Khi Chúa Xét Tội
Ha-ba-cúc là một trong 12 sách trong KTCU gọi là tiểu tiên tri vì ngắn. So với Ê-sai 66 đoạn hay Giê-rê-mi 52 đoạn. Dù chỉ có 3 đoạn ngắn nhưng sách có mấy câu KT rất quen thuộc: 2:4 Người công bình sẽ sống bởi đức tin; 2:14 Vì sự nhận biết vinh quang Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp đất như nước đầy tràn biển.; 3:17-19 sẽ đọc sau.
Bối cảnh: Y-sơ-ra-ên chia cắt làm 2: Y và Giu-đa. Tất cả các vua Y đều độc ác, xa Chúa. Chúa cho họ 200 năm để ăn năn. Cuối cùng bị giặc A-sy-ri chiếm. Giu-đa còn có vài vua biết kính sợ Chúa nên ĐCT cho họ gần 350 năm để ăn năn. Khi A-sy-ri chiếm xứ Y-sơ-ra-ên, Ạ là một đế quốc to lớn, hùng mạnh. Nhưng 100 năm sau khi Y-sơ-ra-ên mất thì một đế quốc khác nổi lên, là Ba-by-lôn.
Tiên tri Ha-ba-cúc sống trong thời kỳ cuối cùng của xứ Giu-đa trước khi giặc Ba-by-lôn tàn phá thủ đô Giê-ru-sa-lem và đền thờ Chúa tại đó (586 BC). Ông cũng sống trong một xã hội đầy dẫy những bạo ngược, bất công, độc ác dưới sự cai trị của các vua không tin vào ĐCT. Cộng thêm những tội ác dầy dẫy trong xã hội, vua chúa không tin Chúa, là nỗi lo sợ bị giặc Ba-by-lôn chiếm nước, phá đền thờ, phá thủ đô. Nên ông hỏi ĐCT.
Hai câu hỏi chính H. cho ĐCT là: 1) Tại sao Chúa lại làm thinh, lặng nhìn trước những tội ác đầy dẫy trong xứ? Chúa ở đâu rồi? 2) Tại sao Chúa là Đấng công bình, thánh sạch mà lại để cho một nước ngoại bang độc ác tấn công xứ Giu-đa? Không phải đây là xứ của dân tuyển ĐCT hay sao?
Câu trả lời của ĐCT cho câu hỏi 1 tại sao Chúa lại làm thinh, lặng nhìn tội ác trong xã hội, ngạc nhiên cả H. và tất cả chúng ta: Chúa sẽ dùng giặc Ba-by-lôn. Ta sẽ dùng một dân độc ác hơn dân sự trong xã hội ngươi đang sống để chiếm xứ ngươi, để tàn phá thủ đô, đền thờ, giết dân chúng, bắt họ làm nô lệ giải sang xứ Ba-by-lôn.
Bài giảng tuần rồi dựa theo H. 2:1-3 về sự trông đợi câu trả lời của ĐCT cho câu hỏi thứ 2 của H. tại sao Chúa lại dùng giặc Ba-by-lôn để trừng phạt dân sự: Tôi sẽ đứng nơi trạm canh; Tôi sẽ gác ở tháp canh nơi chiến lũy; Tôi sẽ cứ thức canh, để xem Ngài sẽ nói với tôi điều gì, Và sẽ nghe Ngài giải đáp thắc mắc của tôi ra sao. 2 Bấy giờ Chúa đáp lời tôi, Ngài phán, “Hãy ghi lại khải tượng nầy; Hãy chép rõ trên các bảng, để người chạy ngang qua có thể đọc được. 3 Khá biết rằng những gì khải tượng ấy bày tỏ sẽ không xảy ra cho đến kỳ đã định. Ðến cuối cùng, nó sẽ lộ ra, và đây không phải là lời nói dối. Nếu nó có vẻ như chậm đến, hãy kiên tâm chờ đợi, Vì nó chắc chắn sẽ đến, chứ không chậm trễ đâu.
