Khi Vào Nhà Chúa – Dâng Hiến
Truyền Đạo 5:1-7 gồm những lời dạy cụ thể và thực tế về thái độ khi chúng ta vào nhà Chúa. Trong đoạn Kinh Thánh này của quyển hồi ký về cuộc hành trình đi tìm ý nghĩ, mục đích cho cuộc sống dưới ánh mặt trời, vua Sô-lô-môn ý thức về một khía cạnh quan trọng trong cuộc sống: sự thờ phượng ĐCT. Bởi vì đây là một khao khát căn bản, tự nhiên trong tâm hồn mỗi chúng ta.
Từ đầu quyển hồi ký, đoạn một cho đến đoạn bốn, Sô-lô-môn dùng danh xưng ngôi thứ nhất, "tôi, ta" để ghi nhận lại những nhận xét, kinh nghiệm của chính ông về cuộc sống dưới ánh mặt trời này. "Ta thấy, ta xem xét, ta biết, ta lại nói, ta mua, ta cất nhà, ta lập vườn, ta đào hồ, ta lo sắm, ta thâu chứa, ta trở nên". Không một lần dù chỉ một lần trong bốn đoạn đầu của Truyền Đạo Sô-lô-môn lại dùng ngôi thứ hai "ngươi, người". Tuy nhiên chỉ trong vài câu ngắn ngủi của đoạn 5 này, vua Sô-lô-môn lại dùng đến 10 lần từ gọi "ngươi" hay "người". Mục đích là để dạy dỗ một cách trực tiếp cho người đọc về thái độ, hành động, lời nói, suy nghĩ của người khi vào nhà Chúa. Đọc TĐ 5:1-5 - BDM
Ba điều Sô-lô-môn cảnh giác chúng ta cần giữ khi vào nhà Chúa: 1) Giữ tâm trí, tấm lòng; 2) Giữ lời nói,; 3) Giữ lời hứa.
Trong đoạn KT này S. dùng 3 từ cụ thể khi nhắc người đến nhà Chúa phải giữ: chân đi, lời nói, lời hứa. Tại sao S. lại dùng 3 hình ảnh này?
1) Bởi vì đây là những biểu hiện cụ thể nhất, rõ nhất của những suy nghĩ trong lòng. Chân đi, lời nói, lời hứa là sự bày tỏ của suy nghĩ, cảm giác bên trong như chân đi là thể hiện của hành động bên ngoài. Như chúng ta thấy chân đi thì biết được ý muốn, khi nghe lời người nói, lời người hứa chúng ta biết được, hiểu được lòng dạ bên trong (dù chỉ một phần).
2) Không ai, ngoại trừ ĐCT, hiểu hết được, thật sự biết rõ được tấm lòng, tâm trí của người qua 3 điều này. Bởi vì 3 điều này chỉ là thể hiện của những gì trong lòng dạ, suy nghĩ.
3) Đây là cách thức, phương tiện để gây ấn tượng hay lừa dối người. Người thường lừa dối người là qua việc nghĩ một đàng làm một nẽo. Chân đi với mình nhưng lòng lại đi đường khác; miệng nói lời ngọt ngào, nhưng ai biết lòng dạ thế nào; hứa nguyện những điều đáng nể trọng nhưng ai biết rõ động cơ của lời hứa đó là gì? Chúng ta thường muốn cho người khác kính nể mình vì đạo đức bề ngoài khi vào nhà Chúa, qua cung cách, qua lời cầu nguyện, lời nói bên ngoài, qua lời hứa nguyện.
DÂNG HIẾN THẾ NÀO?
Trước khi bàn thêm về việc giữ lời hứa, tôi muốn cùng qv đọc về việc dâng của lễ khi vào nhà Chúa như S. viết: Hãy cẩn trọng khi vào nhà Đức Chúa Trời. Hãy đến gần cung kính lắng nghe hơn là dâng sinh tế như kẻ ngu muội, là kẻ không nhận biết lầm lỗi mình đã phạm (TĐ 5:1-BM). Lời của S. không dạy là không cần dâng của lễ, nhưng về động cơ, cách thức dâng lễ cho ĐCT. Ba điều về dâng hiến:
Mọi tín đồ đều phải dâng hiến khi đến nhà Chúa.
