Kinh Thánh & Đức Tin: Tin Tưởng Lời Chúa
Đối với người tin Chúa KT là lời hằng sống của ĐCT. KT là nền tảng của đức tin. Qua KT ĐCT bày tỏ dự tính, kế hoạch, chương trình cứu rỗi sau khi con người phạm tội. Qua KT, Chúa cho biết ý chỉ của Ngài cho đời sống con người. Niềm tin tách rời lời dạy dỗ trong KT là một niềm tin không có nền tảng, đáng nghi ngờ. Bài giảng, lớp học KT, hội thánh, MS nào không dựa vào KT chắc chắn không đến từ ĐCT. Trong lá thư cuối đời trước khi bị xử chết, PL xác nhận sự quan trọng của KT như sau:
Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành (2 Ti-mô-thê 3:16). Cả KT có nghĩa là gồm cả CU và TU.
Trong loại bài giảng về KT và Đức tin, tôi sẽ lần lượt giải thích về gốc tích KT, thế nào chúng ta có quyển KT như hôm nay; giải thích về những bằng chứng cụ thể giúp chúng ta có thể tin tưởng tuyệt đối rằng KT thật là lời Chúa, chứ không phải lời dạy đạo đức của con người. Sẽ giới thiệu về các sách và ý nghĩa chính yếu của các sách trong CU và TU. Mục đích chính là để chúng ta có thể tin tưởng hoàn toàn vào sự trung thật và giá trị tuyệt đối của KT như lời của ĐCT để đức tin tăng trưởng và ngày càng vững chắc, mạnh mẽ hơn.
LỊCH SỬ KT VIỆT NAM
Vào thế kỷ 16, HT Công Giáo đã gởi giáo sĩ đến VN. Thời đó chữ tiếng Việt vẫn còn dùng chữ viết Hán tự và chữ Nôm rất khó học, khó viết. Để giao tiếp với người Việt, các giáo sĩ Công Giáo phải phiên âm tiếng Việt theo dạng chữ La-tin. Đến năm 1651 giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes ấn hành quyển tự điển phiên âm tiếng Việt đầu tiên (gọi là chữ Quốc Ngữ). Đó là lần đầu tiên chữ viết Việt Nam phiêm âm theo mẫu từ A, B, C như tiếng La-tin.
Tin Lành đến VN vào năm 1911 (tức gần 300 năm sau CG) qua Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (Christian & Mission Alliance) (mãi đến năm 1974 CMA mới chính thức trở nên một hội giáo – denomination) Trong 300 năm trước đó dù có nhiều người Việt theo đạo CG nhưng toàn bộ KT vẫn chưa được dịch sang tiếng Việt. Chỉ vài sách Phúc Âm, CVCSĐ được dịch và in.
Tuy nhiên chỉ vài năm sau khi TL đến VN, các giáo sĩ CMA đã bắt đầu khởi sự dịch thuật toàn bộ KT sang tiếng Việt. Năm 1914 ÔBGS William C. Cadman và Grace Hazenberg Cadman bắt đầu công trình dịch thuật KT sang tiếng Việt. “Với sự trợ giúp của một học giả tên Nho, họ đã kịp hoàn thành các sách Phúc âm Giăng, Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca, cũng như sách Công vụ các Sứ đồ, và thư Rô-ma trước khi Toàn quyền Pháp ra lệnh đóng cửa các cơ sở truyền giáo và trục xuất năm nhà truyền giáo vào cuối năm 1915. Đến năm 1918, bản Quốc ngữ của các sách này được ấn hành tại Thượng Hải, trong khi bản chữ Nôm được ấn hành ở Hà Nội.
Từ đầu năm 1921 đến cuối năm 1922, với sự cộng tác của Trần Văn Dõng, một dịch giả chuyên nghiệp, J.D. Olsen đảm trách công cuộc dịch thuật những sách còn lại của TU, in tại Thượng Hải và phát hành tại Việt Nam trong năm 1922, rồi được tái bản ngay trong năm sau. Kể từ năm 1920, chữ Quốc ngữ được chọn làm ngôn ngữ duy nhất để dịch Kinh Thánh, việc phiên dịch Kinh Thánh sang chữ Nôm bị dừng lại mặc dù bảy bản Kinh Thánh chữ Nôm vẫn được xuất bản cho đến giữa thập niên 1930.
