Hướng Mắt Về Ngôi Chúa
KH 4 cho chúng ta thấy một cảnh mà không ngôn ngữ nào của con người có thể diễn tả hết được về sự vinh hiển, vĩ đại, cao trọng, về ngôi ĐCT. Hơn 700 năm trước khi sứ đồ Giăng nhận được khải tượng về ngôi của ĐCT, thì tiên tri Ê-sai đã viết về Đấng ngồi trên ngôi như sau: Kìa, các dân tộc khác nào một giọt nước nhỏ trong thùng, và kể như là một mảy bụi rơi trên cân; nầy, Ngài giở các cù lao lên như đồi vật nhỏ... 17 Mọi dân tộc ở trước mặt Đức Giê-hô-va thảy đều như không, Ngài xem như trống không và hư vô vậy... Đấng Thánh phán rằng: Vậy thì các ngươi sánh ta cùng ai? Ai sẽ bằng ta? 26 Hãy ngước mắt lên cao mà xem: Ai đã tạo những vật nầy? Ấy là Đấng khiến các cơ binh ra theo số nó, và đặt tên hết thảy; chẳng một vật nào thiếu, vì sức mạnh Ngài lớn lắm, và quyền năng Ngài rất cao. (Ê-sai 40:15, 17 25-26)
Dĩ nhiên câu trả lời là không gì trong trời đất vũ trụ này, không gì trong thế gian này có thể so sánh với sự vĩ đại, vinh hiển, quyền năng của ĐCT. ĐCT là Đấng sáng tạo muôn loài vật, trời đất vũ trụ, trái đất là kết quả của sự sáng tạo. ĐCT là Đấng sáng tạo, mọi loài sinh động vật trên trời, dưới đất, bên dưới đất là loài thọ tạo, gồm cả loài người. Đó là Đấng ngồi trên ngai vinh hiển, cao trọng giữa sự thờ phượng của muôn vàn thiên binh và thiên sứ, ngày đêm không dứt ca ngợi: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Chúa, là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn năng, Trước Đã Có, Nay Hiện Có, Sau Còn Đến!
Bấy giờ tôi thấy trên tay phải của Ðấng ngự trên ngai một cuộn sách được viết cả mặt trong lẫn mặt ngoài, và được niêm phong bằng bảy ấn. (KH 5:1)
Đấng ngồi trên ngôi cao trọng, vinh hiển đời đời cũng chính là Đấng viết lịch sử và nắm giữ lịch sử của nhân loại trong tay Ngài. Không có gì bất ngờ, ngạc nhiên xảy ra ngoài ý chỉ, dự định đã có từ trước muôn đời. Sách được viết bởi Đấng ngồi trên ngai, chứ không phải bởi các thiên sứ, nói chi đến loài người. Trên trái đất, trong thế gian này, những đại đế, lãnh đạo vĩ nhân, anh hùng xuất chúng, những đế quốc, cường quốc thường tự hào họ làm nên lịch sử. Những đế quốc, cường quốc hãnh diện vì đất nước, quốc gia họ thay đổi lịch sử nhân loại. Nhưng tất cả đều lầm. Lịch sử loài người đã được viết từ trước muôn đời và chắc chắn sẽ xảy ra như ý chỉ và thời gian đã định bởi Đấng ngồi trên ngai.
Không biết Đấng ngồi trên ngai thế này, chỉ thấy trong tay phải, tượng trưng cho quyền năng, sức lực nắm một cuộn sách. Cuộn sách, không phải quyển sách. Sách đóng với bìa như hôm nay chỉ được sáng chế vào thế kỷ 1. Trước đó hầu hết sách, tài liệu đều là cuộn, đầu tiên bằng da thú, sau bằng vỏ một loại cây như giấy gọi là papyrus. 1 cuộn sách thường có chiều dài khoảng 32-34 ft. Đây cũng là chiều dài có thể viết 1 sách như Lu-ca hay Công Vụ.
Cuộn sách dù có 2 mặt nhưng thường chỉ được viết mặt trong. Nhưng cuộn sách trong tay Đấng ngồi trên ngai được viết cả 2 mặt. Điều này mang ý nghĩa là nội dung quan trọng không thể mất (như nếu có 2 hay 3 cuộn) và đầy đủ, trọn vẹn. Cuộn sách cũng được niêm phong với bảy ấn, hay bảy niêm (seal). Di chúc của đại đế La-mã Vespasian cũng được niêm với 7 ấn.