Suy nghĩ, thái độ khi dâng hiến
Điều kiện trước khi dâng hiến
Mọi tín đồ đều phải dâng hiến khi đến nhà Chúa
Dâng hiến thể hiện ý thức rằng ĐCT là chủ của mọi điều mình có, là Đấng ban cho mọi sự trong đời sống; bày tỏ lòng biết ơn về mọi điều Chúa ban cho, và thể hiện đức tin vào sự quan phòng của Chúa. “Nếu chẳng từ trời ban cho, không ai nhận được gì. (Giăng 3:27-B2011) Hỡi anh em yêu dấu, chớ tự dối mình: 17 mọi ân điển tốt lành cùng sự ban cho trọn vẹn đều đến từ nơi cao và bởi Cha sáng láng mà xuống, trong Ngài chẳng có một sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự biến cải nào. (Gia-cơ 1:16-17)
KTCU dạy rõ rằng 1/10 tài của thuộc về ĐCT: Tất cả một phần mười thổ sản, dù là ngũ cốc do đồng ruộng sinh sản hay hoa quả của các loại cây trái đều thuộc về CHÚA; các phần mười đều thánh cho CHÚA… 32 Tất cả phần mười của bầy bò hay bầy chiên, tức là tất cả các con thứ mười do người chăn dùng gậy đếm, đều là thánh cho CHÚA. (Lê-vi-ký 27:30, 32 – BDM)
KTCU cũng dạy rằng không ai khi đến đền thờ ĐCT lại đi tay không cả. Dù giàu hay nghèo, tất cả đều phải biệt riêng ra của lễ tốt nhất để dâng cho Chúa. Tại sao? Bởi vì việc dâng của lễ là thể hiện của lòng biết ơn Chúa về những điều Ngài ban cho. Dâng hiến cũng thể hiện đức tin vào Đấng ban cho. Không phải khi dư mới dâng, nhưng mọi người trong mọi hoàn cảnh đều cần phải dâng hiến.
Suy Nghĩ, Thái Độ Khi Dâng Hiến
Không phải xem như điều miễn cưởng, bắt buộc, như việc phải làm nhưng dâng hiến cách vui vẻ và rời rộng. Đừng phàn nàn, cũng đừng khoe khoan, đánh trống thổi kèn cho người khác biết
Vậy dâng hiến là điều nên làm, cần làm khi vào nhà Chúa, chứ không vì ai buộc phải làm, hay không dâng thì bị người này người nọ chê cười. Không phải vì ĐCT cần tiền của, lễ vật của chúng ta nhưng bởi vì dâng hiến thể hiện ý thức, niềm tin rằng mọi điều chúng ta có là từ ĐCT ban cho, và thể hiện lòng biết ơn. KT dạy trong không ai đến đền thờ ĐCT với tay không. Có khác chăng là không phải với sự bắt buộc nhưng với lòng tự nguyện cách vui vẻ. Như thế món quà lạc quyên sẽ sẵn sàng do từ tâm chứ không phải bị ép buộc. 6 Anh chị em nên nhớ điều này, hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều. 7 Mỗi người nên quyên giúp tùy lòng đã định, không phải vì miễn cưỡng hay bị ép buộc. Vì Đức Chúa Trời yêu người hiến tặng một cách vui lòng. (2 Cô-rinh-tô 9:5-7-BDM)
Qv nhớ câu chuyện ĐCJC nói với các môn đồ về người đàn bà góa bụa dâng vài xu Đức Giê-su ngồi đối diện rương đựng tiền dâng, Ngài quan sát cách những người đến bỏ tiền vào rương. Lắm người giàu có bỏ rất nhiều tiền, 42 cũng có một bà góa nghèo đến dâng hai đồng tiền nhỏ, trị giá một xu. "Thật Ta nói cùng các con, bà góa nghèo nầy đã bỏ vào thùng nhiều hơn hết thảy những người khác. 44 Vì mọi người lấy phần dư để đem dâng, còn bà góa nghèo nầy đã dâng tất cả những gì mình có, là tất cả những gì bà ấy có để sống."
