Hôn Nhân Chúa Tạo Lập
[2] Cũng có lời dạy: Ai muốn bỏ vợ hãy cho nàng một giấy ly dị. Nhưng Ta bảo các con: Ngoại trừ trường hợp gian dâm, ai bỏ vợ là làm cho nàng trở nên người ngoại tình; còn ai cưới người ly dị, thì cũng phạm tội ngoại tình. (Ma-thi-ơ 5:31-32)
Khi đọc lời dạy này của ĐCJC chúng ta cần đọc thêm câu hỏi của người Pha-ri-si và lời giải thích của Chúa trong Ma-thi-ơ 19.
Người Pha-ri-si bèn đến gần để thử Ngài, mà rằng: Không cứ vì cớ gì người ta có phép để vợ mình chăng? Ngài trả lời rằng: Các ngươi há chưa đọc lời chép về Đấng Tạo Hóa, hồi ban đầu, dựng nên một người nam, một người nữ, và có phán rằng: Vì cớ đó người nam sẽ lìa cha mẹ, mà dính díu với vợ mình; hai người sẽ cùng nên một thịt hay sao? thế thì, vợ chồng không phải là hai nữa, nhưng một thịt mà thôi. Vậy, loài người không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đă phối hiệp! (Ma-thi-ơ 19:-6)
Hôn nhân và ly dị là hai đề tài liên quan mật thiết với nhau, nhưng lại hoàn toàn đối nghịch cùng nhau. Hôn nhân mang hai người, nam và nữ, đến cùng nhau, nối liền họ với nhau trong cuộc sống mỗi ngày, đồng chia ngọt xẻ bùi, đồng cam cộng khổ. Lúc vui hay buồn, giàu hay nghèo, mạnh khỏe hay đau ốm, vợ chồng trong hôn nhân cũng san sớt và gánh chịu với nhau. Rồi sợi dây thiêng liêng giữa chồng vợ càng bền chắc hơn khi có con cái.
Ly dị là đổ vỡ, tan rả, chia cắt. Chồng vợ từ nay mỗi người đi một ngã. Hai cuộc đời trước đó gắn liền làm một thì nay trở lại thành hai. Đúng hơn là ít hơn hai. Vì không có cuộc ly dị nào mà người trong cuộc lại không mất một mãnh đời, một phần con tim, một khối tình cảm. Sau khi ly dị mỗi người đều mang một vết thương, vết xẹo mà có thể với thời gian cũng chưa thật sự lành lặn.
Hôn nhân mang đến niềm vui, hạnh phúc; ly dị mang đến mất mát, tan vỡ. Hôn nhân gắn bó hai cuộc đời; ly dị chia rẽ gia đình.
Nếu nói rằng hôn nhân mang đến hạnh phúc, niềm vui thì tại sao lại có ly dị? Ai muốn ly dị để chịu mất mát, lẽ loi? Dĩ nhiên không ai bước vào hôn nhân lại muốn ly dị cả. Người ta ly dị nhau vì trăm ngàn lý do. Tựu trung lại chỉ vì không muốn hay không thể tiếp tục chung sống với nhau. Tôi phân biệt giữa hai lý do không muốn và không thể, bởi vì nhiều lúc dù không muốn nhưng chúng ta vẫn có thể tiếp tục. Không ai muốn chịu đựng một người chủ khắc nghiệt, khó khăn nhưng vì gia đình nhiều lúc chúng ta vẫn tiếp tục.
Hiếm có điều gì trong đời sống hoặc khiến cho người ta hạnh phúc không tưởng hay đau khổ không tưởng. Hôn nhân và ly dị là hai điều trong số vài điều hiếm đó. [Khai triển]
Có biết bao nhiêu cặp vợ chồng ly dị nhau vì những lý do không chính đáng. Nhưng cũng có nhiều hôn nhân gây đau khổ triền miên. Tôi hiểu rất rõ nỗi đau khổ của những người bất hạnh sống với người mình phải chịu đựng mỗi ngày. Một tác giả viết Dường như không một bất hạnh nào buốt nhói như bất hạnh của một hôn nhân đau khổ, và dường như không có một đau thương nào lớn như sự tan vỡ của điều ĐCT dự định cho tình yêu và hạnh phúc để trở nên một đời sống không tình cảm đầy cay đắng, bất hòa và tuyệt vọng. (There is almost no unhappiness so poignant as the unhappiness of an unhappy marriage, and almost no tragedy so great as the degeneration of what God meant for love and fulfilment in a non-relationship of bitterness, discord and despair.)
