Jêsus – Ứng Nghiệm Của Thánh Kinh
Nhưng phước cho mắt các ngươi, vì thấy được; phước cho tai các ngươi, vì nghe được! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, có nhiều đấng tiên tri, nhiều người công chính đã ước ao thấy điều các ngươi thấy, mà chẳng được thấy; ước ao nghe điều các ngươi nghe, mà chẳng được nghe. (Ma-thi-ơ 13:16-17)
BỐN SÁCH PHÚC ÂM
Chúng ta cảm tạ sự ban cho của ĐCT qua 4 sách Phúc Âm. Nếu quí vị cùng tôi mở KT đến phần TU sẽ thấy đề tựa “Tân Ước của ĐCJC chúng ta” sau đó là bốn sách Tin Lành theo Ma-thi-ơ, Tin Lành theo Mác, Tin Lành theo Lu-ca và Tin Lành theo Giăng. Một số hỏi KT có CU và TU, hai phần này khác nhau ra sao và tại sao có tên như vậy. Ước trong CU, TU không phải là mộng ước hay ước mơ, nhưng là kế ước, giao ước, có nghĩa là lời hứa (promise, covenant). CU là lời hứa xưa, TU là lời hứa mới. Xưa bởi vì đã xảy ra trong hơn ngàn năm trước khi ĐCJC giáng sinh. [66 sách KT được viết ra trong thời gian trên dưới 1500 năm. Sách CU xưa nhất viết khoảng 1400 BC]
CU viết về lời hứa của ĐCT về sự cứu rỗi cho nhân loại qua lịch sử của dân tộc Y-sơ-ra-ên mà Ngài đã chọn. [Tôi sẽ dùng từ Y-sơ-ra-ên, Do Thái cùng một ý giống nhau] Lịch sử đó ghi lại Chúa gìn giữ dân sự Ngài để từ đó sẽ sinh ra một đấng Cứu Tinh (Mê-si). KT CU ghi lại rất nhiều câu chuyện về những thăng trầm của dân tuyển này nhằm cho biết ma quỉ tìm đủ một biện pháp để tiêu diệt dân tuyển, hầu diệt đấng Mê-si, nhưng ĐCT luôn bảo vệ, gìn giữ. TU là ứng nghiệm của lời hứa từ ngàn xưa đó: đến thời điểm ĐCT đã định từ trước muôn đời, Ngài sai con độc sinh đến thế gian, sinh ra làm người để chuộc tội lỗi cho nhân loại.
Vì vậy TU được gọi là TU của ĐCJC chúng ta. Từ Tin Lành hay Phúc Âm có nghĩa đơn giản là tin vui, tin mừng. Tại sao? Vì Đấng Cứu Chuộc đã đến ban cho mọi người tin Ngài có cuộc sống sung mãn hôm nay và đời đời ngày sau.
Chúng ta hỏi tại sao 4 mà không phải 1 hay 2? Vì 4 sách viết ra bởi 4 tác giả khác nhau, cho những đọc giả, đối tượng khác nhau và với mục đích khác nhau. Một ví dụ đơn giản như khi chúng ta chụp hình. Để làm driver license chúng ta phải chụp hình tại chổ. Hiếm ai muốn khoe hình này vì thường không mấy đẹp. Nhưng hình driver license không thể dùng để làm passport. Cũng không ai gởi hình tìm bạn bốn phương qua hình driver license hay passport cả. Để tìm bạn hay đăng trên Facebook chúng ta tìm chọn hình đặc biệt, đẹp trai, đẹp gái nhất để làm mẫu. Dĩ nhiên so sánh này không thể dùng để so sánh hình ảnh của ĐCJC trong KTTU nhưng chỉ để cho thấy một ý là mỗi chân dung, con người của Jêsus trong mỗi sách TL, PA đều nhằm các mục đích cụ thể khác nhau cho những người nghe, người đọc khác nhau.