Năm 1919, ông bà Cadman trở lại với công việc dịch thuật Kinh Thánh, lần này có sự cộng tác của học giả Phan Khôi. Đến năm 1925, họ hoàn tất bản dịch Cựu Ước. Sau khi được duyệt xét kỹ lưỡng bởi các văn sĩ, mục sư, giáo sĩ, kể cả Olsen, toàn bộ Kinh Thánh được in tại Hà Nội năm 1926.” Cụ Phan Khôi đã dùng KT bản chữ Hán đối chiếu với bản chữ Pháp để dịch bản KT đầu tiên.
Mục Sư Lê Hoàng Phu cho biết: “Gia đình Cadman tiếp tục công tác dịch Kinh Thánh năm 1919, lần này với sự cộng tác của ông Phan Khôi, một học giả và văn sĩ lỗi lạc, đã ở với họ trong 10 năm. Họ hoàn tất Cựu Ước năm 1925, sau khi đã duyệt xét kỹ lưỡng bởi các văn sĩ, mục sư, giáo sĩ, kể cả nhà truyền giáo Olsen, toàn bộ Kinh Thánh đã được in tại Hà Nội năm 1926. Vừa khi cuốn Kinh Thánh Việt Nam in xong, ông Phan Khôi nhận chức chủ nhiệm một tờ báo quan trọng “với giá lương gấp bội hơn lương có thể trả cho ông để dịch Kinh Thánh”. Chẳng bao lâu sau đó Phan Khôi khởi xướng “phong trào Thơ mới” đã làm rung chuyển cả những truyền thống văn học từ bao thế kỷ ở trong nước và cũng phóng ông lên địa vị lãnh đạo các đoàn thể văn học. Giá trị của công việc ông về bản dịch Kinh Thánh năm 1926 vẫn còn được các độc giả Việt Nam ưa thích.”
Năm 1948 một nhóm học giả dưới sự lãnh đạo của MS J.D. Olsen và MS Ông Văn Huyên cập nhật (nhuận chánh) phần TU của bản dịch 1926. Năm 1995, toàn bộ Kinh Thánh Việt Nam đã được tái bản tại Ðà Nẵng, với vài hiệu đính nhỏ từ bản Kinh Thánh năm 1926. Việc tái bản này do Hội Thánh Tin Lành Việt Nam thực hiện với sự hổ trợ của Thánh Kinh Hội Liên Hiệp (United Bible Society). Ðây là bản Kinh Thánh đầu tiên của Giáo Hội Tin Lành Việt Nam in và phát hành tại quê nhà sau năm 1975.
Với sự bảo trợ của Liên hiệp Thánh Kinh Hội (UBS), công tác hiệu đính bản Kinh Thánh Việt ngữ 1926 khởi sự từ năm 1999, đến năm 2004 hoàn tất hiệu đính bản TU và CU vào cuối năm 2007. Sau khi thu nhận nhiều ý kiến đóng góp và qua ba kỳ hội thảo về công tác hiệu đính trong những năm 2005, 2007, và 2009, bản Hiệu đính được phát hành năm 2010.
Bên cạnh bản hiệu đính còn có nhiều bản dịch KT VN khác. Như vào năm 1994, toàn bộ Thánh Kinh do Mục Sư Lê Hoàng Phu và ba dịch giả phiên dịch đã được Thánh Kinh Hội Quốc Tế (International Bible Soceity - IBS) và Văn Phẩm Nguồn Sống phát hành vào tháng 6/1994 tại Anaheim, California. Năm 2002, bản dịch của Hội Kinh Thánh Việt Nam (Vietnamese Bible Inc.) hoàn tất, được phát hành tại Hoa Kỳ với tên gọi là Bản Dịch Mới. Giới nghiên cứu gọi bản dịch này là Bản Dịch 2002.