Số 7 đây tượng trưng cho sự sáng tạo trọn vẹn của ĐCT, như 7 ngày, 7 chân đèn tức 7 HT, 7 thần linh tượng trưng cho ĐTL... Nội dung của cuộn sách chỉ được tiết lộ và thi hành sau khi các ấn được mở. Không chỉ tiết lộ mà còn được thi hành khi ấn được mở. Vậy hễ khi sách còn niêm phong, khi ấn chưa được mở thì không điều gì có thể xảy ra. Ngày xưa chiếu chỉ của vua chúa, đại đế cũng được viết trong cuộn và niêm phong với ấn. Khi người nhận họ phải quỳ xuống và chỉ sau khi ấn được mở thì chiếu chỉ mới được đọc và lệnh trong chiếu được thi hành.
Cuộn sách là gì? Đây là cuộn sách về sự cứu chuộc và buộc tội, về ơn phước và rủa sả cho suốt lịch sử con người. Cứu chuộc và ơn phước cho những người được ĐCT chọn và cứu. Buộc tội và rủa sả cho những người từ chối, chống đối ĐCT.
Tôi lại thấy một vị thiên sứ mạnh mẽ tuyên bố lớn tiếng, “Ai xứng đáng để mở cuộn sách và tháo gỡ các ấn của nó?”
Lời mời gọi mở ấn phải được loan báo bởi một thiên sứ mạnh mẽ bởi vì lời loan báo này được truyền cho cả trời đất vũ trụ. Lời mời gọi là một câu hỏi về phẩm tính: ai xứng đáng để mở cuộn sách, để gỡ các ấn. Câu trả lời là không ai cả. Đây cũng là từ dùng trong 4:11 khi Giăng viết về Đấng đi giữa các HT: Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên. (4:11).
Người mở ấn phải xứng đáng về tiêu chuẩn, phẩm tính, về tài năng, sự trong sạch, thánh khiết để trước hết đến gần Đấng ngồi trên ngai giữa muôn vàn thiên binh và thiên sứ chúc tụng, thờ lạy. Đây là Đấng mà trong đoạn 4 cho biết cả thiên sứ hàng đẳng cấp cao nhất cũng phải lấy cánh mà che mặt trước sự hiện diện của Đấng ngồi trên ngai; còn 24 trưởng lão tượng trưng cho toàn thể dân sự được cứu cũng xấp mình quì lạy, đặt mão triều thiên trước ngôi.
Ai có thể đủ cao trọng để đến nhận cuộn sách từ tay phải Đấng ngồi trên ngai? Ai đủ phẩm tính? Ai hoàn toàn thánh khiết, không tì viết, không tội lỗi trong cuộc sống? Ai đủ khả năng, tính hạnh, tài giỏi để nhận sách và mở các ấn? không ai trên trời, dưới đất, hoặc trong lòng đất có thể mở cuộn sách ấy, hoặc nhìn vào đó. Từ trời cao mênh mông, từ vũ trụ bao la không ai. Trên trái dất, không ai vì có ai trên đất này có thể tự xưng mình là hoàn toàn không tội, hoàn toàn xứng đáng trước Chúa? Bên dưới đất chỉ có kẻ chết.