Mục đích của bài giảng hôm nay không phải để xát thêm muối vào những vết thương còn rỉ máu hay để gây mặc cảm tội lỗi cho những người đã trải qua ly dị. Tôi mong mỏi qua lời Chúa dạy trong BGTN tất cả chúng ta có thể hiểu ý chỉ đầu tiên của ĐCT khi Ngài tạo lập hôn nhân giữa người nam A-đam và người nữ Ê-va, và hiểu rằng ly dị không nằm trong mục đích của hôn nhân.
C.S. Lewis viết Chúng ta cần phân biệt giữa hai loại hôn nhân: một hôn nhân ảnh hưởng bởi chính quyền với những luật pháp cho tất cả công dân, một hôn nhân ảnh hưởng bởi hội thánh với luật lệ từ các tín đồ. Sự khác biệt rất rõ nên một người có thể biết cặp vợ chồng nào lập hôn nhân trong Chúa và theo lời Chúa và hôn nhân nào không như vậy. Buổi sáng nay dù tôi sẽ đề cập đến vài quan điểm về hôn nhân theo xã hội hôm nay, nhưng chủ yếu sẽ nói về hôn nhân trong Chúa và theo lời Chúa.
[3] AI CẦN HÔN NHÂN?
Ba mươi năm trước đây vào ngày 29 tháng 7, 1981 hằng 750 triệu người trên thế giới chú ý theo dõi qua truyền hình và 600,000 trên đường phố Luân Đôn để chứng kiến cuộc hôn nhân của hoàng tử Charles và quận chúa Dianna. Người ta xem hôn nhân này là như trong câu chuyện cổ tích giữa hoàng tử và công chúa với kết thúc là “hai người lấy nhau và sống hạnh phúc đời đời”. Tiếc thay đến tháng 8, 1996 (15 năm sau đó) cuộc hôn nhân này chấm dứt qua cuộc ly dị. Một năm sau đó khi cùng một người bạn trai mới lái xe vào thành phố Paris, Dianna bị tử nạn vì tai nạn xe cộ. Câu chuyện cổ tích trong thế kỷ 20 không kết thúc như các câu chuyện cổ tích như trong sách vở.
Tháng 11 năm 2010 qua tờ báo Time có một bài viết với tựa đề Ai Cần Hôn Nhân? Một Tập Tục Đang Thay Đổi (Who Needs Marriage? A Changing Institution). Bài viết bắt đầu với những lời sau đây [3a] Cuộc hôn nhân của thế kỷ thứ 20 vào năm 1981 đề cao hôn nhân cuối cùng trở nên một đổ vỡ rất nặng nề. Nó kết thúc tệ hại như mọi quan hệ: dư luận, ly dị, và cuối cùng, sự chết và sự than khóc của cả thế giới. Tôi nghĩ chắc quý vị có thể đoán biết những lời này nói về cuộc hôn nhân của ai? Đây là hôn nhân giữa quận chúa Dianna, con một hầu tước nổi tiếng và rất giàu có cùng hoàng tử Charles, người sẽ nối ngôi nữ hoàng Anh Quốc. Sau đây là vài dữ kiện về những thay đổi về hôn nhân trong xã hội hôm nay:
[4a] Năm 1960 68% nam nữ trong lứa tuổi 20 lập gia đình. Năm 2008 chỉ có 28%. Năm 1960 72% dân chúng HK lập gia đình, 2008 chỉ có 52%.
Gần phân nữa (44%) người tuổi từ 30-49 sống chung với nhau không có hôn nhân. Họ cũng thường đồng ý về hôn nhân của người cùng phái.
[4b] 1969 68% cho rằng việc ăn ở với nhau trước hôn nhân là sai, 21% đúng; 2009 chỉ có 39% cho là sai, 60% đồng ý.
