Kinh Thánh & Đức Tin: Quyền Năng Của Lời Chúa
Tuần lễ qua chúng ta tìm hiểu qua về lịch sử KT VN và một bằng chứng về sự trung thực đáng tin tưởng của các bản dịch KT phổ thông, thường dùng hôm nay. Dù là bản tiếng Việt, tiếng Anh hay tiến Pháp thì các bản dịch này đều phải dựa từ các bản cỗ xưa hơn. Qua bằng chứng của sự khám phá từ vùng biển Chết tại các hang động Quram cho thấy sự chính xác và trung thực của việc sao chép lại KT qua thời gian và các thế hệ.
Trong bài chia sẻ hôm nay tôi muốn cùng quí vị suy nghĩ về một câu hỏi quan trọng: KT được xem là lời hằng sống của ĐCT có quyền nằng thay đổi đời sống của mọi người. Quyền năng đó có thật hay không và từ đâu đến? Làm thế nào để chúng ta có thể tin tưởng vào quyền năng của KT?
GIỚI THIỆU VỀ KINH THÁNH
KT gồm 66 sách, chia làm 2 phần gọi là Cựu Ước và Tân Ước. Cựu Ước gồm 39 sách và Tân Ước gồm 27 sách/thư. 66 sách trong KT được viết bởi trên 40 tác giả khác nhau sinh sống trên 3 lục địa khác nhau là Âu Châu, Á Châu và Phi Châu với 3 ngôn ngữ khác nhau Hê-bơ-rơ, A-ra-ma-íc (Aramaic) và Hy Lạp (Greek). Các tác giả thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội và có những nghề nghiệp khác nhau, như Mô-se là người Do thái nhưng lớn lên trong triều đình Ai-cập, là hoàng tử Ai-cập, rồi trong 40 năm làm nghề chăn chiên, sau đó lãnh đạo cả dân sự Do Thái ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập vào vùng đất hứa, Giô-suê là tướng lãnh phụ cận của Mô-se, Đaniên là một thanh niên trẻ tuổi bị bắt làm tù nhân sang xứ Ba-by-lôn rồi trở nên thủ tướng của xứ, Phierơ là một người đánh cá vùng Ga-li-lê, Ma-thi-ơ làm nghề thu thuế, Phao-lô là người Pha-ri-si (thầy tôn giáo) và học giả. Những tác giả này viết các sách KT từ nhiều nơi khác nhau: Mô-sê trong đồng vắng, Phao-lô trong tù ngục, Giăng khi bị đày sang đảo Pát-mô, Đa-vít viết nhiều bài thi thiên trong hang tối, trong sa mạc, nơi cung điện. Và 66 sách KT được viết ra trong thời gian trên 1500 năm.
Dù có rất nhiều sự khác nhau về thành phần tác giả, về thời gian, về nội dung, nhưng điều kỳ diệu là cả 66 sách đều đồng nhất về một chủ đề. Chủ đề đó là về chương trình cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC. Chính ĐCJC đã xác định rõ cả KT viết về Ngài: Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy. (Giăng 5:39); Vì nếu các ngươi tin Môi-se, cũng sẽ tin ta; bởi ấy là về ta mà người đã chép. (5:46); Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. (Lu-ca 24:27); Đoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm (24:44).
Một học giả KT giải thích thế này: KT CU là sự chuẩn bị cho sự chương trình cứu rỗi, 4 sách Phúc Âm là sự thể hiện chương trình cứu rỗi; sách CVCSĐ là sự phát triển về chương trình cứu rỗi; Các thư tín TU là sự giải thích ý nghĩa của về chương trình cứu rỗi; và KH là sự kết thúc của chương trình cứu rỗi. Cả KT có một chủ đề là về chương trình cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC.
Nhiều người hỏi sự khác nhau của thành phần tác giả, viết từ nhiều nơi, qua một thời gian rất dài như vậy có gì quan trọng và đặc biệt? Thử với tôi một trò chơi này. Tìm 10 người trong thành phố làm cùng một nghề, có cùng một trình độ và yêu cầu họ viết về một đề tài quan trọng nào đó như về ý nghĩa cuộc sống. Khi hoàn tất, so sánh nội dung viết của 10 người đó xem có thống nhất hay không. Dĩ nhiên là không.