ỨNG NGHIỆM LỜI KINH THÁNH
Theo thứ tự trong KT thì đầu tiên là Ma-thi-ơ, rồi đến Mác, Lu-ca và cuối cùng Giăng. Nhưng hầu hết các học giả KT TU đều đồng ý là Mác có lẽ là sách đầu tiên được viết ra khoảng khoảng cuối 50 hay đầu năm 60, kế đến là Ma-thi-ơ trước năm 70, Lu-ca sau 70, Giăng 80-85 Nếu Mác đầu tiên theo thứ tự thời gian tại sao KT lại không xắp trước hết? Vì mục đích của KT không phải là lịch sử theo thứ tự thời gian nhưng theo mục đích giải thích TL cho người đọc, người nghe.
Một lý do quan trọng và có lẽ chính yếu Ma-thi-ơ được xếp đầu tiên trong 4 PÂ bởi vì sách giới thiệu nhân vật Jêsus cho người nghe, người đọc nhưng Đấng Mê-si ứng nghiệm từ TK CU. Tác giả sách là Ma-thi-ơ, một trong 12 sứ đồ của ĐCJC (Matt 9:9-13, 10:3), làm nghề thu thuế. Là người Y-sơ-ra-ên (Do Thái), Ma-thi-ơ chủ yếu viết sách này để nhấn mạnh cùng người đọc rằng Jêsus Christ là sự ứng nghiệm mầu nhiệm của KT CU. Nói cách khác, lời hứa của ĐCT cùng dân sự về Đấng Mê-si đã được ứng nghiệm qua sự giáng sinh, cuộc đời và sự chuộc tội của ĐCJC trên thập giá.
Sách mở đầu với lời: Gia phổ Đức Chúa Jêsus Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham. (1:1). 2 trong 4 sách PA ghi lại gia phổ ĐCJC. Ma-thi-ơ bắt đầu gia phổ với hai nhân vật quen thuộc và quan trọng nhất trong lịch sử Y-sơ-ra-ên đến lúc bấy giờ là Đa-vít và Áp-ra-ham. [Còn Lu-ca thì bắt đầu từ Giô-sép và trở ngược lại thời gian cho đến tận A-đam, tổ phụ của loài người.]
Áp-ra-ham là tổ phụ của dân tộc và Đa-vít là vị vua đầu tiên của dân tộc. Jêsus có nguồn gốc từ Áp-ra-ham, nhưng Jesus cũng sẽ là một vị vua ứng nghiệm. Trên thập tự giá, cũng chính theo lời viết của Ma-thi-ơ: Phía trên đầu Ngài họ để cái bảng đề chữ chỉ về án Ngài, rằng: Người Nầy Là Jêsus, Vua Dân Giu-đa. (27:37) Giăng cho biết cụ thể hơn Phi-lát cũng sai làm một tấm bảng, rồi treo lên trên thập tự giá: Trên bảng đó có đề chữ rằng: Jêsus Người Na-xa-rét, Là Vua Dân Giu-đa. (Giăng 19:19)
Ít nhất 10 lần Ma-thi-ơ gọi ĐCJC là Con Đa-vít (con cháu Đa-vít) để nhấn mạnh Đấng Mê-si từ dòng vua Đa-vít và Jesus là hiện thân của Đấng đó từ dòng dõi vua chúa Đa-vít.
Các tiên tri thời CU sống trong giai đoạn mong chờ, các môn đồ đầu tiên và tất cả chúng ta sống trong thời TU, trong thời kỳ tiên tri CU về Đấng Mê-si đã được ứng nghiệm. Nhưng phước cho mắt các ngươi, vì thấy được; phước cho tai các ngươi, vì nghe được! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, có nhiều đấng tiên tri, nhiều người công chính đã ước ao thấy điều các ngươi thấy, mà chẳng được thấy; ước ao nghe điều các ngươi nghe, mà chẳng được nghe. (13:16-17) Ma-thi-ơ không phải viết về Jesus Christ như một tiên tri như các tiên tri trong thời CU hay một tiên tri kế tiếp của thế kỷ đầu tiên (như Hồi Giáo tả) nhưng là ứng nghiệm của mọi tiên tri.
Câu thường được dùng trong sách TL Ma-thi-ơ là Mọi việc đã xảy ra như vậy, để cho ứng nghiệm lời Chúa đã dùng đấng tiên tri mà phán. Câu được dùng 11 lần trong sách. Và ý ứng nghiệm tiên tri được lập lại 16 lần trong sách. Ma-thi-ơ trích dẫn ít nhất 50 lần từ KT CU cách trực tiếp. Nhưng nếu tính cả những phần trích dẫn gián tiếp thì có trên 100 dẫn chứng từ KT CU.