[Ôn lại những điểm chính của bài giảng tuần rồi. 1) H. trông đợi câu trả lời của ĐCT cho câu hỏi thứ 2 của ông. 2) Trông đợi cách kiên nhẫn; 3) Với cái nhìn nơi tháp canh; 4) Trong sự vâng phục; 5) Cho đến kỳ Chúa định với đức tin vì người công bình sống bởi đức tin]
Bài giảng hôm nay sẽ từ 2:4-20 tiếp tục về câu trả lời của ĐCT cho câu hỏi của H. tại sao Chúa lại dùng giặc Ba-by-lôn để trừng phạt dân sự. Chúa không trả lời H. trực tiếp nhưng qua lời buộc tội xứ Ba-by-lôn. Cụ thể là 5 trọng tội của xứ B. mà Chúa sẽ trừng phạt.
KIÊU NGẠO BIẾN THIÊN SỨ TRỞ NÊN ÁC QUỈ
Này, hãy xem kẻ đề cao chính mình, Tâm của nó quả là không ngay thẳng; Nhưng người công chính sẽ sống bởi đức tin. 5 Thật vậy rượu đã lừa gạt nó; Nó đã trở thành kẻ kiêu ngạo, không chịu thỏa lòng với những gì nó có; Tham vọng của nó mỗi ngày một lớn như âm phủ, như tử thần không bao giờ thấy đủ; Nó tóm thâu các nước dưới quyền nó và bắt mọi dân phải phục vụ nó.” (2:5 - BD2011)
Kẻ đề cao chính mình, kẻ trở nên kiêu ngạo, tự phụ, tự đắc trong câu 4 là xứ B.
KTCU có 2 đoạn thường được một số đông người giải kinh thánh, các nhà thần học xem như lời giải thích về sự sa ngã và tội phạm của Sa-tan cùng ĐCT. 2 đoạn KT đó trong sách Ê-xê-chiên 28:11-19 và Ê-sai 14:12-19. Hai đoạn KT này được viết về hai vị vua trong lịch sử: Ê-xê-chiên viết về vua xứ Ty-rơ và Ê-sai về vua xứ Ba-by-lôn. Nhưng cũng về Sa-tan.
Đoạn KT theo Ê-sai 14:12-19 viết về vua xứ Ba-by-lôn. Khi viết về Ba-by-lôn, KT không chỉ nói về một thành phố hay một đế quốc nhưng còn tượng trưng cho một lực lượng đối nghịch cùng ĐCT, tượng trưng cho thế giới tội lỗi nghịch lại với tiêu chuẩn thánh khiết của Chúa. Vậy không có gì ngạc nhiên cho lắm khi Ê-sai qua sự khải thị của ĐTL dùng hình ảnh của vua Ba-by-lôn để nói về Sa-tan luôn luôn đối nghịch cùng ĐCT và là chúa của thế giới đầy tội lỗi này.
Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào! 13 Ngươi vẫn bụng bảo dạ rằng: Ta sẽ lên trời, sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Đức Chúa Trời. Ta sẽ ngồi trên núi hội về cuối cùng phương bắc. 14 Ta sẽ lên trên cao những đám mây, làm ra mình bằng Đấng Rất Cao. Nhưng ngươi phải xuống nơi âm phủ, sa vào nơi vực thẳm! (14:12-15)
Từ sao mai là Lu-xi-phe, một danh xưng có nghĩa là người mang ánh sáng (light bearer) hay sao mai. Sa-tan được ví như sao mai, con trai của rạng đông đầy ánh sáng. Mục đích của sao mai và rạng đông là đem đến ánh sáng cho cả ban đêm và ban ngày. Trước khi phạm tội, sa ngã, Sa-tan là một thiên sứ vô cùng sáng láng, được ĐCT tạo để đem lại ánh sáng, lẽ thật, công chính, yêu thương, nhân từ, đem đến sự thánh khiết, toàn hảo của ĐCT. Nhưng ánh sáng của lẽ thật, công chính trở nên quyền lực tối tăm, lừa dối, độc ác.