Nhưng KT được viết ra không phải chỉ bởi 10 người nhưng hơn 40 người. Không phải viết ra trong một thời gian, một thế hệ nhưng trong 1500 năm. Không phải bởi các tác giả cùng một trình độ học vấn, thành phần xã hội, cùng một phong tục, văn hóa, ngôn ngữ nhưng từ nhiều trình độ, thành phần, văn hóa hoàn toàn khác nhau. Vậy đó mà nội dung KT thống nhất với cùng một chủ đề về sự cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC. Chính sự thống nhất kỳ diệu này của KT là một bằng chứng để chúng ta có thể tin rằng chính ĐTL của ĐCT đã hà hơi và cảm động các tác giả trong những thời điểm khác nhau để viết lại lời ĐCT.
Chỉ có KT là một tổng hợp của nhiều sách từ nhiều tác giả khác nhau. KT hồi giáo được viết một mình tiên tri Mô-ha-mết. Sách Mạc-môn (Book of Mormon) được viết một mình bởi tiên tri Joseph Smith. Chúng ta hỏi ai là người làm chứng cho lời họ viết và làm sao để biết được lời của một người viết là lời của ĐCT hay từ ĐCT? Theo một sách bởi thượng tọa Thích Nhất Hạnh, những lời dạy của Phật trong 400 năm đầu tiên chỉ được truyền khẩu. Chỉ mấy trăm năm sau đó (it took another hundred years), một số tu sĩ thuyết phục một tu sĩ nhớ trọn lời dạy nhưng cũng là người kiêu ngạo viết xuống.
Cũng chính vì được viết bởi nhiều tác giả thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau, sinh sống tại nhiều nơi và trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau nên KT bao gồm tất cả những tình cảm, suy nghĩ, nói lên mọi mơ ước, khát vọng, bày tỏ những tham muốn, tội ác của loài người.
KT là sự khải thị của ĐCT cho loài người để hiểu và biết về ý chỉ của Ngài cho đời sống, về chương trình cứu rỗi qua ĐCJC. Qua KT chúng ta không chỉ biết được ý Chúa, hiểu được chương trình và hành động của ĐCT trong thế gian nhưng còn kinh nghiệm được tình yêu của Ngài qua sự hiện thân của ĐCJC.
Tuy nhiên chúng ta không tin một bản in KT hay một bản dịch KT cụ thể nào là lời Chúa. Chúng ta cần phân biệt rõ điều này. Người hồi giáo tin rằng bản in kinh Koran là thiêng liêng vì vậy họ nổi loạn khi ai đó đốt kinh sách; cũng vì vậy mà họ chỉ tin bản bằng tiếng Ả-rập là chính thức. Nhưng người Cơ-đốc tin rằng nội dung KT là lời của ĐCT chứ không phải bản in hay bản dịch.
Dù là bản dịch của học giả Phan Khôi bao nhiêu năm trước đây hay bản diễn ý của MSTS Lê Hoàng Phu, hay bản dịch mới nhất cũng đều mang lời Chúa. Dĩ nhiên có bản dịch trung thực hơn, xác nghĩa và đúng hơn với bản tiếng nguyên thủy và cũng có những bản dịch không nên dùng. Nhưng đây là vấn đề dịch thuật, khác với sự khải thị của ĐCT trong KT. Không một bản dịch nào hoàn toàn cả nhưng chúng ta vẫn gọi bản dịch cũ của cụ Phan Khôi hay bản dịch mới nhất, dù là bản dịch NIV hay English Standard Version là KT, lời ĐCT. Phải chăng bởi vì ĐTL hà hơi vào người dịch như Ngài đã làm khi dùng những tác giả đầu tiên để viết ra KT? Không. Nhưng bởi vì chúng ta biết rằng nội dung của KT vẫn còn đó và xác thực dù đã được dịch thuật.