Năm 2010 tại Đại Hội Liên Hữu Báp-tít lần thứ 26 tại Denver, Giáo sư Phạm Quang Tấn chính thức phát hành Bản Phổ Thông
KHÁM PHÁ TẠI QUMRAN GẦN BIỂN CHẾT
Một ngày tháng 2 hay 3, 1947 (cách đây gần 70 năm) 1 cậu thanh niên chăn cừu dê đi tìm con đi lạc trong vùng đồi Qumran cằn cỗi, khô hạn gần biển Chết tình cờ nhìn thấy một hang động trên triền dốc của một ngọn đồi. Tò mò, cậu thanh niên ném một hòn đá vào hang tối. Cậu ngạc nhiên khi nghe tiếng vang lại nghe như là tiếng bể của các hủ đất. Có người viết “This sound echoed around the world”. Những điều cậu thanh niên này và hai người bạn cùng nghề tìm được là một trong những khám phá quan trọng nhất trong thế kỷ 20. Và cũng là bằng chứng cụ thể và chắc chắn về sự trung thực của KT.
Tổng cộng các nhà khảo cổ gia đã tìm được 825 đến 870 cuộn gồm tất cả các sách CU ngoại trừ sách Ê-xơ-tê. Trong các cuộn sách đó có 19 bản chép từ sách Ê-sai, 25 bản chép sách PTLLK, 30 bản chép Thi Thiên
Tại sao sự khám phá này là quan trọng? Trước đó bản dịch KT CU thường căn cứ vào một bản Masoretics, được chép lại bởi Masoretes, những người học giả Do Thái sống trong khoảng 500-950 AD. Nhưng các bản KT CU tìm được tại vùng Biển Chết được định tuổi vào khoảng 125-150 trước Công Nguyên tức hơn 1000 năm xưa cỗ hơn bản Masoretics. Dù một khoảng thời gian rất dài như vậy nhưng sách Ê-sai giữa 2 bản chỉ khoảng 5% khác biệt, chủ yếu là các đánh vần, dấu bỏ. Học giả Gleason Archer viết: “những bản chép Ê-sai tại Qumran chứng minh trên 95% từng chữ giống chữ với nhau (chính xác) so với bản dịch KT CU chúng ta dùng.”
Về KT TU, hiện tại có trên 5686 bản chép tiếng Hy-lạp, trên 10000 bản chép tiếng La-tin, ít nhất 9300 bản chép. Tổng cộng hiện nay có gần 25000 bản chép TU từ các ngôn ngữ khác nhau. So với cách sách cổ điển khác như Iiliad (643) và bản xưa nhất còn lại là từ thế kỷ 13.
27 sách KT TU được viết từ khoảng 50-90. Mãnh sách xưa nhất tìm được vào khoảng 120 và 50 mãnh khác từ năm 150-200 từ sau khi viết. So với các sách cổ khác thì đây là một thời gian hết sức ngắn hạn. Bản chép Odessy viết bởi Homer 2200 năm sau viết ra. Trong quyển sách The Heart of the Buddha's Teaching (Cốt Lõi của Lời Phật Dạy) thượng tọa Thích Nhất Hạnh viết:
Trong vòng 400 năm trước và sau khi Phật mất, lời dạy của Ngài chỉ được truyền khẩu (orally). Sau đó, những tu sĩ trong phái Tamrashatiya (những người mặc áo cà sau màu đồng) tại xứ Sri Lanka, bắt đầu nghĩ đến việc ghi lại những bài thuyết pháp của Phật (began to think about writing Buddha's discourses) trên lá, và phải mất 100 năm mới bắt đầu. Đến lúc đó, truyền thuyết là chỉ có một tu sĩ thuộc hết cả kinh nhưng ông có phần hơi kiêu ngạo. Các tu sĩ khác thuyết phục người tu sĩ đó đọc lại để họ có thể viết lại. Khi chúng ta nghe điều, chúng ta cảm thấy hơi khó chịu biết rằng một tu sĩ cao ngạo có thể không phải là một công cụ tốt nhất để truyền đạt lại lời Phật dạy.