Tại sao Sa-tan phạm tội? Vì kiêu hảnh. Nó muốn làm cho mình bằng Đấng Tối Cao. Trong đoạn KT này 5 lần sao mai, con trai của rạng đông tuyên bố: Ta sẽ. Câu 13: Ta sẽ lên trời, Ta sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Đức Chúa Trời, Ta sẽ ngồi trên núi hội về cuối cùng phương bắc. Câu 14: Ta sẽ lên trên cao những đám mây, Ta sẽ làm ra mình bằng Đấng Rất Cao. Kết thúc của thiên sứ sáng láng trở nên ác quỉ là địa ngục đời đời: Nhưng ngươi phải xuống nơi âm phủ, sa vào nơi vực thẳm! (Ê-sai 14:15)
Sự kiêu ngạo là một trọng tội. Chính vì sự kiêu ngạo mà thiên sứ sáng láng trên trời trở nên ác quỉ trên đất này. KT dạy rất rõ ĐCT sẽ chống cự kẻ kiêu ngạo: Vì vậy, Kinh Thánh chép rằng: Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường. (Gia-cơ 4:6) Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, Và tánh tự cao đi trước sự sa ngã. 19 Thà khiêm nhượng mà ở với người nhu mì, Còn hơn là chia của cướp cùng kẻ kiêu ngạo. (CN 16:18-19)
B. kiêu ngạo vì quân đội hùng mạnh đã đánh bại đế quốc A-sa-ri và xâm chiếm nhiều nước trong vùng. Kiêu ngạo vì sự giàu có, vì các công trình kiến trúc vĩ đại như thành B. và vườn treo B. là một kỳ quan của thế giới cỗ. Kiêu ngạo như vua N. khi đi dạo trên sân cao của hoàng cung thì tự nói: "Kìa, xem Ba-by-lôn vĩ đại dường nào! Há chẳng phải chính ta đã xây thủ đô này với sức mạnh và quyền năng của ta, làm nơi ta ngự, để bầy tỏ sự vinh hiển và uy quyền của ta sao?" (Đ. 4:30) Nhưng ngay sau những lời tự phụ, cao ngạo đó ĐCT phạt vua phải sống như một con thú trong suốt 7 năm trời.
H. 2:5: Nó đã trở thành kẻ kiêu ngạo, không chịu thỏa lòng với những gì nó có; Tham vọng của nó mỗi ngày một lớn như âm phủ, như tử thần không bao giờ thấy đủ; Nó tóm thâu các nước dưới quyền nó và bắt mọi dân phải phục vụ nó.” Điều đáng chú ý là theo H. 2:5 ĐCT gọi người kiêu ngạo là người không chịu thỏa lòng với những gì nó có, tức như một người có lòng tham không đáy, không bao giờ thấy đủ. Tại sao? Vì kiêu ngạo là muốn có để hơn người khác chứ không phải chỉ để có.
Tương phản với kẻ kiêu ngạo trong Đ. 2:4 là người khiêm nhường, người công bình sống bởi đức tin dù khi không có câu trả lời từ ĐCT. Khi ĐCT như yên lặng, làm ngơ mà lặng nhìn trước những cảnh bất công trong xã hội, khi không hiểu. Khi Chúa nói với H., nếu con xem thấy những cảnh khổ, bất công, tội ác trong xã hội hôm nay, khi giặc B. đến con sẽ thấy còn khổ gấp mấy lần hơn. Khi dân sự bị giải đi sang xứ B. làm nô lệ.
Gương khiêm nhường cụ thể nhất là từ ĐCJC. Phao-lô viết về sự khiêm nhường của ĐCJC trong Phi-líp 2:5-8: Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.
Lịch sử cho biết chỉ chưa đến 50 (48) năm sau khi N. chiếm xứ Giu-đa, tàn phá đền thờ và tường thành Giê-ru-sa-lem thì đế quốc B. bị chiếm bởi một đế quốc khác là Medo-Persia. Tổng cộng giai đoạn này của đế quốc B. chỉ kéo dài 86 năm (625-539). Khá biết rằng những gì khải tượng ấy bày tỏ sẽ không xảy ra cho đến kỳ đã định. Ðến cuối cùng, nó sẽ lộ ra, và đây không phải là lời nói dối. Nếu nó có vẻ như chậm đến, hãy kiên tâm chờ đợi, Vì nó chắc chắn sẽ đến, chứ không chậm trễ đâu. (2:3)
Kết thúc của đế quốc B. được ghi lại trong sách Đa-ni-ên 5. Vua Bên-xát-xa tổ chức một tiệc rất lớn cho 1000 đại thần. Vua đãi tiệc lớn ngay đang khi quân giặc Mê-đi & Phê-sơ-rê (Canh Đê) đang bao quanh thành phố. Có lẽ vua và quan nghĩ rằng những bức tường thật dầy, thật cao (có nơi đến 300ft) sẽ bảo vệ họ. Hay nghĩ quân đội đánh đâu thắng đó ngày xưa sẽ chiến thắng giặc Mê-đi & Canh Đê. Đây thật đúng là suy nghĩ của người kiêu ngạo: không gì có thể xảy ra cho tôi, nếu có tôi cũng sẽ vượt qua.