[4c] 4 trong 10 (39%) người được phỏng vấn nghĩ rằng hôn nhân giờ chỉ là một tập tục cũ xưa và hoặc cần phải thay đổi, hay không còn cần thiết cho xã hội.
Dù vậy 3/4 (76%) đồng ý rằng gia đình là yếu tố quan trọng nhất trong đời họ.
Về định nghĩa gia đình, phần lớn không đồng ý rằng chỉ có một định nghĩa về gia đình. KT chỉ có một định nghĩa về gia đình. 86% cho rằng chỉ cần một người cha hay mẹ và con là một gia đình; 80% cho rằng gia đình là hai người sống chung với nhau với con. 63% cho rằng hai người đồng tính nuôi con xin cũng là gia đình. Và hầu hết đều đồng ý rằng nếu có hôn nhân giữa hai người thì họ là một gia đình.
2005-2006 gần 8 người trong 1000 người lập gia đình. Trong số gần 8 người đó có 4 sẽ ly dị. Tức tỉ lệ ly dị là 1/2.
41% trẻ em sinh ra ngoài vòng hôn nhân. 72% với người Mỹ đen.
Trong một câu hỏi: hãy nghĩ về tương lai của quốc gia, bạn lạc quan hay bi quan về: hôn nhân & gia đình (67% lạc quan; 27% bi quan); tiêu chuẩn đạo đức (41% vs 51%) (mặc dù họ không nghĩ rằng có thể nhiều thay đổi về hôn nhân và gia đình đem lại sự sa sút đạo đức!)
Hôn nhân và gia đình quả thật đã và đang trải qua rất nhiều sự thay đổi. Không phải để được vững chắc hơn nhưng để thỏa đáp nhu cầu của cá nhân và thay đổi của xã hội. Cũng chính vì lý do này mà ngay trong vòng hội thánh, hôn nhân theo lời Chúa dạy cũng không còn được hoàn toàn chấp nhận và tôn trọng.
[5] CẢ HAI TRỞ NÊN MỘT THỊT
Cho dù hôn nhân hiện diện và chấp nhận trong mọi xã hội, quốc gia, giống người, nhưng hôn nhân và gia đình không phải là sự phát minh của loài người. STK 1-2 cho biết chính ĐCT đã đem người nữ đến cùng người nam và kết hợp họ qua sợi dây hôn nhân để hai người trở nên một. [5a] KT dạy chúng ta về 3 mục đích chính yếu của hôn nhân. Thứ tự của 3 mục đích này không nhất thiết nói lên thứ tự quan trọng.
[5a-1] Thứ nhất là để duy trì nòi giống, hậu tự theo như STK 1:28 Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hăy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hăy làm cho đất phục tùng, hăy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất. [5a-2] Thứ hai nhằm đem đến người phối ngẫu giúp đở, tương trợ, yên ủi trong mọi cảnh ngộ của đời sống Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Loài người (A-đam) ở một mình thì không tốt; ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó. (STK 2:18). [5a-3] Thứ ba nhằm thể hiện sự tự hứa nguyện dâng hiến tình yêu thương, đời sống chung trong tình chồng vợ với thể hiện tự nhiên qua sự giao hợp trở nên “một thịt” (2:24).
Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một thịt. (2:24) Hôn nhân bắt đầu từ khi người nam lìa cha mẹ mình. Điều này không có nghĩa là từ bỏ để mặc cha mẹ lúc tuổi già yếu. Nhưng quyết định tự lập, nhận gánh trọn trách nhiệm cho gia đình chính mình. Đồng thời cũng tự giải quyết các nan đề trong hôn nhân chớ không kéo cha mẹ, anh chị em vào chuyện. Sau khi đã quyết định lìa cha mẹ, sống tự lập, bước thứ hai của hôn nhân là quyết định dính díu hay kết hiệp, hiệp làm một không rời cùng vợ. Bước thứ ba là sự giao hợp về thể xác và gắn bó về tình cảm để trở nên một thịt.