Sách CV viết về HT đầu tiên khi các tín đồ tại một HT nghe tin sẽ có một nạn đói lớn xảy ra. Trong thời gian ấy, có vài nhà tiên tri từ Giê-ru-sa-lem đến An-ti-ốt. 28Một người tên A-ga-bút đứng dậy và cậy quyền năng Thánh Linh báo trước rằng sẽ có nạn đói lớn xảy ra khắp nơi có cư dân (Nạn đói này xảy ra dưới triều Cơ-lốt). 29 Các môn đệ Chúa quyết định mỗi người sẽ tùy khả năng gửi quà cứu trợ các anh em tín hữu tại Giu-đê. 30 Họ thực thi công cuộc cứu tế, nhờ Ba-na-ba và Sau-lơ chuyển giao tặng phẩm cho các trưởng lão.
PL cũng viết về sự dâng hiến rời rộng, hy sinh của các tín đồ HT xứ Ma-xê-đoan: Hỡi anh em, chúng tôi muốn anh em biết ơn Đức Chúa Trời đã làm cho các Hội thánh ở xứ Ma-xê-đoan: 2 đang khi họ chịu nhiều hoạn nạn thử thách, thì lòng quá vui mừng, và cơn rất nghèo khó của họ đã rải rộng ra sự dư dật của lòng rộng rãi mình. 3 Vì tôi làm chứng cho họ rằng họ đã tự ý quyên tiền theo sức mình, hoặc cũng quá sức nữa, 4 và nài xin chúng tôi làm ơn cho họ có phần vào sự giùm giúp các thánh đồ. (2 Cor 8:1-4)
Cũng đừng phô trương, khoe khoang, so sánh về sự dâng hiến của mình với người khác bởi vì khi dâng là dâng cho Chúa: Vì thế, khi con làm việc từ thiện, đừng thổi kèn trước mặt thiên hạ như phường đạo đức giả thường làm trong hội đường và ngoài phố để được người ta khen ngợi. Thật, Ta bảo các con, họ đã nhận đủ phần thưởng của mình rồi. 3 Nhưng khi con làm việc từ thiện, đừng cho tay trái biết tay phải làm gì, để việc từ thiện của con được giữ kín; 4 và Cha con là Đấng thấy trong nơi kín đáo ấy, sẽ thưởng cho con. (Ma-thi-ơ 6:2-3 – BDM) Chữ từ thiện đây nói lên việc làm và những điều dâng hiến.
PL khi gặp các trưởng lão HT Ê-phê-sô lần cuối cùng thì nhắc lại lời của ĐCJC cho họ: Ban cho có phước hơn nhận lãnh (CV 20:35)
Điều Kiện Trước Khi Dâng Hiến
S. dạy một điều kiện quan trọng trước khi dâng lễ vật. Ông viết: Hãy đến gần cung kính lắng nghe hơn là dâng sinh tế như kẻ ngu muội, là kẻ không nhận biết lầm lỗi mình đã phạm. Kẻ ngu muội là kẻ gì? Là người không nhận biết lầm lỗi mình đã phạm. Có thể không biết điều họ làm là tội lỗi; cũng có thể không nghĩ, không tin điều họ làm là tội lỗi. Có thể đây là người tự nghĩ mình công chính trước Chúa và trước anh chị em trong HT.
Tác giả của TT 51 là vua Đa-vít. Vua viết bài TT này sau khi phạm tội cùng Bát-sê-ba, giết chồng bà, rồi được tiên tri Na-than chỉ rõ tội ác tày trời của vua. Khởi đầu bài TT, Đa-vít xưng nhận tội và xin Chúa tha thứ: 3 Vì tôi nhận biết các vi phạm tôi, Tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi (TT 51:3-BM). Cuối bài ông viết: Vì Chúa không ưa thích của lễ, bằng vậy, tôi chắc đã dâng; Của lễ thiêu cũng không đẹp lòng Chúa: 17 Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu. (TT 51:16-17).
Đa-vít chỉ có thể dâng của lễ cho ĐCT sau khi ông ý thức và thú nhận tội của mình. Nhưng S. viết kẻ ngu muội, là kẻ không nhận biết lầm lỗi mình đã phạm, nghĩ rằng đến nhà Chúa, dâng của lễ là đủ!