Khi thấm rượu (ngà ngà) vua sai đem các ly chén bằng vàng và bạc mà vua cha Nê-bu-cát-nết-sa mang về từ đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, để vua cùng các đại thần, các hoàng hậu, và các cung phi dùng uống rượu. (Đ. 5:2) Rồi vua, quan, hoàng hậu, cung phi dùng các chén vàng bạc từ đền thờ Chúa mà uống rượu. KT viết: Họ vừa uống rượu, vừa tán tụng các thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, sắt, gỗ và đá. (5:4)
H. 2:5 được dịch cách khác nhau: Nó ghiền rượu, làm sự dối trá (BTT), Phải, của cải thường dối gạt (BDM), Thật vậy rượu đã lừa gạt nó (BD2011). BDM dịch của cải vì theo bản cỗ tìm thấy ở biển chết (Dead Sea Scrolls) khám phá vào giữa thế kỷ 20 vừa qua (1946). Tuy nhiên các bản cỗ khác đều dùng chữ rượu chớ không phải của cải.
Khi đọc lại Đ. 5 về đêm cuối đời của vua Bên-xát-xa và cũng là kết thúc của đế quốc kiêu ngạo B. thì quả thật rượu lừa gạt vua. Rượu khiến vua ngông cuồng đến nỗi phạm trọng tội cùng ĐCT khi ra lệnh lấy các chén vàng bạc từ đền thờ Giê-ru ra để uống. Vừa uống chén đền thờ Chúa vừa tán tụng, ca ngợi các thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, sắt, gỗ và đá. Không phải chỉ vua dùng chén mà còn cả hoàng hậu và cung phi. Chỉ có thầy tế lễ nam dòng Lê-vi mới được cầm các chén này khi làm lễ trong đền thờ, nên để hoàng hậu, cung phi dùng là khinh dễ ĐCT bội phần hơn.
Rồi qv nhớ điều gì xảy ra? Một ngón tay của một bàn tay viết lên tường. Khi vua nhìn thấy phần bàn tay đang viết, 6 mặt vua biến sắc, vua kinh hoảng, xương cốt vua rã rời, hai đầu gối run lập cập. (Đ. 5:6) Rồi vua triệu tập những nhà thông thái trong nước đến để giải nghĩa câu viết trên tường. Không ai có thể giải nghĩa ngoại trừ Đ., một thanh niên thuộc dòng hoàng tộc xứ Giu-đa bị bắt giải sang xứ B. trong lần thứ 1 N. đánh chiếm thành Giê-ru-sa-lem.
Thật là một điều trớ triêu, nghịch lý, thậm chí mai mĩa khi một tù nhân của xứ bị B. xâm chiếm lại chính là người giải thích lời phán xét của ĐCT cho vị vua cuối cùng của xứ B. Thật chính xác như lời ĐCT đã phán cùng H. 50 năm trời trước đó: Khá biết rằng những gì khải tượng ấy bày tỏ sẽ không xảy ra cho đến kỳ đã định. Nếu nó có vẻ như chậm đến, hãy kiên tâm chờ đợi, Vì nó chắc chắn sẽ đến, chứ không chậm trễ đâu.
Trước khi Đ. giải thích câu viết trên tường, ông nhắc lại câu chuyện của vua N. là cha của vua Bên-xát-xa bị ĐCT trừng phạt 7 năm phải sống như loài thú vật vì sự kiêu ngạo, tự đề cao mình. Đ. nói với vua Bên: Nhưng bệ hạ là con vua cha, dù bệ hạ đã biết tất cả những điều ấy, bệ hạvẫn không chịu hạ mình. Nhưng bệ hạ lại tự tôn mình lên chống nghịch Đức Chúa Trời trên trời, rồi bệ hạ cùng các đại thần, hoàng hậu, và cung phi dùng các ly chén ấy uống rượu. Bệ hạ tán tụng các thần bằng bạc, vàng, đồng, sắt, gỗ và đá, là các thần không thấy, không nghe, không hiểu, trong khi Đức Chúa Trời, là Đấng nắm trong tay Ngài hơi thở và các lối đi nước bước của bệ hạ, bệ hạ lại không tôn vinh. (Đ. 5:22-23)
Hàng chữ ngón tay viết trên tường là MÊ-NÊ, MÊ-NÊ, TÊ-KEN, VÀ PHÁC-SIN. 26 Và đây là ý nghĩa hàng chữ. Mê-nê, nghĩa là Đức Chúa Trời đã đếm và chấm dứt số ngày vua trị vì. 27 Tê-ken, nghĩa là vua đã bị cân trên bàn cân, và thấy là thiếu kém. 28 Phê-rết, nghĩa là vương quốc vua bị chia đôi và giao cho các dân Mê-đi và Ba-tư." (Đ. 5:25-28).