Tôi có thể dùng ví dụ thế này. Hôm nay khi nghe một bài nhạc, một bài nói chuyện, xem một cuốn phim, chúng ta có nhiều môi trường khác nhau. Cũ xưa nhất là băng casette hay video tape. Mới hơn là CD rồi DVD, rồi đến Blue-ray. Các thanh niên hiếm khi nào dùng CD hay DVD nhưng hầu hết dùng các dạng digital như MP3 hay AIFF (Apple) hay WAV (Microsoft). Xem trên wikipedia có trên dưới gần 30 dạng (format) cho audio files! Cũng vậy có rất nhiều dạng digital để xem phim như MPEG, MPEG4… Khi dùng phone cũng ta nghe cũng có những thể sóng truyền thông khác nhau, nào là GSM, 3G rồi 4G, LTE… Nhưng tất cả các kỷ thuật này chỉ nhằm để giúp chúng ta có thể nghe lời nói, bài nhạc, xem phim ảnh cách tốt hơn. Có thể casette đã xưa nên tiếng nghe rè rè không rõ bằng CD hay MP3 nhưng chúng ta vẫn có thể nhận ra được tiếng nói của người thân quen. Những kỷ thuật khác nhau là những bản in, bản dịch khác nhau. Còn tiếng nói được thu lại mới chính là lời của ĐCT trong KT.
Chúng ta cũng xác nhận rằng 66 sách KT là khải thị trọn vẹn và cuối cùng của ĐCT qua lời viết về chương trình cứu rỗi của Ngài cho loài người. Đây là một niềm tin và giáo điều vô cùng quan trọng. Chúng ta tin rằng KH là sự khải thị bằng lời viết cuối cùng của ĐCT cho loài người. Tin rằng 66 sách KT là trọn vẹn và cuối cùng về chương trình cứu rỗi và ý chỉ của ĐCT cho đời sống tin kính.
Chính vì lý do này mà chúng ta hoàn toàn phủ nhận kinh Koran hay sách Mạc-môn như một khải thị mới mẻ và cuối cùng của ĐCT cho con người. Cũng vì không tin rằng 66 sách KT là trọn vẹn và cuối cùng nên người theo đạo Mạc-môn mới tin vào sách Mạc-môn của tiên tri Joseph Smith là sự khải thị cuối cùng của ĐCT cho hội thánh.
Chúng ta cũng phủ phận những lời tuyên bố của một số giáo sư, mục sư, truyền giảng rằng chính ĐTL của ĐCT đã hà hơi cách đặc biệt và mầu nhiệm cho họ để tuyên bố, giảng dạy những huyền nhiệm mới nhất, đặc biệt nhất không có trong KT.
Chúng ta tin rằng sự khải thị quan trọng và cần thiết của ĐCT về chương trình cứu rỗi đã chấm dứt trong sách KH. Và cả 66 sách KT hoàn tất sự khải thị đó và hoàn toàn đầy đủ dạy dỗ cho người tin Ngài sống đời sống đạo. Chính vì lý do này chúng ta tin rằng phương tiện chính yếu và quan trọng nhất ĐTL dùng để thay đổi đời sống tín đồ không phải là tiếng thầm thì của Ngài với cá nhân, hay phép lạ mầu nhiệm nào đó mà chính là lời KT do chính Ngài hà hơi để viết ra.
ĐỨC THÁNH LINH - QUYỀN NĂNG CỦA LỜI CHÚA
Từ soi dẫn trong câu 1 Ti-mô-thê 3:16 là một từ ghép theopneustos. Theo là ĐCT, God. Pneustos có gốc từ động từ pneo nghĩa là thở hay thổi như gió. Vậy từ ghép này có nghĩa là ĐCT hà hơi hay thở vào. Từ pneo (thở) là động từ; danh từ là pneuma là từ thường được dịch là ĐTL trong KT TU. Vậy khi nói cả KT đều là bởi ĐCT soi dẫn thì cũng có nghĩa là cả KT đều được ĐTL hà hơi vào, thổi hơi vào để có sự sống và quyền năng thay đổi đời sống.
Cũng như khi sáng tạo loài người từ bụi đất, ĐTL của ĐCT hà hơi của chính Ngài vào con người để biến A-đam nên loài sinh linh có sự sống, thì cũng chính ĐTL của ĐCT đã hà hơi vào các tác giả KT và lời họ viết ra để đem lại sự sống và khả năng thay đổi, tái tạo đời sống qua KT.