Dự định của ĐCT là để hai người chung sống với nhau trọn đời trong lúc vui buồn, giàu nghèo, mạnh yếu, hanh thông hay gian khổ để san sớt, đùm bọc, nâng đở, tương trợ, yên ủi, động viên cho nhau qua tình nghĩa chồng vợ và qua niềm vui từ con cái. Vì vậy khi làm lễ cưới tôi có lời cho chú rễ và cô dâu hứa nguyện cùng nhau như sau:
Trß¾c sñ chÑng giám cüa ÐCT, HT, gia ðình hai h÷ và toàn th¬ quan khách c§u, có phäi c§u /cô tñ ý hÑa nguy®n:
S¨ nh§n trách nhi®m và b±n ph§n yêu thß½ng, chåm sóc cüa ngß¶i làm ch°ng ð¯i v¾i vþ/ch°ng mình; và khi có con cái s¨ nh§n trách nhi®m và b±n ph§n cüa ngß¶i làm cha/m©, nuôi n¤ng, dÕy d², hß¾ng dçn con theo l¨ ðÕo cüa Chúa trong Kinh Thánh?
S¨ nh§n trách nhi®m và b±n ph§n ðùm b÷c, nâng ðÞ, bäo v® và lo l¡ng cho vþ/ch°ng mình t× nay cho ðªn tr÷n ð¶i d¥u khi giàu sang hay nghèo khó, d¥u khi mÕnh khöe hay ðau ¯m, d¥u khi hanh thông hay gian kh±?
S¨ tr÷n ð¶i yêu thß½ng, chung thüy và chï biªt có mµt mình vþ/ch°ng này t× nay cho ðªn ngày rån long tóc bÕc?
Vòng tròn cüa nhçn tßþng trßng cho sñ v©n toàn, liên tøc cüa tình yêu thß½ng trong hôn nhân. Vàng quí cüa nhçn tßþng trßng cho giá tr¸ và sñ tinh khiªt cüa lòng chung thüy giæa vþ ch°ng. Chiªc nhçn mà hai ngß¶i s¨ ðeo cho nhau là b¢ng chÑng thß¶ng xuyên và cø th¬ nh¤t cüa l¶i hÑa nguy®n v« tình yêu thß½ng và sñ chung thüy trong cuµc s¯ng lÑa ðôi.
Hôn nhân và gia đình đem đến biết bao nhiêu vui mừng, phước hạnh. Nhưng hễ dự tính của ĐCT cao bao nhiêu, tốt đẹp bao nhiêu thì sự chia cách, ly tán từ ly dị càng đau đớn bấy nhiêu. Ly dị là hậu quả của tội lỗi từ sự ích kỷ, lòng muốn thống trị, đàn áp. Đòi hỏi quyền lợi, ước muốn, dục vọng mình được thỏa mãn. ĐCT không tạo lập hôn nhân hầu mang lại hạnh phúc, niềm vui, yên ủi cho loài người chứ không phải để loài người ly dị, gây khổ cho nhau, cho con cái.
VÌ LÒNG NGƯỜI CỨNG CỎI
Khi đọc lời dạy của ĐCJC về hôn nhân và ly dị chúng ta cần đọc thêm Ma-thi-ơ 19:3-9 vì đoạn KT này cho biết nhiều chi tiết không có trong BGTN.
Sự tranh cải về lý do lý dị xảy ra giữa hai học phái Do Thái thời bấy giờ. Một bên thuộc về một thầy thông giáo tên Hillel và bên kia là Shammai. Thầy Shammi theo PTLLK 24:1 mà dạy rằng chỉ có một lý do chính đáng để ly dị là tội tà dâm. Thầy Hillel diễn dịch lời dạy này rất tự do và dạy rằng người đàn ông có thể ly dị vợ khi không vừa lòng! Điều này có thể là khi vợ nấu ăn không ngon, vụn về làm cháy đồ ăn chồng, không còn nhan sắc như người phụ nữ khác. Và đây là cách suy nghĩ phổ thông trong vòng người Pha-ri-si bấy giờ. Vì vậy họ mới đến hỏi ĐCJC theo Ma-thi-ơ 19: Không cứ vì cớ gì người ta có phép để vợ mình chăng?- Một người được phép ly dị vợ vì bất cứ lý do nào không? BDM.
