Lòng Biết Ơn
Bước vào tháng 11 trời sang thu, bắt đầu trở lạnh. Cây đổi màu lá hanh vàng rồi lá rụng rơi khắp nơi trên đường phố. Đây cũng là tháng bước vào mùa lễ Tạ Ơn hay Thanksgiving. Vậy trong tháng này tôi sẽ xin được dùng sự biết ơn làm chủ đề chính cho những bài chia xẻ.
So Sánh Cuộc Sống Người Việt Tại Hoa Kỳ và Cambodia
Tính cho đến nay tổng số người Việt nam sinh sống ở hải ngoại đến trên 3 triệu 700 ngài người trên rất nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó số người Việt chúng ta sinh sống tại Hoa Kỳ đã lên trên một triệu sáu trăm ngàn người. So với số ba triệu 700 ngàn người sống xa xứ, thì số người Việt tại Hoa Kỳ đông nhất, trên 1/2. Nhưng sau Hoa Kỳ không phải là Canada hay Úc hay các quốc gia tại Âu Châu như Anh, Pháp, Đức nhưng là số đồng hương tại Cambochia và Lào. Tổng số người Việt chúng ta sinh sống tại hai xứ này lên đến độ 750,000, trong đó chỉ sau người Việt tại Hoa Kỳ là số người Việt tại Cambodia độ 600,000 (5% dân số). So về đời sống giữa người Việt chúng ta tại Hoa Kỳ và tại Cambochia hay Lào thì sự khác nhau cũng như trắng với đen, như ngày và đêm.
Tất cả người Việt chúng ta đến xứ Hoa Kỳ bởi sự lựa chọn. Chúng ta muốn tìm cho mình, con cái và gia đình một cuộc sống mới sung túc hơn, tốt đẹp hơn: tìm những cơ hội để làm ăn, buôn bán, để con cái có thể học hành tiến thân, thậm chí để có thể chửa các tật bệnh hiểm nghèo. Như quý vị biết chỉ trong vòng 35 năm, người Việt tại Hoa Kỳ đã có rất nhiều thành đạt lớn lao về kinh tế, giáo dục, thậm chí cả về chính trị. Người Việt Nam đầu tiên trở nên dân biểu Hạ Viện là ông Joseph Cao tại Louisiana (nay đã thua!) và người tranh cử thứ nhì là ông Trần Văn tại California đang chờ kiểm phiếu.
Tuy nhiên, nếu có cơ hội, có sự lựa chọn thì hầu hết đồng bào Việt chúng ta tại Cambochia và Lào sẽ chọn định cư tại một nơi khác. Và dĩ nhiên xứ Hoa Kỳ là hàng đầu tiên trong danh sách. Đời sống tại Cambochia và Lào nói chung vô cùng khó khăn, thậm chí nghèo đói. Phần lớn người Việt tại Cambodia không phải là công dân của xứ nhưng ở trong tình trạng lưỡng nan: không thể trở về lại VN nhưng không được nhận là công dân và bị nhiều kỳ thị. Khi xem những bức hình chụp tại Cambochia hay Lào thật khó cho chúng ta có thể tin rằng cuộc sống hiện tại của đồng hương Việt chúng ta lại khốn khổ đến như vậy. Nhìn những căn chòi bằng lá, bằng tranh lụp xụp cất gần những đống rác hay những vũng bùn xình dơ bẩn, nhìn các trẻ em thiếu ăn, kém dinh dưỡng, thèm thuồng được một cục kẹo, một miếng bánh mà buồn cho đồng bào của chúng ta và khi lớn lên cũng không có cơ hội để học hành đến nơi đến chốn. Chỉ hy vọng mỗi ngày được hai bửa ăn, áo quần để mặc che thân, nơi ở khi trời nắng noi, mưa gió. Còn tương lai thì mờ mịt không biết ngày mai sẽ ra sao. So với đồng hương tại hai nước đó tất cả chúng ta là những người sinh sống trên xứ sở này có quá nhiều điều đáng để tạ ơn trong cuộc sống mỗi ngày. Một câu nói thế này: “Một người không biết ơn cho điều họ có thì sẽ không biết ơn cho điều mà họ sẽ nhận.”