Chỉ trong câu chuyện giáng sinh, Ma-thi-ơ trích dẫn 6 chi tiết ứng nghiệm từ KTCU :
nữ đồng trinh sinh con trai - 1:22 từ Ê-sai 7:14,
được gọi là Ê-ma-nuên, ĐCT ở cùng chúng ta – 1:23 từ Ê-sai 8:8,10;
con trẻ sanh ra tại thành Bết-lê-hem - 2:5-6 từ Mi-canh 5:2,
lánh nạn tại Ê-díp-tô – 2:14-15 từ Ô-se 11:1;
con trẻ bị giết, tiếng than khóc của các bà mẹ - 2:17-18 từ Giê-rê-mi 31:15;
Ngài lớn lên từ làng Na-xa-rét - 2:23 từ Ê-sai 11:1
Viết chủ yếu cho dân Giu-đa nên sách Ma-thi-ơ có cấu trúc như 5 sách đầu tiên (ngũ kinh) của Mô-se. Sách gồm 5 bài giảng của ĐCJC giữa 5 phần chuyện kể về Jesus. Mỗi phần kết thúc với câu: khi Đức Chúa Jêsus vừa phán những lời ấy xong
5-7 - bài giảng trên núi, kết thúc 7:28-29 Vả, khi Đức Chúa Jêsus vừa phán những lời ấy xong,
10 - lời dạy cùng 12 sứ đồ trước khi đưa họ truyền giảng TL, kết thúc 11:1 Vả, Đức Chúa Jêsus đã dạy các điều đó cho mười hai môn đồ rồi, bèn
13 – các câu chuyện ngụ ngôn, kết thúc 13:53 Đức Chúa Jêsus phán các lời ví dụ ấy rồi, thì đi khỏi chỗ đó
18 – lời dạy cho các môn đồ, kết thúc 19:1 Đức Chúa Jêsus phán lời ấy xong rồi, thì từ xứ Ga-li-lê mà đi đến bờ cõi xứ Giu-đê, bên kia sông Giô-đanh.
23-25 - lời dạy về thời kỳ cuối, kết thúc 26:1 Vả, Đức Chúa Jêsus đã phán những lời ấy xong rồi, thì phán cùng môn đồ rằng
Sự liên hệ đến KTCU còn nằm trong câu chuyện về lịch sử dân tộc Y-sơraên. Như dân Chúa làm nô lệ ở xứ Ai-cập thì con trẻ Jêsus cũng tị nạn tại xứ Ai-cập để tránh sự giết hại của Hê-rốt. Như dân sự phải vượt biển đỏ vào vùng đất hứa nhưng bị thử thách 40 năm trong đồng vắng, Jêsus cũng dìm mình trong sông Giô-đanh khi chịu báp-tem bởi Giăng Báp-tít, sau đó chịu thử thách 40 ngày đêm trong đồng vắng. Rồi cũng như Mô-se lên núi Si-nai nhận 10 điều răn, Jêsus trong bài giảng trên núi khai triển luật phát của Mô-se.
Chủ đề về sự ứng nghiệm được bày tỏ rõ ràng trong hình ảnh Jesus là Đấng bắt đầu nước Trời, Đấng thể hiện nước Trời cho những người tin Ngài. Nước Trời trong thì hiện tại (nước Trời đã đến) qua ĐCJC và nước Trời sẽ đến khi Ngài là Vua ngồi trên ngai để phán xét mọi dân tộc, mọi người trên đất. Câu nước Trời (kingdom of heaven) lập lại khoảng 50 lần trong Phúc Âm Ma-thi-ơ.
Jesus theo TL Ma-thi-ơ không những là ứng nghiệm tiên tri CU. Nhưng Ngài còn là ứng nghiệm của luật pháp Mô-se. Đây là một điều ngạc nhiên cho các môn đồ và đoàn dân nghe bài giảng trên núi vì dường như Chúa xem thường hay bỏ qua luật pháp Mô-se. Câu Ngài lập đi lập lại trong bài giảng trên núi là: Các ngươi có nghe lời phán cho người xưa rằng.. Song ta phán cho các ngươi. Dù khi nói về ngày Sa-bát, kiên ăn, giết người hay phạm tội tà dâm.