Hầu hết qv đều biết câu chuyện ngụ ngôn ĐCJC kể trong Lu-ca 18:10-về 2 người đến đền thờ để thờ phượng: Đức Giê-su kể ngụ ngôn này về những kẻ tự cho mình là công chính rồi cậy mình mà khinh dể người khác: 10 "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người Pha-ri-si và một người thu thuế. 11 Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện như vầy: "Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài vì tôi đây không phải như bọn người phàm, tham ô, bất lương, gian dâm, hoặc như tên thu thuế này. 12 Tôi kiêng ăn mỗi tuần lễ hai lần. Tôi dâng phần mười tất cả các lợi tức. 13 Nhưng người thu thuế đứng đàng xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà thưa: "Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót con là kẻ tội lỗi! 14 Ta bảo các con, người này về nhà được kể là công chính chứ không phải người kia. Vì ai tự tôn cao sẽ bị hạ xuống, còn ai tự hạ mình xuống sẽ được tôn cao." (Lu-ca 18:10-14 – BDM)
Kẻ ngu muội S. viết cũng chính là kẻ tự cho mình là công chính rồi cậy mình mà khinh dể người khác. Vô ích, vô nghĩ, vô lý khi đến nhà Chúa, khi dâng của lễ, dâng tiền bạc, công sức, thời gian cho Chúa khi chúng ta cũng chỉ như kẻ ngu muội, như người Pha-ri-si: không nhận biết lầm lỗi mình đã phạm, tự cho mình là công chính rồi cậy mình mà khinh dể người khác.
ĐCJC dạy Ngài đến thế gian cho những người có bệnh, chứ không cho những người không bệnh hay đã được lành bệnh. Tức cho những người có tội, còn đang tội. Ai tự nói mình vô tội, không còn phạm tội? Không ai cả. Một người mắc bệnh nặng phải vào bệnh viện, gặp bác sĩ để được chửa bệnh. Nhưng khi vào lại so sánh bệnh mình với bệnh người nằm chung phòng rồi tự hào, khinh dể người bệnh khác.
Qv nghĩ thế nào? Vậy đó mà tín đồ HT thường so sánh tội tôi với tội người. PL viết: Vì chúng tôi không muốn xếp hạng hoặc sánh mình với những người tự đắc. Nhưng họ tự lấy mình đo mình và lấy mình so sánh với nhau thì rõ là thiếu hiểu biết... Vì ai tự hào hãy tự hào trong Chúa. 18 Vì không phải ai tự hào thì được nhìn nhận là có giá trị nhưng chỉ người nào được Chúa khen. (2 Cô 10:12, 17-18 – BDM)
S. dạy trước khi dâng của lễ, phải tự xét mình, đừng ngu muội mà nghĩ mình không phạm tội lỗi. ĐCJC còn dạy thêm một điều kiện vô cùng quan trọng trước khi đến nhà Chúa và dâng của lễ: Cho nên khi con dâng lễ vật trên bàn thờ mà nhớ lại rằng một anh em con có điều gì bất bình cùng con, 24 hãy để lễ vật ở trước bàn thờ, đi giải hòa cùng anh em mình trước đã, rồi hãy trở lại dâng lễ vật. (Matt 5:23-24 – BDM) Có nghĩa là trước khi dâng lễ, phải cố gắng mà giải hòa với anh chị em mình. Có nghĩa là dâng hiến không phải chỉ về quan hệ của người tin Chúa với ĐCT, nhưng còn về quan hệ giữa người tin Chúa với nhau.
Tại sao? Chúng ta thường cầu nguyện cho phần dâng hiến: Xin Chúa thánh hóa số tiền dâng này để cho công việc nhà Chúa. Công việc nhà Chúa là gì? 4T: thờ phượng ĐCT, truyền giảng TL, thông công trong Chúa, trang bị tín đồ. Tôi hỏi qv: làm sao HT có thể làm công việc nhà Chúa khi tín đồ dâng tiền của nhưng lại bất hòa, không tha thứ cho nhau? Ai có thể tin Chúa khi qv mời khách đến HT và quan xát rằng nội bộ không ổn, tín đồ bất hòa; ai tin vào sự tha thứ tội của ĐCJC khi đến HT và thấy tín đồ buồn giận, chấp nhất vì việc này việc nọ, và không tha thứ nhau.