Lời Chúa trả lời có thể chia làm ba phần và ba phần này hoàn toàn tương phản với câu hỏi của người Pha-ri-si:
Người Pha-ri-si chú ý, thắc mắc, suy nghĩ nhiều hơn về ly dị và lý do để có thể ly dị. Chúa chú ý vào hôn nhân và sự bền vững của hôn nhân. Chúa nhắc lại KT về dự định đầu tiên của ĐCT khi tạo lập hôn nhân là để sống đời.
Người Pha-ri-si gọi lời cho phép của Mô-se là điều luật. Chúa gọi đó là bởi vì lòng người cứng cỏi, chai đá, tội lỗi nên ĐCT cho phép điều đó, chứ không phải là ý định đầu tiên của Ngài.
PTLLK 24:1-4 Khi một người nam cưới vợ, nếu nàng chẳng được ơn trước mặt người, bởi người thấy nơi nàng một sự xấu hổ nào (indecency - điều không đoan trang, không đứng đắn), thì người được viết một tờ để, trao vào tay nàng, đuổi nàng khỏi nhà mình. Khi nàng đă ra khỏi nhà mình, đi làm vợ một người khác, nếu người chồng thứ nhì lại ghét nàng, viết cho một tờ để, trao vào tay nàng và đuổi khỏi nhà mình, hay là người chồng thứ nhì nầy chết đi, thì người chồng thứ nhất là người đă đuổi nàng đi, không được phép lấy nàng lại làm vợ, sau khi nàng bị ô uế. Vì ấy là một việc gớm ghiếc trước mặt Đức Giê-hô-va. Ý chính ở đây là việc cấm người ly dị vợ lấy lại vợ đã ly dị, chứ không dạy người chồng ly dị vợ hay ly dị vì bất cứ lý do gì. Có thể lời dạy này nhằm nhắc chồng chớ hồ đồ, hấp tấp mà bỏ vợ mình.
Chúa nhấn mạnh vì sự cứng lòng của dân sự nên Mô-se cho phép họ ly dị và đây không phải là dự định đầu tiên của ĐCT cho hôn nhân. Điều này nói lên một điều rất quan trọng khi đọc KT: Cần phân biệt rõ ý định của ĐCT và hành động của loài người. Khi KT ghi lại hành động của con người trong thế giới tội lỗi này thì không có nghĩa là KT chấp nhận hay ủng hộ hành động đó.
Người Pha-ri-si xem ly dị thường tình. Chúa xem việc đó rất quan trọng và đưa ra chỉ một lý do để ly dị là khi phạm tội tà dâm. Và Ngài nhắc lại dự định đầu tiên cho hôn nhân: Vậy, loài người không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đă phối hiệp! (Ma-thi-ơ 19:6).
Tôi muốn giải thích về từ được dịch là tà dâm. Từ Hy Lạp là porneia, thường được dịch là ăn ở trước khi lập gia đình và thường phân biệt với từ moicheia cho tội tà dâm giữa người đã, đang lập gia đình. Vì vậy có một số mục sư, giáo sư KT giải thích rằng lời dạy này của ĐCJC là là điều kiện ly dị khi khám phá ra người phối ngẫu không còn trinh tiết hay đã ăn ở trước khi lập gia đình. Tuy nhiên từ này cũng được dùng để nói về tội không thủy chung của dân sự Y-sơ-ra-ên cùng Giê-hô-va khi thờ các tà dâm. Vậy từ này không chỉ giới hành động gian dâm chỉ trước hôn nhân nhưng còn đang trong hôn nhân.
Lời dạy của ĐCJC có thể chú giải như sau: Các ngươi đã nghe về lời dạy của các thầy thông giáo trong PTLLK 24:1 chú trọng về điều kiện cho phép người chồng ly dị vợ mình khi thích, chỉ cần cho vợ một tờ giấy ly dị. Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng thái độ và hành động vô trách nhiệm đó sẽ đưa chính mình và vợ và người thứ hai cưới người vợ ly dị đến tội tà dâm. Chỉ có một lý do cho việc ly dị và tái hôn. Đó là khi vi phạm điều răn thứ bảy (ngươi chớ phạm tội tà dâm) hoặc phạm một trọng tội tình dục.