Chúng ta hỏi ĐTL hà hơi vào KT như thế nào? Tiếng Anh là inspire; the Holy Spirit in inspiration or inspires the writers of Scripture. Sách thần học dịch từ này là thần cảm hay Thánh Linh của ĐCT cảm động, cảm xúc tác giả KT để họ viết ra lời của chính Ngài. Vậy khi nói ĐTL hà hơi là nói về sự thần cảm của ĐTL cùng các tác giả KT.
Chúng ta thường nói rằng Mô-se viết 5 sách đầu KT từ STK đến PTLLK, hay Phao-lô viết 13 sách trong TU, hay Lu-ca viết Phúc âm Lu-ca và CV hay sứ đồ Giăng viết phúc âm Giăng, 3 thư Giăng, và KH… Tuy nhiên chúng ta cần thật sự hiểu rằng tác giả thật sự của toàn bộ KT không phải là Mô-se, hay Phao-lô hay Lu-ca hay Giăng mà chính là ĐTL của ĐCT. Chính vì Ngài là tác giả nên chúng ta mới tin rằng KT là lời hằng sống của ĐCT. Quyền năng của KT đến từ tác giả của KT là ĐTL.
Học thuyết hay giáo điều về thần cảm của ĐTL trong KT là một học thuyết vô cùng quan trọng và thiết yếu trong niềm tin Cơ-đốc. Vậy người tin Chúa tin rằng lời KT nói, dạy đồng nghĩa với ĐCT nói, dạy. Tại sao? Bởi vì chính ĐTL của ĐCT mới là tác giả thật sự của toàn bộ 66 sách trong KT, dù Chúa dùng con người để viết ra những lời đó.
Tôi muốn giải thích thêm vài điều đơn giản về sự hà hơi (thần cảm) của ĐTL cùng các tác giả KT để họ viết ra lời ĐCT.
Không phải các tác giả KT là những người siêu phàm được chọn đặc biệt vì tài năng thiên phú của họ. Hay thần cảm không có nghĩa là ĐTL ban cho họ thiên phú để họ viết ra lời trong KT. Thần cảm cũng không có nghĩa là ĐTL đọc cho họ và họ chỉ việc chép ra những lời đã nghe từ ĐTL.
Không phải một số sách, một số tác giả KT được ơn nhiều hơn một số khác. Phải chăng Nhã ca ít giá trị hơn Gióp hay đại tiên tri Ê-sai quan trọng hơn tiểu tiên tri Jonah? Chúng ta xác nhận rõ là cả KT đều được ĐTL soi dẫn, hà hơi và có ít lợi cho người tin Chúa.
Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời. (2 Phi-e-rơ 1:21)
Vậy quyền năng của lời Chúa đến từ tác giả thật sự là ĐTL. Chính ĐTL là Đấng “hà hơi” hay soi dẫn để tác giả các sách KT viết ra và cũng chính ĐTL dùng lời KT để thay đổi đời sống chúng ta.
KIẾN THỨC KHÔNG ĐEM ĐẾN SỰ BÌNH AN
Chúng ta đang sống trong một giai đoạn lịch sử mà kiến thức loài người và sự phát triển về khoa học, kỹ thuật, y khoa tiến bộ nhanh chóng chưa từng thấy. Tác giả Buckminster Fuller nhận xét kiến thức loài người cho đến 1900 tăng gấp hai lần mỗi thế kỷ. Đến cuối đệ nhị thế chiến (1945), gấp hai lần mỗi 25 năm. Ngày nay mỗi hai năm, trung bình mỗi 13 tháng. Theo hãng IBM thì trong tương lai gần đây sẽ gấp hai lần mỗi 12 tiếng. Số lượng bằng phát minh (sáng chế) được chấp thuận tại HK năm 1960 khoảng 45,000. Đến năm 2000, con số này gần 160,000 tức gấp 4 lần trong 40 năm! Nói tóm lại chưa bao giờ trong lịch sử loài người mà kiến thức tích lũy, sự khám phá, phát minh lại tăng vụt đến như vậy. Và hầu hết các khoa học gia, các giáo sư đều tin chắc rằng sự phát triển này sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn.
Vì kiến thức khoa học, kỹ thuật, y học đem lại những thay đổi tích cực và tiện nghi cho đời sống vật chất nên được rất nhiều người xem là cứu cánh của nhân loại. Kiến thức, khoa học có quyền năng hơn cả ĐCT vô hình!