Chúa chỉ thánh hóa số tiền dâng khi những người trong HT Chúa làm theo lời Chúa dạy: nhường nhịn nhau, tha thứ nhau, hòa giải với nhau. Sách CN viết: Thà có ít của mà kính sợ Đức Giê-hô-va, Còn hơn là tài sản nhiều mà bối rối cặp theo. 17 Thà một món rau mà thương yêu nhau, Còn hơn ăn bò mập béo với sự ganh ghét cặp theo. (CN 15:16-17)
Mau Lên Án, Không Tha Thứ Là Làm Theo Mưu Kế Ma Quỉ
Tôi không biết qv có biết từ Sa-tan có nghĩa gì không? Có nghĩa là kẻ đối nghịch (adversary), kẻ chống cự (one who resists). Nó đối nghịch và chống cự ai? ĐCT và những điều thuộc về ĐCT, như HT, như con cái Chúa, như những điều Chúa dạy. Chúa dạy yêu thương, S. muốn thù ghét. Chúa dạy tha thứ, S. muốn trả thù. Chúa dạy tìm kiếm trước hết nước ĐCT, S. muốn chỉ nghĩ đến, chú tâm đến đời này. KT viết về Sa. là kẻ buộc tội, cáo tội, lên án chúng ta với ĐCT.
PL cảnh giác tín đồ HT Cô-rinh-tô về mưu kế của S.: Kẻ ấy đã bị đa số anh chị em trừng phạt, như thế đủ rồi. 7 Vậy, anh chị em nên tha thứ và an ủi kẻo người ấy bị sự buồn rầu quá lớn quật ngã. 8 Nên tôi xin anh chị em hãy xác nhận tình yêu thương đối với người ấy. 9Vì lý do này tôi viết cho anh chị em để thử xem anh chị em có vâng lời trong mọi việc không. 10 Nhưng anh chị em tha thứ ai điều gì, tôi cũng tha thứ và khi tôi đã tha, nếu có điều gì để tha, thì tôi vì anh chị em mà tha trước mặt Chúa Cứu Thế; 11 để chúng ta không bị Sa-tan lợi dụng vì chúng ta không lạ gì mưu chước của nó. (2 C. 2:6-11BM)
Có một tín đồ trong HT gây trở ngại, khó khăn làm cho PL và các tín đồ HT dù buồn lòng nhưng phải kỷ luật người đó. Nhưng rồi PL căn dặn tín đồ HT, sau khi người đó ăn năn, thì phải tha thứ và an ủi. Và trong câu 10-11 HT cần tha thứ để chúng ta không bị Sa-tan lợi dụng vì chúng ta không lạ gì mưu chước của nó. Có nghĩa là ma quỉ muốn tín đồ HT không tha thứ cho người phạm tội nay ăn năn.
CHÚA cho tôi thấy thượng tế Giô-suê đứng chầu trước mặt thiên sứ của CHÚA, và Sa-tan đứng bên phải ông để buộc tội ông. 2 CHÚA bảo Sa-tan: "Hỡi Sa-tan, cầu xin CHÚA khiển trách ngươi! CHÚA là Đấng chọn thành Giê-ru-sa-lem sẽ khiển trách ngươi! Người này phải chăng là que củi đang cháy, được kéo ra khỏi lửa?" 3 Giô-suê mặc quần áo bẩn thỉu, đứng chầu trước mặt thiên sứ (Xa-cha-ri 3:1-3 BM)
Trong khải tượng này tiên tri Xa-cha-ri thấy 3 nhân vật như trong một tòa án: thầy tế lễ cả Giô-suê (Giê-hô-sua theo bản cũ) là kẻ bị cáo (bị buộc tội), thiên sứ là người bào chửa như luật sư bênh vực cho kẻ bị cáo, và Sa-tan là kẻ cáo tội. Một số nhà giải kinh thánh thì cho rằng thiên sứ ĐGHV chính là ĐCJC trước khi Ngài hiện thân làm người, là Ngôi Hai ĐCT.
Trong tòa án này, thầy tế lễ G. đứng trước thiên sứ mặc áo dơ bẩn (chứ không phải quần áo như BDM) còn Sa-tan thì đứng bên phải G. để buộc tội ông. Trước hết thầy tế lễ là người đại diện cho dân sự Y-sơ-ra-ên, tức là dân tuyển, trước ĐCT. Vậy hình ảnh G. trước Chúa là tượng trưng cho hình ảnh của tất cả dân sự đứng trước Chúa, tôi và qv. G. chính là qv. Chính qv và tôi đứng trước ĐCT mặc áo bẩn thỉu.