KT gồm 66 sách, chia làm 2 phần gọi là Cựu Ước và Tân Ước. Cựu Ước gồm 39 sách và Tân Ước gồm 27 sách/thư. 66 sách trong KT được viết bởi trên 40 tác giả khác nhau sinh sống trên 3 lục địa khác nhau là Âu Châu, Á Châu và Phi Châu với 3 ngôn ngữ khác nhau Hê-bơ-rơ, A-ra-ma-íc (Aramaic) và Hy Lạp (Greek). Các tác giả thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội và có những nghề nghiệp khác nhau, như Mô-se là người Do thái nhưng lớn lên trong triều đình Ai-cập, là hoàng tử Ai-cập, rồi trong 40 năm làm nghề chăn chiên, sau đó lãnh đạo cả dân sự Do Thái ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập vào vùng đất hứa, Giô-suê là tướng lãnh phụ cận của Mô-se, Đaniên là một thanh niên trẻ tuổi bị bắt làm tù nhân sang xứ Ba-by-lôn rồi trở nên thủ tướng của xứ, Phierơ là một người đánh cá vùng Ga-li-lê, Ma-thi-ơ làm nghề thu thuế, Phao-lô là người Pha-ri-si (thầy tôn giáo) và học giả. Những tác giả này viết các sách KT từ nhiều nơi khác nhau: Mô-sê trong đồng vắng, Phao-lô trong tù ngục, Giăng khi bị đày sang đảo Pát-mô, Đa-vít viết nhiều bài thi thiên trong hang tối, trong sa mạc, nơi cung điện. Và 66 sách KT được viết ra trong thời gian trên 1500 năm.
Dù có rất nhiều sự khác nhau về thành phần tác giả, về thời gian, về nội dung, nhưng điều kỳ diệu là cả 66 sách đều đồng nhất về một chủ đề. Chủ đề đó là về chương trình cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC. Chính ĐCJC đã xác định rõ cả KT viết về Ngài: Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy. (Giăng 5:39); Vì nếu các ngươi tin Môi-se, cũng sẽ tin ta; bởi ấy là về ta mà người đã chép. (5:46); Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. (Lu-ca 24:27); Đoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm (24:44).
Một học giả KT giải thích thế này: KT CU là sự chuẩn bị cho sự chương trình cứu rỗi, 4 sách Phúc Âm là sự thể hiện chương trình cứu rỗi; sách CVCSĐ là sự phát triển về chương trình cứu rỗi; Các thư tín TU là sự giải thích ý nghĩa của về chương trình cứu rỗi; và KH là sự kết thúc của chương trình cứu rỗi. Cả KT có một chủ đề là về chương trình cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC.
Nhiều người hỏi sự khác nhau của thành phần tác giả, viết từ nhiều nơi, qua một thời gian rất dài như vậy có gì quan trọng và đặc biệt? Thử với tôi một trò chơi này. Tìm 10 người trong thành phố làm cùng một nghề, có cùng một trình độ và yêu cầu họ viết về một đề tài quan trọng nào đó như về ý nghĩa cuộc sống. Khi hoàn tất, so sánh nội dung viết của 10 người đó xem có thống nhất hay không. Dĩ nhiên là không.
Nhưng KT được viết ra không phải chỉ bởi 10 người nhưng hơn 40 người. Không phải viết ra trong một thời gian, một thế hệ nhưng trong 1500 năm. Không phải bởi các tác giả cùng một trình độ học vấn, thành phần xã hội, cùng một phong tục, văn hóa, ngôn ngữ nhưng từ nhiều trình độ, thành phần, văn hóa hoàn toàn khác nhau. Vậy đó mà nội dung KT thống nhất với cùng một chủ đề về sự cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC. Chính sự thống nhất kỳ diệu này của KT là một bằng chứng để chúng ta có thể tin rằng chính ĐTL của ĐCT đã hà hơi và cảm động các tác giả trong những thời điểm khác nhau để viết lại lời ĐCT.