Người Việt chúng ta rất quí trọng ơn nghĩa. Thay vì kỷ niệm sinh nhật chúng ta có ngày giỗ quẫy để tưởng nhớ cha mẹ, ông bà. Ca dao, tục ngữ ta gồm rất nhiều lời dạy về sự biết ơn, lòng kính trọng ơn nghĩa: "Uống nước nhớ nguồn", "ơn trả nghĩa đền", "ơn sâu nghĩa nặng", "ơn to khó trả, nghĩa cả khó đền". Chữ nghĩa thường đi liền với chữ ơn. Người có nghĩa là người biết ơn; nhưng người không nhớ ơn, không cám ơn, không biết ơn thì sao có thể có nghĩa được? Từ khi còn nhỏ đã được cha mẹ, thầy cô dạy rằng khi được ai cho gì, tặng gì, giúp gì đều phải biết ngõ lời cám ơn. Bị trách, bị mắng là người vô ơn, bội nghĩa là một điều trách mắng hết sức nặng nề mà không ai có thể cam lòng chấp nhận.
Bốn Loại Toán
Khi mới học làm toán chúng ta bắt đầu với đếm số, rồi đến toán cộng, toán trừ, rồi mới đến toán nhân và chia. Thường thì trong đời sống chúng ta giỏi tính toán trong nhiều điều không đáng theo lời Chúa dạy: đếm lỗi của người chung quanh, đếm kẻ thù của mình; cộng vào và nhơn thêm nhiều tài của vào túi, vào bank nhưng lại trừ ra hay chia bớt công việc cho Chúa, sự giúp đở cho người. Nhưng hễ làm người, đặc biệt là người tin Chúa, thì chúng ta phải biết học đếm các ơn phước Chúa ban. Loại toán khó nhất để học và hành cho nhuần nhiễn là đếm các ơn phước Chúa ban và trừ ra những cay đắng, bất mãn trong đời sống.
Phải Học và Tập Tành Sự Biết Ơn
Cũng như không ai khi sinh ra đã biết làm toán học thì chúng ta cũng phải học hỏi và tập tành sự biết ơn. Lòng biết ơn, trọng nghĩa không phải là tánh bẩm sinh của loài người. Chính vì vậy mà ông bà ngày xưa thường dạy tiên học lễ, hậu học văn, tức là trước hết phải học lễ nghĩa làm người rồi mới học đến kiến thức. Cũng lý do này mà ca dao tục ngữ Việt nam có rất nhiều lời dạy về lòng biết ơn, trọng nghĩa. E rằng cứ để tự nhiên, không nhắc dạy thì khi lớn lên chúng ta sẽ không còn biết cám ơn, biết mang ơn và trả ơn ai hết.
Kinh Thánh dạy rất nhiều về sự tạ ơn, về lòng biết ơn. Phao Lô nhắc dạy hội thánh Tê-sa-lô-ni-ca: “Hãy vui mừng luôn, hãy cầu nguyện không thôi và trong mọi việc dâng lời tạ ơn Chúa” (1 Tê-sa 5:16). Thi Thiên chia làm 5 sách. Quyển thứ nhất từ đoạn 1-41; quyển thứ hai từ đoạn 42-72, vân vân. Nhưng phần kết thúc của mỗi quyển Thi Thiên đều kết thúc với lời cảm tạ, ngợi ca Đức Chúa Trời.
TT 41:13: “Đáng ngợi khen Giê-hô ĐCT của Y-sơ-ra-ên, từ trước vô cùng cho đến đời đời! Amen, Amen! (thật vậy)”
TT 72:18-19: “Đáng ngợi khen GHV ĐCT, là ĐCT của Y-sơ-ra-ên, chỉ một mình Ngài làm những sự là lùng. Đáng ngợi khen danh vinh hiển Ngài đến đời đời! Nguyện khắp trái đất được đầy sự vinh hiển của Ngài! Amen! Amen”
TT 89:52: “Đáng ngợi khen ĐGHV đến đời đời. Amen! Amen!”
TT 106:47-48: “Hầu cho chúng tôi cảm tạ danh thánh Chúa, và khoe mình về sự ngợi khen Chúa. Đáng ngợi khen GHV ĐCT của Y-sơ-raên, từ trước vô cùng cho đến đời đời mãi mãi! Cả dân sự khá nói: Amen! Halêlugia!
Trong số 150 TT, ít nhất 38 TT có lời ngợi ca, tôn vinh Chúa; nhưng phần lớn các TT đều có lời cảm tạ ơn ĐCT như TT 103, hay 136.