Tuy nhiên Ma-thi-ơ chủ ý ghi lại lời Jêsus xác nhận cùng môn đồ và người nghe về thái độ và mục đích của Ngài với luật pháp Mô-se: không phải để hủy phá nhưng để làm cho trọn. Và chính lời Ngài phán: Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn… Vì ta phán cho các ngươi rằng, nếu sự công bình của các ngươi chẳng trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người dòng Pha-ri-si, thì các ngươi chắc không vào nước thiên đàng. (5:17, 20)
Người Pha-ri-si là những người được xem công bình hơn mọi người vì họ vâng giữ luật pháp Mô-se hết mức. Làm sao những người tin và theo Jêsus có thể công bình hơn những người giữ luật pháp đã viết từ ngàn xưa? Nhưng sự làm trọn ở đây là sự công bình của người tin theo Jesus không chỉ dừng lại ở bên ngoài, trong sự vâng giữ luật pháp để mọi người thấy mà khen ngợi hay thán phục. Không sự công bình phải bắt đầu từ bên trong. Từ những điều dạy như trong bài giảng trên núi mà không ai có thể giữ trọn. Đây mới chính thật là luật pháp trọn vẹn và tuyệt đối của ĐCT.
Luật xưa dạy giết người là phạm tội nhưng theo lời Jêsus dạy, luật pháp trọn vẹn, tuyệt đối của ĐCT thì ai giận ghét anh em mình đã phạm tội giết người. Luật xưa dạy chớ phạm tội tà dâm, nhưng luật tuyệt đối dạy ai nhìn người đàn bà mà có lòng tà dâm thì đã phạm tội rồi. Luật xưa dạy chớ thề dối nhưng phải giữ lời thề, lời Chúa dạy chớ nên thề thốt mà giữ lời chân thật luôn luôn.
Không ai giữ trọn luật pháp Mô-se. Chắc chắn tiêu chuẩn của những lời Jesus dạy chắc chắn không cách nào loài người có thể giữ trọn vì nó bắt đầu từ trong lòng, trong tim. Chính vì vậy người tin Chúa được xưng là công bình chớ không phải làm được sự công bình. Được xưng công bình có nghĩa là được mặc lấy áo công bình của ĐCJC. Như người được mặc áo phao khi dưới nước để có thể nổi hay mặc áo chống đạn khi đối diện nguy hiểm.
Ứng nghiệm quan trọng hơn hết là lời hứa về sự cứu rỗi của ĐCT cho loài người trước hết qua dân tuyển Y-sơ-ra-ên, sau đó sẽ đến cùng muôn dân trên đất. Ta cũng nói cùng các ngươi, có nhiều người từ đông phương, tây phương sẽ đến, ngồi đồng bàn với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp trong nước thiên đàng (8:11)
Họ sẽ không đói không khát, hơi nắng chẳng đốt đến, khí nóng mặt trời chẳng phạm đến nữa; vì Đấng thương xót họ sẽ dắt dẫn, đem họ đến gần suối nước. Ta sẽ làm cho mọi núi ta nên đường phẳng, và các đường cái ta sẽ được sửa sang. Nầy, những kẻ nầy sẽ đến từ nơi xa; kìa, những kẻ kia sẽ đến từ phương bắc, những kẻ nọ từ phương tây, và những kẻ khác từ xứ Si-ni. (Ê-sai 49:10-12)
Sự ứng nghiệm này là một tin vui mừng lớn cho muôn dân vì qua ĐCJC mọi dân trên đất sẽ được cứu. Dù trong Ma-thi-ơ, ĐCJC nhấn mạnh khi gởi các môn đồ ra đi rao giảng Tin Lành, chỉ đến với những con chiên lạc của nhà Y-sơ-ra-ên: Ấy đó là mười hai sứ đồ Đức Chúa Jêsus sai đi, và có truyền rằng: Đừng đi đến dân ngoại, cũng đừng vào một thành nào của dân Sa-ma-ri cả; song thà đi đến cùng những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên.(10:5-6), nhưng mạng lệnh cuối cùng của Ngài trước khi về trời là TL phải được rao giảng cho muôn dân: Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế. (28:19-20)
