nó như tiếp nhận chính mình tôi” là mình phải làm cho Ô-nê-sim như cho anh Phao-lô.”
Chúng ta có thể tưởng tượng bà A-phi dẫn Ô-nê-sim lên phòng ngủ trên lầu nơi mà ông bà dành cho người trong gia đình hay những người khách, người bạn thân thiết, quí trọng như Phao-lô. Rồi bửa ăn tối cho Ô-nê-sim cũng thịnh soạn như cho Phao-lô.
Lý do gì Phi-lê-môn và A-phi đối xử với Ô-nê-sim nhân từ, rộng rãi như vậy? Tha thứ tội trộm cắp tiền của, tha thứ tội bỏ trốn. Lại còn đối xử như khách quí? Chỉ bởi vì Phao-lô.
Trong thư Ê-phê-sô, sứ đồ Phao-lô viết: Trong tình yêu thương, Ngài [Đức Chúa Trời] đã định sẵn cho chúng ta địa vị làm con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo mục đích tốt đẹp của ý muốn Ngài, 6 để ca ngợi ân điển vinh quang mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài! (Ê-phê-sô 1:5-6 – BHĐ)
Câu “trong Con yêu dấu của Ngài” hay “trong Ngài” được dùng hơn 140 lần trong Kinh Thánh Tân Ước. Đây là một cách chính yếu để giải thích một ý thứ hai quan trọng và vô cùng cảm động về Tin Lành: khi chúng ta tin nhận Chúa, chúng ta không chỉ được Đức Chúa Trời tha thứ tội, nhưng còn được Ngài yêu thương, chấp nhận, ban cho như Ngài yêu thương, chấp nhận, ban cho chính Con Độc Sinh Giê-xu Christ. Đây là ý nghĩa của câu Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài.
Nhiều năm trước đây vào mùa Giáng Sinh khi người con gái lớn của tôi chưa lập gia đình, người bạn trai của cháu từ một tiểu bang xa đến thăm chúng tôi với mục đích để hỏi xin cưới con gái chúng tôi. Trước khi đón cậu thanh niên đó từ phi trường về nhà, nhà tôi đã chuẩn bị cho anh một phòng ở rộng rãi thường dành cho khách. Mỗi bửa ăn anh đều dùng bửa chung với chúng tôi như người trong gia đình. Chúng tôi tiếp rước và đối đãi anh như người thân thiết trong gia đình.
Lý do gì chúng tôi lại tiếp rước, đối đãi với người thanh niên đó như vậy? Rất đơn giản: bởi vì chúng tôi tiếp đón anh trong danh người con gái yêu dấu nhất của chúng tôi. Chúng tôi tin tưởng, tín cẩn người thanh niên đó vì chúng tôi tín cẩn, yêu thương con gái chúng tôi.
Đây là phần quan trọng thứ hai của Tin Lành. Khi tin nhận Đức Chúa Giê-xu Christ, chúng ta được tha thứ trọn vẹn tội lỗi đã phạm. Chính Đấng Christ trả hết món nợ lớn của mọi tội lỗi vi phạm mà chúng ta không thể nào trả hết được. Nhưng còn hơn thế nữa: Đức Chúa Trời lại còn tiếp nhận, yêu thương, ban tặng mọi điều quí báu cho chúng ta như Ngài đã ban tặng Con Độc Sinh của Ngài. Chúng ta được Đức Chúa Trời tiếp nhận, ban tặng cho chúng ta trong danh Con yêu dấu của Ngài.
Trong lá thư gửi cho Phi-lê-môn, Phao-lô cũng viết những lời vô cùng cảm động giải thích về sự ban cho lớn lao này: [Ô-nê-sim] đã rời xa anh ít lâu, có lẽ là để anh nhận nó lại mãi mãi, 16 không phải nhận lại như một nô lệ nhưng hơn hẳn một nô lệ, như người anh em thân yêu, rất thân yêu đối với tôi, huống chi đối với anh thì càng thân yêu hơn biết bao! Cả về tình người lẫn tình trong Chúa.
Ô-nê-sim từ một nô lệ trộm cắp tiền của chủ, bỏ trốn nay trở về được tha thứ và hồi phục không phải như một nô lệ, nhưng như người anh em thân yêu, cả về tình người lẫn tình trong Chúa. Lý do là bởi uy tính và danh dự của Phao-lô đối với Phi-lê-môn và A-phi. Cũng như người lính trẻ tuổi thâm lạm một món nợ quá lớn không thể nào trả hết nhờ danh Nga Hoàng Nicholas được tha thứ, cứu tội, hồi phục. Và cũng như chính tôi và hàng bao nhiêu tội nhân hôm nay được tha thứ, xóa tội, và ban cho quyền làm con trai, con gái của Đức Chúa Trời duy bởi một danh trên hết mọi danh: Đức Chúa Giê-xu Christ.