Tuy nhiên new research by Professors Mark Harrison from the University of Warwick and Nikolaus Wolf from Humboldt University has revealed that between 1870 and 2001, the frequency of wars between states increased steadily by 2% a year on average… The frequency of wars increased by 17% per year in the period of the First and Second World Wars, and by 31% per year during the Cold War. In the 1990s, the frequency of wars between states rose by 36% per year.
Và theo sự nghiên cứu mới nhất của Institute for Economics and Peace (Viện nghiên cứu kinh tế và hoà bình) thì trong số 162 quốc gia theo dõi (99%) thì chỉ có 11 là không tham gia vào một cuộc chiến tranh, xung đột nào. Tệ hơn là mỗi năm từ 2007 đến nay thế giới hiện tại ít có hòa bình hơn! Và chiến tranh với bọn hồi giáo cực đoan sẽ vẫn còn tiếp tục và sự kết thúc vẫn còn rất xa.
Khi kiến thức tăng bội phần hơn thì chiến tranh cũng tăng bội phần hơn. Ai có thể nói kiến thức thay đổi con người theo chiều hướng tốt hơn? Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận kiến thức nhưng để ý thức về giới hạn của kiến thức con người.
SỰ SUNG TÚC KHÔNG PHẢI LÀ THỂ HIỆN CỦA QUYỀN NĂNG KINH THÁNH
Có người dạy rằng quyền năng của KT bày tỏ, thể hiện qua đời sống sung túc, ấm no cho những người làm theo lời Chúa dạy. Đây là những lời dạy sai lầm vô cùng nguy hiểm.
Trong hai thế kỷ đầu tiên từ sau khi ĐCJC chịu chết trên thập tự giá và sống lại thì đạo Chúa chịu rất nhiều bắt bớ, tù đày, giết hại. Đến nỗi tác giả sách Hê-bơ-rơ viết: Có kẻ khác chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu xiềng xích, lao tù nữa. 37 Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi, 38 thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi trong hang, trong những hầm dưới đất. (Hê-bơ-rơ 11:36-38)
Vậy đó mà niềm tin vào ĐCJC trong vòng tín đồ ngày càng mạnh mẽ hơn, số người tin Chúa ngày càng đông hơn dù trãi qua bao nhiêu gian khổ, mất mát, khốn cùng trong cuộc sống. Tín đồ không dùng gươm giáo, chiến tranh, nỗi loạn để chinh phục, chứng minh nhưng qua tình yêu thương, qua đời sống tin kính đạo Chúa phát triển. Điều đó đến từ đâu? Từ lời dạy của ĐCT trong KT.
Quyền năng của lời Chúa không phải là quyền năng đem đến một đời sống sung túc, giàu có như nhiều mục sư trên tv giảng dạy. Nhưng là quyền năng của ĐTL qua KT giúp con người tội lỗi ý thức về sự hiện hữu của ĐCT, Đấng Sáng Tạo mọi loài, giúp họ ý thức về tội lỗi và nhu cầu cần được cứu rỗi từ ĐCJC. Quyền năng của lời Chúa là quyền năng của ĐTL đổi mới đời sống chúng ta. PL viết cho Ti-mô-thê: Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, 17 hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành. (2 Ti-mô-thê 3:16-17). Chính bởi được ĐCT qua ĐTL soi dẫn nên KT mới có quyền năng thay đổi, tái tạo đời sống.
Khi đến tiệm sách, tìm trên các nơi bán sách mạng tuyến internet chúng ta có thể tìm được hằng ngàn quyển sách viết nhằm mục đích giúp một người thay đổi. Sau đây là tựa của một vài quyển sách giúp thay đổi: 1) Money Master the game: 7 simple steps to financial freedom (Tiền – Làm chủ cuộc chơi: 7 bước đơn giản đưa đến tự do về tài chánh); 2) The 48 laws of power (48 luật của sức mạnh) - Luật 2: never put too much trust in friends, learn how to use enemies; luật 7: get others to do the work for you, but always take the credit…); 3) Less doing, more doing – make everything in life easier dạy làm thể nào để làm ít nhưng có năng suất, kết quả nhiều; 4) The four agreements tiết lộ bí mật về sự khôn ngoan Toltec để nhanh chóng thay đổi đời sống chúng ta được kinh nghiệm mới của sự tự do, hạnh phúc thật sự, và tình yêu.