Thay vì thảo luận về điều kiện ly dị chúng ta cần thảo luận về việc củng cố hôn nhân, học đòi sự tha thứ như ĐCT đã tha thứ. Sách Hô-sê viết về câu chuyện của tiên tri Hô-se lấy người vợ lan chạ tượng trưng cho dân sự Y-sơ-ra-ên. Chúa dạy Hô-se đi tìm người vợ ngoại tình và đem nàng về. Chúa nói về hôn nhân của Ngài với dân sự dù khi họ phạm trọng tội tà dâm cùng các tà thần Cho nên, nầy, ta sẽ dẫn dụ nó, dẫn nó vào đồng vắng, và lấy lời ngọt ngào nói cùng nó… Đức Giê-hô-va phán rằng: Trong ngày đó ngươi sẽ gọi ta là: Chồng tôi, và sẽ không gọi ta là: Chủ tôi nữa… Ta sẽ cưới ngươi cho ta đời đời; ta sẽ cưới ngươi cho ta trong sự công bình và chánh trực, nhơn từ và thương xót. Phải, ta sẽ cưới ngươi cho ta trong sự thành tín, và ngươi sẽ biết Đức Giê-hô-va. (Hô-se 2:14,16,19-20) Và trong đoạn cuối của sách lời Chúa viết Ta sẽ chữa lành sự bội nghịch của chúng nó. Ta sẽ lấy lòng tốt yêu chúng nó; vì cơn giận của ta đă xây khỏi nó rồi. (14:4)
Tình yêu thương của ĐCT quả thật lớn rộng biết bao đối với dân sự bội nghịch, đối với con người ích kỷ, nhỏ nhoi, tội lỗi như chúng ta. Tôi không thể nói quý vị nên tha thứ bởi vì tôi không biết được nỗi đau xót của người bị phụ bạc. Có thể chỉ có ĐCT mới có thể tha thứ chúng ta như vậy. Nhưng khi tỉ lệ ly dị trong vòng tín đồ không khác gì người không biết Chúa thì chúng ta phải dừng lại để suy nghĩ lý do và nguyên nhân, cùng phương cách giải quyết.
Tôi không chủ trương kéo dài một cuộc sống hôn nhân bất hạnh, đau khổ triền miên từ ngày này qua ngày khác. Nhưng tôi tin vào lời Chúa dạy chúng ta phải tôn trọng hôn nhân trọn đời như Chúa đã định. Không một hôn nhân nào toàn hảo bởi vì không một người nào toàn hảo. Tất cả chúng ta là tội nhân. Vì vậy chúng ta cần học tha thứ và học thay đổi. Khi làm lỗi phải có can đảm nhận lỗi của mình và xin tha thứ. Không chỉ nhận sự tha thứ nhưng cũng cần tha thứ cho người phối ngẫu mình. Và cũng quan trọng không kém là mỗi người cần phải thay đổi.
Chúng ta cần hỏi theo thời gian hôn nhân mình tốt hơn hay xấu hơn hay tôi không còn màng đến nữa. Chúng ta hỏi tôi đang làm gì để bồi đắp hôn nhân, gia đình tôi? Học KT hằng tháng trong BGĐ là điều rất tốt nhưng hôn nhân không chờ đến mỗi tháng để giải quyết. Mỗi ngày trong cuộc sống chúng ta cần lời Chúa như tấm gương để xét chính mình, xét thái độ, lời nói, hành động đối với người phối ngẫu. Xét nhằm mục đích để thay đổi.
Vậy, kẻ nào nghe và làm theo lời ta phán đây, thì giống như một người khôn ngoan cất nhà mình trên hòn đá. Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy; song không sập, vì đă cất trên đá. Kẻ nào nghe lời ta phán đây, mà không làm theo, khác nào như người dại cất nhà mình trên đất cát. Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy, thì bị sập, hư hại rất nhiều. (Ma-thi-ơ 7:24-27)