Có người viết: "Ai quên đi ngôn ngữ của sự biết ơn không bao giờ có thể nói được tiếng của hạnh phúc". Thật vậy khi chúng ta luôn luôn đòi hỏi quyền lợi, nhưng lại dững dưng, coi thường mọi điều mình nhận được hay bực tức khi không được nhận thêm thì làm sao trong lòng có được sự vui vẻ. Trái lại người dù có ít nhưng có lòng biết ơn lại cảm thấy thỏa lòng, vui vẻ, hạnh phúc. Đúng như lời Kinh Thánh dạy: "Niềm tin kính và lòng mãn nguyện là lợi ích lớn" (I Tim 6:6)
Trẻ em khi chào đời chỉ biết đòi hỏi theo nhu cầu cá nhân: khi đói khát thì đòi ăn, đòi bú, khi sợ hãi, đau đớn thì la khóc để được ẩm bồng. Thế giới của trẻ thơ là một thế giới mà mọi người, mọi vật đều phải xoay chung quanh các em. Nếu quý vị chú ý một chút khi vào các nhà trẻ, đối với một em bé hai tuổi điều gì em thấy là của mình, trong tầm tay với lấy được là của mình dù món đồ chơi có đang trong tay của bạn. Những người có con cái tuổi mười, mười lăm, chắc nhiều lúc rất bực dọc vì thấy chúng nó sao cứ dững dưng trước những điều cha mẹ đã làm cho mà không một lời cám ơn, không một cử chỉ, hành động tỏ bày lòng quý trọng. Dù có quá đầy đủ về vật chất nhưng vẫn luôn trách móc, đòi hỏi như cha mẹ mắc nợ mình phải trả! Cơ hội để học hành, để tiến thân rộng mở trước mắt nhưng lại dững dưng thậm chí chê trách trường học, chế diễu thầy cô, quấy phá bè bạn.
Những điều này không chỉ giới hạn trong vòng thanh niên, thiếu nữ hay trẻ em mà có thể thấy luôn cả trong đời sống của chính những người lớn tuổi. Nhiều lúc chúng ta nghĩ rằng vợ mình, chồng mình, cha mẹ hay anh chị em mình, hay cả đến chính quyền, hệ thống y tế, xã hội phải có trách nhiệm cung cấp những đòi hỏi, thoả mãn những quyền lợi mà chúng ta muốn. Mới đầu khi nhận sự giúp đở chúng ta còn nói cám ơn, dần dà rồi trở nên quen thuộc lại xem như quyền lợi. Với thời gian sự giúp đở đó trở nên trách nhiệm, bổn phận của người, của xã hội, chính quyền đối với mình. Rồi thậm chí khi không thoả mãn được những đòi hỏi đó chúng ta trở nên cay đắng, hờn trách vì người ta đã thiếu xót bổn phận cung cấp cho mình. Không ai muốn sống gần một người mà làm gì cho, tặng gì cho, giúp gì cho cũng lấy làm dững dưng không biết nói một lời cám ơn, không bao giờ tỏ bày lòng biết ơn. Hay sống với một người lúc nào cũng nghĩ rằng mọi người, cả thế gian này và luôn cả Thượng Đế như mắc nợ họ nên phải đền trả mỗi ngày.
Thể Hiện Lòng Biết Ơn
Sự biết ơn có thể hiện qua ba điều cụ thể: cám ơn, nhớ ơn, trả ơn.
Biết ơn là ý thức rằng việc làm của người cho mình là đáng quý. Nhưng chỉ một mình mình biết không chưa đủ. Cách thể hiện thứ nhất là sự cám ơn. Khi cám ơn, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn của mình với người qua lời nói chân thành, trực tiếp, cụ thể.
Một câu chuyện trong sách Lu-ca 17 về 10 người phung cùi được ĐCJC chửa lành. Khi nhờ Chúa thì họ rất thống thiết: “Lạy Jêsus, lạy thầy, xin thương xót chúng tôi cùng!” Nhưng sau khi được Chúa chửa lành chỉ có một người trở lại cám ơn, đặc biệt là người Samari. Vì vậy Chúa phán: “Không phải 10 người đều được sạch cả sao? Còn 9 người kia ở đâu? Chỉ có người ngoại quốc này trở lại ngợi khen ĐCT ư!” (17:17-18).
Thà rằng chúng ta rộng rời về lời cám ơn còn hơn hà tiện cứ giữ kín trong lòng. Không nên bởi vì quá quen thuộc như với vợ chồng, anh em, bè bạn mà cất dấu đi lời cám ơn. Lời cảm ơn như một giòng nước mát cho người nghe. Thấy vợ nấu ăn, ủi đồ, dọn dẹp nhà cửa thì nên có một lời chân thành "cám ơn em đã nấu một bửa ăn rất ngon", "cám ơn em đã dọn dẹp nhà cửa sạch sẻ". Khi được cha mẹ cho món gì dù có bình thường hay không đáng giá bao nhiêu, nhưng con cái cũng cần tỏ lời: "cám ơn ba má đã mua cho con món đồ này".