Trong Ê-sai 6 tiên tri Ê-sai có một khải tượng vào năm vua Ô-xia qua đời. Trong khải tượng đó Ê-sai thấy ĐCT ngồi trên ngai với các thiên sứ sê-ra-phim quanh ngai Chúa, thì lập tức ông nói: Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân! Và chỉ sau khi sê-ra-phim thanh tẩy môi miệng tiên tri Ê-sai thì ông mới có thể nhận mạng lệnh Chúa sai đi. Mô-se phải tháo dép dơ bẩn chỉ khi đứng nơi đất trước bụi gai cháy hoài không tắt vì đất đứng đó là nơi thánh khiết. (XEDTK 3:5)
Không ai có thể ngang nhiên vào gặp vua chúa, nữ hoàng, thủ tướng, tổng thống, chủ tịch một quốc gia. Dân chúng muốn vào thăm tòa bạch ốc phải xin phép trước với thượng hay hạ nghị sĩ tiểu bang; khi được chấp thuận họ phải nghé sang văn phòng đại biểu để lấy giấy rồi đến đúng ngày giờ đến một nơi đã định mới được hộ tống để vào thăm với những người dân khác. Qv nhớ câu chuyện trong Ê-xơ-tê: dù là hoàng hậu nhưng không phải vì vậy mà bà có thể vào gặp vua bất cứ lúc nào, mà chỉ khi vua cho phép. Nếu không thì sẽ bị xử tử! Ai có thể dám tự hào rằng tôi có thể đứng trước sự phán xét của một ĐCT hoàn toàn thánh khiết, quyền năng, vĩ đại là Đấng ngồi trên ngai vinh hiển? Ai nói như vậy là lộng ngôn, hoặc không hề hiểu biết về ĐCT, hoặc quá tự phụ về mình đến nỗi ngông cuồng.
Không ai trên trời, trên đất, bên dưới đất có thể đến nhận lấy cuộn sách từ tay phải Đấng trên ngôi để mở ấn. Không quyền lực, thần linh có thể làm được điều này. Không một lãnh tụ, vua chúa, người thông thái, triết gia nào. Không người tu hành, người đạo đức nào. Nhưng không ai trên trời, dưới đất, hoặc trong lòng đất có thể mở cuộn sách ấy, hoặc nhìn vào đó.
Nếu sách không được nhận, nếu ấn không được mở thì ai có thể biết được nội dung của sách, tức biết được lịch sử của sự cứu rỗi, sự trừng phạt, của chương trình và dự tính của ĐCT? Không người bói toán, thuật sĩ, thông giáo, không khoa học gia lỗi lạc nào có thể tiên đoán lịch sử loài người trong vòng vài ba mươi năm trời, huống chi lịch sử của cả nhân loại từ đầu đến cuối. Lịch sử loài người hoàn toàn nằm trong tay của Đấng giữ sách và Đấng sẽ nhận và mở các ấn, tức ĐCJC.
Vì không ai trên trời, dưới đất, hoặc trong lòng đất có thể mở cuộn sách ấy, hoặc nhìn vào đó nên sứ đồ Giăng khóc: 4Vì thế tôi bật khóc thành tiếng, bởi vì không ai được xem là xứng đáng để mở cuộn sách hoặc nhìn vào đó. Nhưng tại sao khi không ai xứng đáng để nhận và mở sách, để biết nội dung sách thì Giăng lại khóc? Có phải vì ông tò mò hay thất vọng vì không được biết được tương lai sẽ thế nào? Không phải. Ông khóc vì chỉ khi các ấn được mở thì mục đích, dự định cho chương trình cứu chuộc HT và trừng phạt loài người sẽ không xảy ra.
KH 2-3 viết về các HT vùng Tiểu Á trong thời kỳ HT đang bị bắt bớ, đang chịu khổ nạn. Nếu ấn không được mở, sách không được đọc, ý chỉ, dự định trong sách không được tiến hành thì tất cả đều vô nghĩa. Tại sao HT lại chịu khổ nạn khi tin Chúa? Tại sao ĐCT lại để cho dân sự Chúa chịu bắt bớ, hoạn nạn, tù đày, mất mát? Cuối cùng ai sẽ chiến thắng? Ma quỉ hay ĐCT? ĐCT có công bình và thành tín không? Nếu ấn không mở, sách không đọc thì niềm tin của chúng ta vào Chúa, thì đời sống tin kính trên đất này vô nghĩa, không ai biết được, thì KT cũng chỉ là một quyển sách như trăm ngàn sách triết lý khác về mục đích, ý nghĩa cuộc sống, hay trăm ngàn sách khác tiên đoán về tương lai của con người.
Một triết gia vô thần rất nổi tiếng người Anh tên Bertrand Russell được phỏng vấn khi 90 và được hỏi ông có hy vọng gì khi chết. Ông trả lời: Tôi không có gì để bám víu vào ngoại trừ nỗi tuyệt vọng nghiệt ngã và không thể khắc phục (I have nothing to hang onto but grim, unyielding despair) Hay như PL viết cho tín đồ HT Cô-rinh-tô: Nếu kẻ chết chẳng sống lại, thì hãy ăn, hãy uống, vì ngày mai chúng ta sẽ chết! (1 Cô-rinh-tô 15:32).