Cảm tạ Chúa là khi ma quỉ hay lương tâm lên án, buộc tội thì người tin Chúa có ĐCJC như một Luật sư cao cả, một Đấng bào chửa, bênh vực thay: CHÚA bảo Sa-tan: "Hỡi Sa-tan, cầu xin CHÚA khiển trách ngươi! CHÚA là Đấng chọn thành Giê-ru-sa-lem sẽ khiển trách ngươi! Người này phải chăng là que củi đang cháy, được kéo ra khỏi lửa? (3:2).
Tôi lại nghe trên trời có tiếng lớn rằng: Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, và nước Đức Chúa Trời chúng ta đã đến cùng quyền phép của Đấng Christ Ngài nữa; vì kẻ kiện cáo anh em chúng ta, kẻ ngày đêm kiện cáo chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, nay đã bị quăng xuống rồi. (KH 12:10) Sa. kiện cáo người tin Chúa ngày đêm không ngừng nghỉ. Ai lên án, kiện cáo, buộc tội anh chị em mình thường xuyên khi đến nhà Chúa là người đã làm cho mưu kế ma quỉ.
Khoảng 9 năm trước đây một quyển sách được ấn hành có tựa là In the land of believers – An outsider’s extraordinary journey into the heart of the evangelical church (Trong đất của những người tin Chúa – Một cuộc hành trình bất thường vào trung tâm của hội thánh người tin lành). Tác giả là một phụ nữ tên Gina Welch. Cô gốc người Do Thái nhưng vô thần, lớn lên tại thành phố Berkeley, CA, tốt nghiệp đại học Yale. Ý nghĩ của cô về các người tin Chúa và các hội thánh rất tiêu cực. Cô quyết định tham gia cách giả hình vào một hội thánh lớn, bảo thủ, truyền thống tại Lynchburg, VA để tìm hiểu xem người tin Chúa và hội thánh “đạo đức giả” hay “mau lên án, chỉ trích” thế nào.
Sau 2 năm giả vờ tin Chúa, nhận lễ báp-tem, học lớp truyền giáo, tham gia vào một cuộc truyền giáo tại Alaska, cô biến mất để viết quyển sách về cảm nghĩ, nhận xét, đánh giá về người tin Chúa và hội thánh. Cô vẫn không tin Chúa, nhưng suy nghĩ, nhận xét và tình cảm của cô thay đổi rất nhiều khi nghĩ về người tin Chúa và hội thánh ĐCT. Một đoạn trong sách viết về cảm nghĩ của cô sau khi bài giảng về TT 139 Tình yêu thương của ĐCT, tình yêu thương trong bài TT, tình yêu thương trong bài hát Chúa yêu em – đó là một vòng tình yêu, tình yêu thương không có sự khởi đầu và kết thúc, tình yêu thương vừa êm đềm và trọn vẹn, không hề do dự, đổi thay dù khi biết rõ mọi điều thật về con người bạn. Ai lại không muốn tình yêu thương đó? Dĩ nhiên tôi cũng muốn, nhất là khoảnh khắc đó, khi biết rằng tất cả những bí mật trong tim tôi sẽ bị phơi bày. “God-love, the love in the psalm, the love in Jesus loves you—that was Mobius strip love, love with no beginning or end, love that was both calm and complete, unflinching in the face of anything you could reveal about yourself. Who wouldn’t want that? I certainly did, especially in that moment—knowing the secrets in my own heart, knowing that soon they’d be revealed.”