Cách thể hiện thứ hai của lòng biết ơn là nhớ ơn. Lời cảm ơn có thể chỉ nhất thời rồi chúng ta quên đi, như lời cám ơn bởi một hành động tử tế của một người xa lạ khi họ nhường ghế ngồi cho khi đi trên một chuyến xe bus đông người. Nhưng sự nhớ ơn thâm sâu hơn, bởi vì chúng ta thật sự cảm động về sự giúp đở hay lòng rộng lượng của người giúp mình. Hay bởi vì người làm ơn rất đặc biệt, thân thương với chúng ta. Nhớ ơn là ghi khắc công ơn của người ban cho mình trong tâm hồn, trí ức. Nhất là khi người làm ơn không còn ở với chúng ta nữa hay đã qua đời. Cha mẹ mất rồi không thể ngỏ lời cảm ơn, nhưng làm con chúng ta luôn ghi nhớ công ơn dưỡng nuôi của đấng sinh thành. Vì nhớ ơn thầy cô nên học sinh dù đã rời khỏi mái trường xưa vẫn trở lại thăm viếng. Người Việt nam chúng ta nhớ ơn những người có công dựng và giữ nước nên có ngày giổ tổ Hùng Vương, ngày kỷ niệm Bà Trưng Bà Triệu.
TT 103:1 dạy: “Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen ĐGHV! Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài!” Linh hồn, mọi điều gì ở trong ta? Đây là những điều người khác không thấy được, biết rõ được. Chúa muốn chúng ta phải có lòng biết ơn trong tận cùng đáy lòng, trong sâu kín nhất của tấm lòng, linh hồn chúng ta về ơn phước Chúa ban, các bài học Chúa dạy.
Lòng biết ơn không chỉ bày tỏ qua lời cám ơn, qua lòng nhớ ơn mà còn qua hành động cụ thể của sự trả ơn. Trả ơn là bồi đền lại sự giúp đỡ đã nhận được từ người. Dù có thể không hoàn trả lại hết một cách trọn vẹn những gì đã nhận nhưng chúng ta cũng cần cố bày tỏ nổ lực, cố gắng một cách tương xứng. Cũng có khi sự giúp đở không đáng gì lắm nhưng tấm lòng của người giúp cảm động người nhận nên sự trả ơn nhiều hơn bội phần.
Chắc một số quý thính giả còn nghe qua câu chuyện Lưu Bình và Dương Lễ. Lưu Bình và Dương Lễ là bạn học nhưng nhà Lễ nghèo còn nhà Bình thì giàu có. Thấy bạn nghèo khó, phải làm lụng cực nhọc để được đi học nên Lưu Bình mời bạn về nhà sống với mình cho đến kỳ thi. Cùng ăn chung mâm, học chung bàn nhưng Dương Lễ thì chăm chỉ, chịu khó thức đêm học hành để mong đổ đạt, còn Lưu Bình thì ỷ lại. Đến kỳ thi cử, Lễ đổ trạng nguyên làm quan còn Bình thì thi rớt phải trở về làng. Chán nản Lưu Bình sinh ra ăn chơi trụy lạc tiêu sạch cả gia tài sự sản. Lúc ấy nhớ đến bạn mình đang làm quan nên Lưu Bình bấm bụng nuốt lòng tự cao đến để xin được giúp. Nhưng nhục thay cho Lưu Bình vì người bạn ngày xưa mà mình hết lòng giúp đỡ chẳng những không giúp mà còn nhẫn tâm xua đuổi, nói lời nặng nhẹ. Đau buồn, tủi nhục Lưu Bình bỏ đi. Tối hôm đó tại một quán trọ Lưu Bình gặp một thiếu nữ hiền lành tên Châu Long có lòng chân thành lắng nghe nỗi niềm đau khổ của mình. Nghe xong chuyện, Châu Long hết lời khuyên giải với Lưu Bình và động viên anh phải cố gắng hết sức mà mài dồi kinh sử để thi lại. Người thiếu nữ ấy còn tử tế ngõ lời cho Lưu Bình tá túc trong quán trọ cho đến khi ngày thi cử. Từ đó được sự chăm sóc tử tế, ân cần của Châu Long, Lưu Bình dốc hết tâm sức vào việc học với ý chí đổ trạng nguyên để bằng với tên bạn bạc nghĩa là Dương Lễ. Đến ngày tuyên bản, Lưu Bình thi đổ trạng nguyên và được thăng quan tiến chức. Lòng vui mừng, Bình trở về quán trọ để tìm lại Châu Long. Nhưng người thiếu nữ bỗng nhiên mất tâm biệt tích, tìm mãi vẫn không được. Nhiều năm sau đó khi có dịp đi ngang qua thành Dương Lễ làm quan, Lưu Bình vì vẫn còn oán hận nên cố tránh. Nhưng Dương Lễ biết được nên sai thuộc hạ mời Lưu Bình đến nhà. Lần này gặp Lưu Bình, Dương Lễ ân cần, vui vẻ, mời trà cho uống. Đang khi uống trà, một người đàn bà từ trong bước ra. Lưu Bình nhìn thấy giật mình vì sao quá quen thuộc, giống như người thiếu nữ chủ quán trọ tên Châu Long ngày xưa. Lúc này Dương Lễ mới giải thích cho bạn rằng vì muốn trả ơn giúp đở ngày xưa hồi còn hàn vi, nghèo khó nên hy sinh chính vợ mình giả dạn làm Châu Long để động viên, hổ trợ Lưu Bình cho đến khi thành đạt.