Chỉ có KT là một tổng hợp của nhiều sách từ nhiều tác giả khác nhau. KT hồi giáo được viết một mình tiên tri Mô-ha-mết. Sách Mạc-môn (Book of Mormon) được viết một mình bởi tiên tri Joseph Smith. Chúng ta hỏi ai là người làm chứng cho lời họ viết và làm sao để biết được lời của một người viết là lời của ĐCT hay từ ĐCT? Theo một sách bởi thượng tọa Thích Nhất Hạnh, những lời dạy của Phật trong 400 năm đầu tiên chỉ được truyền khẩu. Chỉ mấy trăm năm sau đó (it took another hundred years), một số tu sĩ thuyết phục một tu sĩ nhớ trọn lời dạy nhưng cũng là người kiêu ngạo viết xuống.
Chúng ta tin KT là sự khải thị của ĐCT cho loài người để hiểu và biết về ý chỉ của Ngài cho đời sống, về chương trình cứu rỗi qua ĐCJC. Qua KT chúng ta không chỉ biết được ý Chúa, hiểu được chương trình và hành động của ĐCT trong thế gian nhưng còn kinh nghiệm được tình yêu của Ngài qua sự hiện thân của ĐCJC.
Tuy nhiên chúng ta không tin một bản in KT hay một bản dịch KT cụ thể nào là lời Chúa. Chúng ta cần phân biệt rõ điều này. Người hồi giáo tin rằng bản in kinh Koran là thiêng liêng vì vậy họ nổi loạn khi ai đó đốt kinh sách; cũng vì vậy mà họ chỉ tin bản bằng tiếng Ả-rập là chính thức. Nhưng người Cơ-đốc tin rằng nội dung KT là lời của ĐCT chứ không phải bản in hay bản dịch.
Dù là bản dịch của học giả Phan Khôi bao nhiêu năm trước đây hay bản diễn ý của MSTS Lê Hoàng Phu, hay bản dịch mới nhất cũng đều mang lời Chúa. Dĩ nhiên có bản dịch trung thực hơn, xác nghĩa và đúng hơn với bản tiếng nguyên thủy và cũng có những bản dịch không nên dùng. Nhưng đây là vấn đề dịch thuật, khác với sự khải thị của ĐCT trong KT. Không một bản dịch nào hoàn toàn cả nhưng chúng ta vẫn gọi bản dịch cũ của cụ Phan Khôi hay bản dịch mới nhất, dù là bản dịch NIV hay English Standard Version là KT, lời ĐCT. Phải chăng bởi vì ĐTL hà hơi vào người dịch như Ngài đã làm khi dùng những tác giả đầu tiên để viết ra KT? Không. Nhưng bởi vì chúng ta biết rằng nội dung của KT vẫn còn đó và xác thực dù đã được dịch thuật.
Tôi có thể dùng ví dụ thế này. Hôm nay khi nghe một bài nhạc, một bài nói chuyện, xem một cuốn phim, chúng ta có nhiều môi trường khác nhau. Cũ xưa nhất là băng casette hay video tape. Mới hơn là CD rồi DVD, rồi đến Blue-ray. Các thanh niên hiếm khi nào dùng CD hay DVD nhưng hầu hết dùng các dạng digital như MP3 hay AIFF (Apple) hay WAV (Microsoft). Xem trên wikipedia có trên dưới gần 30 dạng (format) cho audio files! Cũng vậy có rất nhiều dạng digital để xem phim như MPEG, MPEG4… Khi dùng phone cũng ta nghe cũng có những thể sóng truyền thông khác nhau, nào là GSM, 3G rồi 4G, LTE… Nhưng tất cả các kỷ thuật này chỉ nhằm để giúp chúng ta có thể nghe lời nói, bài nhạc, xem phim ảnh cách tốt hơn. Có thể casette đã xưa nên tiếng nghe rè rè không rõ bằng CD hay MP3 nhưng chúng ta vẫn có thể nhận ra được tiếng nói của người thân quen. Những kỷ thuật khác nhau là những bản in, bản dịch khác nhau. Còn tiếng nói được thu lại mới chính là lời của ĐCT trong KT.
Chúng ta cũng xác nhận rằng 66 sách KT là khải thị trọn vẹn và cuối cùng của ĐCT qua lời viết về chương trình cứu rỗi của Ngài cho loài người. Đây là một niềm tin và giáo điều vô cùng quan trọng. Chúng ta tin rằng KH là sự khải thị bằng lời viết cuối cùng của ĐCT cho loài người. Tin rằng 66 sách KT là trọn vẹn và cuối cùng về chương trình cứu rỗi và ý chỉ của ĐCT cho đời sống tin kính.