Đây là lý do Giăng khóc! Bởi vì ông hiểu, cũng như bao nhiêu người trong chúng ta hiểu rằng, cuộc sống vật chất này không phải là duy nhất và tất cả. Rằng chúng ta không thể khỏa lấp những trống vắng, đau nhức trong tâm hồn với vật chất, với những đồ chơi, xe cộ, nhà cửa, bằng cấp nếu cuộc đời này hoàn toàn vô nghĩa. Để được gì? Rồi cũng mang tật bệnh: không ung thư thì cũng bệnh covid, không covid thì cũng bị đứng tim. Rồi cuối cùng mọi người cũng sẽ chết, dù giàu hay nghèo, học thức hay không học thức, dù quyền thế hay thường dân. Khóc cũng như tác giả Truyền Đạo đã khóc: Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không. 3 Các việc lao khổ loài người làm ra dưới mặt trời, thì được ích lợi chi?... Muôn vật thảy đều lao khổ, loài người không thế nói ra được; mắt không hề chán ngó, tai chẳng hề nhàm nghe. 9 Điều chi đã có, ấy là điều sẽ có; điều gì đã làm, ấy là điều sẽ làm nữa; chẳng có điều gì mới ở dưới mặt trời. (TĐ 1:2-3, 8-9)
Nhưng cảm tạ Chúa: 5Bấy giờ một trong các vị trưởng lão nói với tôi, “Ðừng khóc nữa. Kìa, Sư Tử của chi tộc Giu-đa, Cội Rễ của Ða-vít, đã chiến thắng, nên có thể mở cuộn sách và bảy ấn đó.” 6Kế đó tôi thấy một Chiên Con dường như đã bị giết đứng ở giữa ngai và bốn Sinh Vật và các vị trưởng lão. Chiên Con ấy có bảy sừng và bảy mắt, đó là bảy Thần Linh của Ðức Chúa Trời được sai đi khắp đất.
Giăng nghe tiếng nói rằng có một Đấng có thể mở cuộn sách và các ấn: Đấng đó là Sư Tử của chi tộc Giu-đa, Cội Rễ của Ða-vít, đã chiến thắng. Rồi Giăng thấy giữa ngôi, trước Đấng ngồi trên cao, giữa muôn vàn thiên sứ ca tụng, thờ lạy là Chiên Con dường như đã bị giết.
Danh xưng cội rễ của Đa-vít là ngôn ngữ từ Ê-sai 11 đã được viết trên 700 năm trước đó: Có một chồi sẽ nứt lên từ gốc Y-sai, một nhánh từ rễ nó sẽ ra trái. Y-sai là tên của cha vua Đa-vít. Đây là hình ảnh của một cây đã bị chặt chỉ còn gốc, tưởng như đã chết. Nhưng từ gốc đó một cái chồi nứt lên. Từ chồi đó sẽ ra nhánh. Rồi từ đó cây sẽ mọc lại để có nhiều nhánh và sinh ra bông trái. [Kinh nghiệm về cây fig]. Trong đoạn cuối của sách KH, ĐCJC một lần nữa tự xưng mình là cội rễ và hậu tự của Đa-vít (22:16)
Các trưởng lão thấy sư tử của chi tộc Giu-đa, nhưng Giăng nhìn thấy một Chiên Con dường như đã bị giết. Đấng xứng đáng mở các ấn và sách là sư tử và chiên con. Đấng đã chiến thắng sự chết vì cũng chính Ngài đã chịu nhận sự chết, dù là sự chết tủi nhục trên thập giá. Chiên con này đã bị giết cho tội lỗi chúng ta, dù Ngài là Đấng có quyền giết những kẻ đã giết Ngài.