Dương Lễ nhớ ơn bạn rồi bày tỏ qua sự trả ơn cao cả, hy sinh hạnh phúc của chính mình. Sự trả ơn của Dương Lễ thật vượt quá những sự giúp đở của bạn với mình.
Hiếm ai trong đời sống biết ơn, cám ơn, nhớ ơn, trả ơn được như hai người bạn trong câu chuyện trên. Trái lại tục ngữ ta lại có câu thật đáng buồn: "Cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán". Nhiều người nghĩ rằng những gì mình có hôm nay là do chính mồ hôi, nước mắt mình đổ ra mới có nên chẳng mang ơn, mắc nợ ai cả. Trong đời sống, không ai là một ốc đảo cả. Suy đến cho cùng chắc chắn chúng ta sẽ tìm được nhiều ân nhân giúp mình, không điều này thì cũng điều nọ, không lúc này cũng lúc khác. Ai tự bảo rằng mình không mang ơn ai hết là người tự dối mình. Đặc biệt khi chúng ta là những người tị nạn định cư tại quốc gia này, được nhận sự trợ giúp từ xã hội, chính quyền. Chúng ta có thể bày tỏ lòng biết ơn bằng cách đóng góp, cống hiến lại phần nào cho xã hội. Đừng chỉ biết đòi hỏi để được nhận thêm quyền lợi này hay thêm trợ cấp nọ, nhưng cũng phải cần nghĩ đến những người khác, nghĩ đến sự đóng góp trở lại cho con cháu mình, cho thế hệ tương lai, cho đất nước mà chúng ta đang sinh sống. Chính Đức Chúa Jê-sus Christ dạy: "Ban cho thì có phước hơn nhận lãnh" (CV 20:35) và "Hãy cho, thì các con sẽ được ban cho. Người ta sẽ đong đấu đầy, nén chặc, lắc xuống, thêm cho đầy tràn mà đổ vào vạt áo các con; vì các con đong cho người ta theo mức nào, thì sẽ được đong lại theo mức ấy" (Lu-ca 6:38)
Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo loài người, Đấng ban cho chúng ta rất nhiều ơn phước trong đời sống. Thế nhưng nhiều lúc chúng ta lại không ý thức hay phủ nhận sự thật này. Nhờ sự gìn giữ và phò trợ của Ngài mà chúng ta được định cư tại xứ này, được có một đời sống ấm no, đầy đủ. Nhờ ân điển của Chúa mà chúng ta được mạnh khoẻ, yên ổn. Bởi tình yêu thương của Ngài mà chúng ta được yên ủi khi hoạn nạn, khó khăn. Lời Kinh Thánh nhắc nhở: "Dù biết Thượng Đế nhưng họ chẳng tôn vinh hay cảm tạ Ngài. Họ suy tư trong vòng luẩn quẩn, tâm hồn bị sa lầy trong bóng tối. Họ tự nhận là khôn ngoan nhưng hóa ra mê muội. Thay vì thờ phượng Thượng Đế vinh quang hằng sống, họ tôn thờ thần tượng con người phù du, đến cả hình tượng chim, thú hay loài bò sát" (Rô-ma 1:21-23). Tôi cầu xin Đức Chúa Trời giúp cho mỗi chúng ta được là người có lòng biết ơn và biết thể hiện lòng biết ơn qua hành động cụ thể: qua những lời cảm ơn, qua sự nhớ ơn, và qua sự trả ơn.