Chính vì lý do này mà chúng ta hoàn toàn phủ nhận kinh Koran hay sách Mạc-môn như một khải thị mới mẻ và cuối cùng của ĐCT cho con người. Cũng vì không tin rằng 66 sách KT là trọn vẹn và cuối cùng nên người theo đạo Mạc-môn mới tin vào sách Mạc-môn của tiên tri Joseph Smith là sự khải thị cuối cùng của ĐCT cho hội thánh.
Câu hỏi là làm sao để chúng ta biết và có thể tin sách đó là sự khải thị của ĐCT và là sự khải thị cuối cùng? Nếu nay mai có ai đó nói rằng họ nhận được sự khải thị đặc biệt của ĐCT để viết về sự khải thị cuối cùng thì quí vị có tin không? Và dựa trên nền tảng nào để chúng ta có thể tin lời tuyên bố đó?
Chúng ta cũng phủ phận những lời tuyên bố của một số giáo sư, mục sư, truyền giảng rằng chính ĐTL của ĐCT đã hà hơi cách đặc biệt và mầu nhiệm cho họ để tuyên bố, giảng dạy những huyền nhiệm mới nhất, đặc biệt nhất không có trong KT.
Chúng ta tin rằng sự khải thị quan trọng và cần thiết của ĐCT về chương trình cứu rỗi đã chấm dứt trong sách KH. Và cả 66 sách KT hoàn tất sự khải thị đó và hoàn toàn đầy đủ dạy dỗ cho người tin Ngài sống đời sống đạo. Chính vì lý do này chúng ta tin rằng phương tiện chính yếu và quan trọng nhất ĐTL dùng để thay đổi đời sống tín đồ không phải là tiếng thầm thì của Ngài với cá nhân, hay phép lạ mầu nhiệm nào đó mà chính là lời KT do chính Ngài hà hơi để viết ra.
SỰ HÀ HƠI CỦA ĐTL VÀO KINH THÁNH
Chúng ta hỏi ĐTL hà hơi vào KT như thế nào? Tiếng Anh là inspire; the Holy Spirit in inspiration or inspires the writers of Scripture. Sách thần học dịch từ này là thần cảm hay Thánh Linh của ĐCT cảm động, cảm xúc tác giả KT để họ viết ra lời của chính Ngài. Vậy khi nói ĐTL hà hơi là nói về sự thần cảm của ĐTL cùng các tác giả KT.
Chúng ta thường nói rằng Mô-se viết 5 sách đầu KT từ STK đến PTLLK, hay Phao-lô viết 13 sách trong TU, hay Lu-ca viết Phúc âm Lu-ca và CV hay sứ đồ Giăng viết phúc âm Giăng, 3 thư Giăng, và KH… Tuy nhiên chúng ta cần thật sự hiểu rằng tác giả thật sự của toàn bộ KT không phải là Mô-se, hay Phao-lô hay Lu-ca hay Giăng mà chính là ĐTL của ĐCT. Chính vì Ngài là tác giả nên chúng ta mới tin rằng KT là lời hằng sống của ĐCT.
Học thuyết hay giáo điều về thần cảm của ĐTL trong KT là một học thuyết vô cùng quan trọng và thiết yếu trong niềm tin Cơ-đốc. Vậy người tin Chúa tin rằng lời KT nói, dạy đồng nghĩa với ĐCT nói, dạy. Tại sao? Bởi vì chính ĐTL của ĐCT mới là tác giả thật sự của toàn bộ 66 sách trong KT, dù Chúa dùng con người để viết ra những lời đó.
Tôi muốn giải thích thêm vài điều đơn giản về sự hà hơi (thần cảm) của ĐTL cùng các tác giả KT để họ viết ra lời ĐCT.