Đây là Chiên Con tự nguyện chết cho tội lỗi loài người như lời Ê-sai đã viết: Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng. (Ê-sai 53:7)
Đây chính là Đấng PL viết: Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. (Phi-líp 2:6-8)
7 sừng tượng trưng cho quyền lực tuyệt đối, hay toàn năng. 7 mắt tượng trưng cho sự nhận biết, thấy triệt mọi điều dù có thể dấu kín, hay toàn tri, toàn thức. 7 thần linh tượng trưng cho sự đầy dẫy TL, tức toàn mỹ, toàn thiện. Đấng xứng đáng duy nhất trong trời đất vũ trụ là Đấng toàn tri, toàn năng, toàn thức, toàn mỹ, toàn thiện nhưng cũng là Chiên Con đã tự nguyện chịu chết cho tội lỗi của con người tội lỗi. Đây là một đoạn KT kỳ diệu và vô cùng tuyệt vời viết về ĐCJC chúng ta.
Kỳ diệu vì Đấng nắm trên tay Ngài 7 ngôi sao tức các thiên sứ HT, đi giữa 7 chân đèn là 7 HT trên đất khi các HT, dân sự HT chịu bắt bớ, hoạn nạn cũng chính là Đấng đứng trước ngôi trên trời cao nhận sách từ tay phải ĐCT và mở các ấn. Chiên con chịu giết cho tội của con người cũng chính là Đấng mà 4 sinh vật, 24 trưởng lão, hàng hà vô số thiên sứ ca tụng, thờ lạy.
7Chiên Con ấy đến lấy cuộn sách từ tay phải của Ðấng ngự trên ngai. 8Khi Chiên Con nhận lấy cuộn sách, bốn Sinh Vật và hai mươi bốn vị trưởng lão sấp mình xuống trước mặt Chiên Con; mỗi vị có một cây đàn và một bát bằng vàng đựng đầy hương, đó là những lời cầu nguyện của các thánh đồ. 9Họ cùng nhau hát một bài thánh ca mới rằng:
“Ngài thật xứng đáng để lấy cuộn sách và mở các ấn nó ra,
Vì Ngài đã bị giết và đã dùng huyết mình mua chuộc cho Ðức Chúa Trời những người từ mọi bộ lạc, mọi ngôn ngữ, mọi dân tộc, và mọi quốc gia.
10Ngài đã làm cho họ thành một vương quốc và những tư tế phụng sự Ðức Chúa Trời chúng ta, và họ sẽ trị vì trên đất.”
KH 4 cho biết 4 sinh vật và 24 trưởng lão thờ lạy, ca tụng Đấng ngồi trên ngai. Đoạn KT này cũng cho thấy họ cũng ca tụng, thờ lạy Chiên Con như vậy. Một điều khác là thêm vào đó là bài hát mới từ các thánh đồ tức những người được cứu bởi Chiên Con.
[Nội dung bài hát mới về sự cứu rỗi, chuộc tội để làm nên một dân sự, vương quốc cho ĐCT]
Rồi như một vòng tròn từ trung tâm điểm lan rộng ra ngoài là những lời ca tụng, tôn vinh, thờ phượng. Từ bên ngôi là 4 sinh vật và 24 trưởng lão hát một bài hát mới. Rồi vòng tròn lan rộng ra 11Kế đó tôi thấy và nghe tiếng của vô số thiên sứ, hàng vạn của hàng vạn và hàng ngàn của hàng ngàn vị đang quây quần quanh ngai, hiệp với các Sinh Vật và các vị trưởng lão cất tiếng lớn 12tung hô rằng,
“Chiên Con đã bị giết thật xứng đáng để nhận lấy quyền năng, giàu sang, khôn ngoan, sức mạnh, tôn kính, vinh hiển, và chúc tụng.”
Sau đó đến muôn vật trên trời, dưới đất, bên dưới đất: 13Kế đến tôi nghe mọi loài thọ tạo trên trời, dưới đất, trong lòng đất, và dưới biển, cùng mọi vật trong chúng nói rằng,
“Nguyện Ðấng ngự trên ngai và Chiên Con được ca ngợi, tôn kính, vinh hiển, và quyền lực đời đời vô cùng.”
Rồi 4 sinh vật và 24 trưởng lão đồng lòng với những lời ca ngợi đó và sấp mình xuống mà thờ lạy.
14Bốn Sinh Vật đáp, “A-men.”
Và các vị trưởng lão sấp mình xuống thờ lạy.