Nếu ai đó dạy rằng đọc KT đi, bạn sẽ có được sự hiểu biết, thông sáng lạ lùng, sẽ có sự khôn ngoan không ai sánh bằng, sẽ giải quyết được mọi nan đề trong đời sống, thì người đó đã thật sự hiểu sai lầm, rất sai lầm, về quyền năng của KT. KT không phải là một quyển sách cố vấn nhằm giúp chúng ta giải quyết mọi nan đề trong cuộc sống, mặc dù KT có câu trả lời cho mọi câu hỏi trong đời sống.
Mục đích của KT nhằm để giúp loài người biết và tin vào ĐCT và chương trình cứu rỗi tội lỗi loài người qua ĐCJC. Tôi muốn nhấn mạnh một điều rất quan trọng: sự thay đổi đời sống khi một tín đồ đọc, học, suy gẫm, làm theo lời Chúa không phải là mục đích cuối cùng nhưng là một kết quả của người tin Chúa. KT không viết ra để giúp cho con người thay đổi đời sống, nhưng để giúp cho con người biết, hiểu và tin vào ĐCT qua sự cứu rỗi của ĐCJC.
QUYỀN NĂNG THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG
KT phải là nền tảng của đời sống tín đồ chứ không phải kiến thức phổ thông, truyền thống hay giáo điều, niềm tin đặc biệt của hệ phái nào đó. Nếu lời dạy phù hợp với lời KT, chúng ta tin và làm theo. Nếu không phải cẩn thận nhận xét. Nếu sai với KT, phải tránh xa.
D. R. Dungan, in his book, HERMENEUTICS, observed: "I knew a man who had a hobby on marriage. He was of the opinion that no man could marry twice without being a polygamist--in heaven (đa thê trên thiên đàng), if not on the earth. His wife might die, but that had nothing to do with it; if he married again he would be guilty of polygamy. You could not talk with him five minutes without having his hobby brought out and made to canter in your presence.
"But his wife died, and in less than a year from that time his theology changed on that point. Almost anything that men want to do, they can find some text of Scripture that will sound like giving it support. And it is exceedingly difficult to make any man see that he has been preaching that which is not true. He has posed before the people on the subject, and is not willing to incur the humiliation of saying, 'I was wrong, and my opponents were right.'" A man’s wishes sometimes blind him to the truth.
Why do men draw such varied conclusions from the Scriptures? I think the answer is found in their approach to Bible study. Some people go to the Bible to discover what God has revealed on a particular subject, while others go to the book in search of proof for what they want to believe.
Vậy phương cách học KT cũng rất quan trọng để hiểu đúng nội dung, lời dạy cho đời sống.
ĐTL dùng lời KT để dạy dỗ và thay đổi người tin Chúa. Khi tôi nói dùng lời KT thì tôi hàm ý qua những cách thức khác nhau như giờ tĩnh nguyện, nhóm học KT chung, mục sư chia xẻ, trường thần học, qua quan hệ, chia xẻ của anh chị em trong Chúa dùng lời KT…
Một số có thể hỏi: chẳng phải lời khuyên dạy qua sách vở, lời nói của người đi trước ảnh hưởng, thậm chí thay đổi đời sống hay sao? Không ai có thể phủ nhận về ảnh hưởng của Khổng Lão hay Phật giáo trong đời sống, phong tục, tập quán của các xứ Á Châu, cả VN. Nhưng sự khác biệt của KT trong đời sống tín đồ là sự thay đổi giống nhất cho tất cả tín đồ ở mọi quốc gia nào trong mọi thời đại.
Lời khuyên dạy của cha mẹ chỉ có giới hạn trong vòng con cái trong gia đình. Rộng hơn nữa là một nhóm người hay xã hội, thậm chí quốc gia. Nhưng lời KT thay đổi đời sống hằng tỉ người trên khắp thế giới các như nhau dù họ có ở những giai đoạn, trình độ khác nhau.
ĐTL có thể dùng nhiều hình thức khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, nhiều người khác nhau để đem lời KT đến với chúng ta và giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa và có thể áp dụng vào đời sống.
Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. (Hê-bơ-rơ 4:12)