Không phải các tác giả KT là những người siêu phàm được chọn đặc biệt vì tài năng thiên phú của họ. Hay thần cảm không có nghĩa là ĐTL ban cho họ thiên phú để họ viết ra lời trong KT. Thần cảm cũng không có nghĩa là ĐTL đọc cho họ và họ chỉ việc chép ra những lời đã nghe từ ĐTL.
Không phải một số sách, một số tác giả KT được ơn nhiều hơn một số khác. Phải chăng Nhã ca ít giá trị hơn Gióp hay đại tiên tri Ê-sai quan trọng hơn tiểu tiên tri Jonah? Chúng ta xác nhận rõ là cả KT đều được ĐTL soi dẫn, hà hơi và có ít lợi cho người tin Chúa.
Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời. (2 Phi-e-rơ 1:21)
Về sự cứu rỗi đó, các đấng tiên tri đã tìm tòi suy xét, và đã nói tiên tri về ân điển định sẵn cho anh em: nghĩa là tìm cho biết thời kỳ nào và thời kỳ cách nào mà Thánh Linh Đấng Christ ở trong lòng mình đã chỉ cho, là khi làm chứng trước về sự đau đớn của Đấng Christ và về sự vinh hiển sẽ theo sau. (1 Pet 1:10-11)
ĐTL DÙNG KT THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG
KT phải là nền tảng của đời sống tín đồ chứ không phải kiến thức phổ thông, truyền thống hay giáo điều, niềm tin đặc biệt của hệ phái nào đó. Nếu lời dạy phù hợp với lời KT, chúng ta tin và làm theo. Nếu không phải cẩn thận nhận xét. Nếu sai với KT, phải tránh xa.
D. R. Dungan, in his book, HERMENEUTICS, observed: "I knew a man who had a hobby on marriage. He was of the opinion that no man could marry twice without being a polygamist--in heaven (đa thê trên thiên đàng), if not on the earth. His wife might die, but that had nothing to do with it; if he married again he would be guilty of polygamy. You could not talk with him five minutes without having his hobby brought out and made to canter in your presence.
"But his wife died, and in less than a year from that time his theology changed on that point. Almost anything that men want to do, they can find some text of Scripture that will sound like giving it support. And it is exceedingly difficult to make any man see that he has been preaching that which is not true. He has posed before the people on the subject, and is not willing to incur the humiliation of saying, 'I was wrong, and my opponents were right.'" A man’s wishes sometimes blind him to the truth.
Why do men draw such varied conclusions from the Scriptures? I think the answer is found in their approach to Bible study. Some people go to the Bible to discover what God has revealed on a particular subject, while others go to the book in search of proof for what they want to believe.
Vậy phương cách học KT cũng rất quan trọng để hiểu đúng nội dung, lời dạy cho đời sống.
ĐTL dùng lời KT để dạy dỗ và thay đổi người tin Chúa. Khi tôi nói dùng lời KT thì tôi hàm ý qua những cách thức khác nhau như giờ tĩnh nguyện, nhóm học KT chung, mục sư chia xẻ, trường thần học, qua quan hệ, chia xẻ của anh chị em trong Chúa dùng lời KT…
Một số có thể hỏi: chẳng phải lời khuyên dạy qua sách vở, lời nói của người đi trước ảnh hưởng, thậm chí thay đổi đời sống hay sao? Không ai có thể phủ nhận về ảnh hưởng của Khổng Lão hay Phật giáo trong đời sống, phong tục, tập quán của các xứ Á Châu, cả VN. Nhưng sự khác biệt của KT trong đời sống tín đồ là sự thay đổi giống nhất cho tất cả tín đồ ở mọi quốc gia nào trong mọi thời đại.
Lời khuyên dạy của cha mẹ chỉ có giới hạn trong vòng con cái trong gia đình. Rộng hơn nữa là một nhóm người hay xã hội, thậm chí quốc gia. Nhưng lời KT thay đổi đời sống hằng tỉ người trên khắp thế giới các như nhau dù họ có ở những giai đoạn, trình độ khác nhau.
ĐTL có thể dùng nhiều hình thức khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, nhiều người khác nhau để đem lời KT đến với chúng ta và giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa và có thể áp dụng vào đời sống.
Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. (Hê-bơ-rơ 4:12)