Rồi kỳ đã định của ĐCT cho đế quốc B. hung ác đến ngay chính trong đêm đó: Ngay đêm ấy, Bên-sát-xa, vua dân Canh-đê, bị giết chết. 31 Và Đa-ri-út, người Mê-đi chiếm ngôi vua. Lúc ấy ông sáu mươi hai tuổi. (5:30) Tiên tri H. không sống đến lúc đó để chứng kiến lời dạy của ĐCT nhưng ông tin vào lời Chúa, được xưng là công bình.
Đế quốc này lên đế quốc kia xuống. Đế quốc A-sa-ri là giặc chiếm xứ Y-sơ-ra-ên tồn tại 230 năm. B. 86 năm. Sau đó là đế quốc Mê-đi, Phê-sơ-rê (Persia) 208 năm. Sách H. viết cho đến nay đã hơn 2500 năm. Tất cả các đế quốc vĩ đại ngày xưa, các đại đế kiêu hãnh, tự đề cao mình ngày nay không còn nữa. Nếu còn lại chăng thì chỉ là những đống đá, bức tường là di tích của một thời vàng son đã qua trong lịch sử loài người. Nhưng lời Chúa vẫn còn đó. Sách H. vẫn còn đó.
Sách Ê-sai viết: Có tiếng nói: “Hãy kêu lên.” Tôi hỏi: “Tôi sẽ kêu gì đây?” Tất cả mọi người chỉ là cỏ, Mọi sự đẹp đẽ của họ như hoa ngoài đồng. 7 Cỏ khô, hoa rụng Khi hơi thở CHÚA thổi qua chúng. Thật vậy, loài người chỉ là cỏ. 8 Cỏ khô, hoa rụng Nhưng Lời Đức Chúa Trời chúng ta đứng vững đời đời. (Ê-sai 40:6-8) ĐCJC phán cùng các môn đồ: Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi. (Ma-thi-ơ 24:35 – BDM)
SO SÁNH TỘI ĐỂ BÀO CHỬA, BIỆN HỘ
Vua Bên-sát-xa phạm hai trọng tội cùng ĐCT: kiêu ngạo và thờ thần tượng thay vì ĐCT. Khi ĐCT định tội xứ B. trong H. 2 thì tội đầu tiên là kiêu ngạo Này, hãy xem kẻ đề cao chính mình, Tâm của nó quả là không ngay thẳng;… Nó đã trở thành kẻ kiêu ngạo (2:4-5) và tội cuối cùng là thờ thần tượng thay vì ĐCT: Khốn thay cho kẻ nói với khúc gỗ, “Xin ngài thức dậy!” Nói với tảng đá câm, “Xin ngài trỗi dậy!” (2:19) Qv có thể xem 2 tội này là 2 đồ chận sách. Phần giữa là 4 tội khác sinh ra từ 2 trọng tội này.
H. 1:2-4 viết về những tội ác trong xã hội xứ Giu-đa nơi tiên tri đang sống: Con phải kêu lên: "Chúa ơi! bạo ngược!" cho đến khi nào Ngài mới giải cứu? 3 Sao Ngài bắt con chứng kiến toàn chuyện bất công? Sao Ngài tiếp tục lặng nhìn nỗi khổ đau? Chung quanh con, người ta dùng bạo lực hủy diệt nhau, Người ta kiện tụng tranh giành. 4 Vì thế, Kinh Luật đành bó tay, Không còn ai xét xử công bình nữa. Vì bọn gian ác áp đảo người công chính, Cho nên công lý bị bóp méo. Bạo ngược = tàn ác, bất chấp công lý, đạo đức; Những chuyện bất công, độc ác; Đầy khổ đau; Bạo lực; Thưa kiện, tố cáo nhau; Không coi pháp luật (luật Mô-se) ra gì; Bất công (quan án ăn hối lộ, tham nhũng) = công lý bị bóp méo
5 điều ĐCT lên án B. là gì?