Một đoạn khác cô viết về sự thông công trong các nhóm hội thánh: Điều mà tôi ghen tị nhất về người tin Chúa không phải là những điều về Chúa, nhưng là một cộng đồng nhóm lại hàng tuần, một nơi nương tựa cho những người có cùng một đức tin, một nơi an toàn để có thể bộc lộ cách chân thành về những đấu tranh trong đời sống, nơi nhắc nhở về kim chỉ nam đạo đức. Có một nơi để bảo vệ khỏi sự cô đơn, để cảm nhận rằng cũng có nhiều người khác như mình. “what I envied most about Christians was not the God thing—it was having a community gathering each week, a touchstone for people who share values, a safe place to be frank about your life struggles, a place to be reminded of your moral compass. Having a place to guard against loneliness, to feel there are others like you”
Lý do gì qv đến nhà Chúa? HT Chúa tại đây có phải là nơi bày tỏ tình yêu thương như tác giả viết: Tình yêu thương của ĐCT, tình yêu thương trong bài TT, tình yêu thương trong bài hát Chúa yêu em – đó là một vòng tình yêu, tình yêu thương không có sự khởi đầu và kết thúc, tình yêu thương vừa êm đềm và trọn vẹn, không hề do dự, đổi thay dù khi biết rõ mọi điều thật về con người bạn. Ai lại không muốn tình yêu thương đó? HT Chúa tại đây có phải là nơi có tình thông công chân thành, một nơi nương tựa cho những người có cùng một đức tin, một nơi an toàn để có thể bộc lộ cách chân thành về những đấu tranh trong đời sống, nơi nhắc nhở về kim chỉ nam đạo đức. Có một nơi để bảo vệ khỏi sự cô đơn, để cảm nhận rằng cũng có nhiều người khác như mình? Ngay cả người không tin Chúa cũng mong ước được đến một nơi như vậy.
Giữ Lời Hứa
Giữ tâm trí, giữ lời nói, giữ tâm hồn khi vào nhà Chúa. Nhưng chúng ta còn phải giữ lời hứa nữa như Sô-lô-môn dạy, "khi khấn hứa sự gì với Đức Chúa Trời, chớ chậm mà hoàn nguyện". Niềm tin có giá trị gì nếu không có sự hứa nguyện. Trong việc buôn bán, hợp đồng, giao kèo, khế ước là thể hiện của lời cam kết, hứa hẹn giữa hai bên. Khi yêu nhau, nam nữ thề ước trèo non, lội suối để tìm nhau khi phải chia ly, xa cách, và hứa hẹn cùng nhau trong hôn nhân sẽ sống đời cho đến ngày răng long tóc bạc. Người tin Chúa có bổn phận và trách nhiệm chu toàn những lời hứa nguyện của mình với người và với Chúa.
Chú ý lời nhắc dạy của Sô-lô-môn về lời hứa. Đây là lời hứa tự nguyện chứ không phải vì cưỡng ép, bắt buộc, khi khấn hứa điều gì với Đức Chúa Trời... Thà đừng khấn hứa, hơn là khấn hứa mà lại không trả. Dù là tự nguyện, nhưng một khi đã hứa nguyện thì phải "khá trả cho điều gì ngươi hứa". Nếu không giữ tròn sẽ có một hậu quả, "sao làm cho Đức Chúa Trời nổi giận vì lời nói và làm cho hư công việc của tay ngươi?"
Sau-lơ là vua của xứ Do Thái. Khi đang chiến tranh cùng quân Phi-lít-tin thì vì sự căm giận, tức tối, vua Sau-lơ thề với Đức Chúa Trời rằng hễ người nào ăn uống trước chiều tối, trước khi vua thắng được giặc thì sẽ bị xử chết. Con vua là hoàng tử Giô-na-than đói nên ăn mật ong. Vậy đó mà vua đòi chém chết nếu triều thần không can gián. Một lời thề hứa dạy khờ đem lại một hậu quả khó lường. Vậy chớ hồ đồ khi chúng ta hứa nguyện với người và với Chúa.
Khi vào nhà Chúa chúng ta nhớ giữ tâm trí để ý thức rõ rằng đây là nơi thiêng liêng, nơi thờ phượng Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng cần giữ gìn lời nói, đừng nghĩ rằng nhiều lời mà đẹp lòng Chúa. Trái lại, nói ít nghe nhiều. Dọn giữ tâm hồn để nghe tiếng phán dạy, tiếng an ủi động viên của Chúa. Và chúng ta cũng cần giữ trọn lời hứa nguyện với người và với Chúa chúng ta. Bốn điều này sẽ giúp chúng ta thật sự thờ phượng, thông công, học hỏi, và được động viên khi chúng ta vào nhà của Chúa.