1. Khốn thay cho kẻ cướp đoạt của cải người khác để làm giàu cho mình (2:6). Cướp đoạt của người để làm giàu cho mình.
2. Khốn thay cho kẻ tham lam, lấy của bất nghĩa đem về nhà mình (2:9). Tham lam, bất nghĩa
3. Khốn thay cho kẻ xây thành bằng sự đổ máu, Kẻ dựng thành phố bằng tội ác (2:12) Dùng vũ lực để bóc lột, xử dụng công sức người làm nô lệ để xây thành phố
4. Khốn thay cho kẻ xúi người lân cận của nó uống say, Ép người ấy uống cả cặn rượu để bị say mèm, Hầu nó có thể nhìn thấy thân thể lõa lồ của người ấy (2:15) Cưỡng bức, dụ dỗ để thỏa mãn dục vọng thể xác. [Bill Cosby cho một các phụ nữ uống thuốc để cưỡng dâm, làm mất khả năng chống cự cuộc tấn công tình dục]
5. Khốn thay cho kẻ nói với khúc gỗ, “Xin ngài thức dậy!” Nói với tảng đá câm, “Xin ngài trỗi dậy!” (2:19). Thờ thần tượng do chính tay con người đục đẽo làm nên.
Nếu so sánh giữa các tội lỗi giữa 2 xã hội của xứ Giu-đa và B. qv thấy có khác gì?
Nếu làm thêm 2 cột về tội của xứ VN, của xứ HK, hay thêm 3 cột nữa về tội của xứ TQ, Anh, Nhật, qv nghĩ có bao nhiêu điều giống nhau, bao nhiêu điều khác nhau. Không khác gì giữa các xứ, giữa xưa và nay. Tác giả Truyền Đạo nhận xét thật đúng: Chẳng có gì mới trên cõi đời này. (TĐ 1:9-BM).
Điều con người hay làm là so sánh tội để bào chửa cho mình. Ngay cả tiên tri H. cũng làm điều này khi nghe Chúa nói Ngài sẽ dùng giặc B. để trừng phạt dân sự Ngài không thể nào làm ngơ khi chứng kiến những tội ác cứ tiếp tục xảy ra. Thế nhưng tại sao Ngài lại có thể bất động, đứng nhìn quân phản bội hại người, Và cứ lặng yên khi kẻ ác ăn nuốt người ngay lành hơn nó như vậy? (1:13 - BD2011).
Thường thì chúng ta so sánh tội mình với tội của người nhiều tội hơn mình, với 5 tội ĐCT nêu ra cho B. để thấy tôi vẫn còn tốt hơn nhiều người. Chúa không xét tội dân Giu-đa theo sự khác biệt giữa tội của họ và của B. Chúa cũng không xét tội qv theo sự khác biệt giữa tội của qv và tôi. Chúa xét tội dân Giu-đa, dân B., dân VN, dân HK, tội tôi, tội qv theo tiêu chuẩn thánh khiết, tuyệt đối của Ngài. Trước tiêu chuẩn đó, không ai trắng án cả, bởi vì mọi người đều phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của ĐCT (Rô-ma 3:23) [Video so sánh kích thước trái đất với các hành tinh, đại ngân hà]
Vậy thay vì so sánh tội tôi với tội người, chúng ta cần so sánh tội mình với tiêu chuẩn thánh khiết, tuyệt đối của ĐCT để biết rõ rằng tôi sẽ bị trừng phạt nặng nề trong địa ngục đời đời nếu không được sự cứu rỗi của ĐCJC. Để biết ơn, thật sự biết ơn Chúa vì sự cứu rỗi.
Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn.
(2 Phi-e-rơ 3:9)
Xứ Giu-đa
Xứ Ba-by-lôn
Bạo ngược = tàn ác, bất chấp công lý, đạo đức
Kiêu ngạo, tự đề cao mình
Những chuyện bất công, độc ác
Cướp đoạt của người để làm giàu cho mình
Đầy khổ đau
Tham lam, bất nghĩa
Bạo lực
Dùng vũ lực để bắt người làm nô lệ xây thành phố
Thưa kiện, tố cáo nhau
Cưỡng bức, dụ dỗ để thỏa mãn dục vọng thể xác
Không coi pháp luật (luật Mô-se) ra gì
Thờ thần tượng do chính tay con người làm nên
Công lý bị bóp méo
