Hội Thánh Hâm Hẩm
Thư gởi HT Lao-đi-xê là thư cuối cùng trong 7 thư ĐCJC gởi cho 7 HT vùng Tiểu Á: Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê. Trong 7 thư có 2 thư hoàn toàn không có một lời chê trách là thư gởi HT Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi. Đây là 2 HT mà dưới mắt người đời tưởng như không có gì đặc biệt, không có gì đáng nể trọng vì S. là một hội thánh nghèo khó và P. là một hội thánh ít năng lực. 5 thư còn lại Chúa đều gọi HT phải ăn năn, thay đổi. Trong 5 thư đó thì 4 thư cho Ê, B., T., S. có điều Chúa khen nhưng cũng có điều Chúa trách, hay dù phần nhiều tín đồ HT nghe và làm theo các giáo sư giả, theo tà giáo thì vẫn còn lại 1 số tín đồ trung tín vâng giữ lời Chúa.
Tuy nhiên lá thư cuối cùng gởi cho HT L. là thư duy nhất không một lời khen, không một lời đề cập đến tín đồ trung tín. Trong 7 thư tín thì thư cho HT L. là thư có những lời quở trách nghiêm khắc nhất. Tuy nhiên thư cho HT L. cũng gồm những lời khuyên nhủ ân cần, tha thiết nhất dù với 1 HT đang dở dở, ương ương, hâm hẩm như một thức ăn thiêu mà khi ngửi đến cũng đã muốn buồn nôn, ói mửa. Nếu có 1 HT nào phản ánh đúng hơn hết tình trạng của HT trong các nước Tây Phương hôm nay thì đó chính là hình ảnh của HT L, bên ngoài thì giàu có, xung túc, đáng nể nhưng bên trong thì cạn cợt, không nóng, không lạnh, dững dưng trước lời Chúa.
NGUY HIỂM CỦA LÒNG HÂM HẨM
Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Lao-đi-xê rằng: Nầy là lời phán của Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín chân thật, Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời: 15 Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay! 16 Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta.
ĐCJC tự xưng mình là Đấng A-men. Đây là một danh xưng đã được dùng trong KTCU bởi tiên tri Ê-sai: Vì vậy, phàm ai ở trên đất chúc phước cho mình thì sẽ cầu phước lành nơi danh Đức Chúa Trời chân thật [amen]; còn ai ở trên đất mà thề nguyền, thì sẽ chỉ Đức Chúa Trời chân thật [amen] mà thề nguyền; vì những sự khốn nạn trước đã quên hết, và đã khuất khỏi mặt ta. (Ê-sai 65:16).
Từ a-men là tiếng Hy-bá-lai (Hebrew), có nghĩ là thật vậy, hay quả đúng vậy, chính xác. Trong 4 sách Phúc Âm ĐCJC thường dùng từ này để nhấn mạnh rằng những lời Chúa sắp nói là trung thực và đáng tin: Quả thật [amen], quả thật [amen], ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. 25 Quả thật [amen], quả thật [amen, ta nói cùng các ngươi, giờ đến, và đã đến rồi, khi những kẻ chết sẽ nghe tiếng của Con Đức Chúa Trời, và những kẻ nghe sẽ được sống. (Giăng 5:24-25).
Ý của danh xưng này không phải để tương phản giữa ĐCT với các tà thần, nhưng để nhấn mạnh rằng ĐCT là Đấng thành tín, đáng tin cậy; là Đấng luôn luôn giữ lời giao ước với dân sự Ngài và sẽ hoàn thành mọi lời hứa trong thời điểm và theo ý chỉ Ngài.
Thành phố L. cách thành phố P. khoảng 40 miles về phía Đông Nam, và cũng là thành phố cực Nam trong số 7 thành phố trong KH. Một đặc điểm là L. như một góc của hình tam giác mà 2 đỉnh kia của tam giác là thành phố Hi-ê-ra-bô-li và Cô-lô-se. Thật vậy trong thư gởi HT Cô-lô-se, khi viết về một người hầu việc Chúa trung tín tên Ê-pháp-ra, PL nói đến L & H: Vì tôi làm chứng cho người rằng, người làm việc rất là khó nhọc vì anh em, lại vì người Lao-đi-xê và người Hi-ê-ra-bô-li nữa. 14 Lu-ca là thầy thuốc rất yêu dấu, chào anh em, Đê-ma cũng vậy. 15 Hãy chào các anh em ở Lao-đi-xê (Cô-lô-se 4:13-14). Một nơi khác trong thư C. PL xác nhận rằng ông chưa hề đến với HT L. Theo một giả thuyết thì Ê-pháp-ra chính là người sáng lập HT tại thành phố L.
3 thành phố như 3 đỉnh của tam giác này thuộc về vùng Sông Lycus (River Lycus). Trên hết là H., giữa là L. và cuối là C. với sông Lycus chảy ngang qua vùng và gần thành phố. Thành phố H. nằm trên vùng cao hơn và nổi tiếng với các suối nước nóng (hot springs) như các suối nước nóng mà con cái Chúa đã từng đi qua. Thành phố C. ở vùng thấp hơn và nước sông Lycus chảy qua mát lạnh vì tuyết tan từ ngọn núi Cadmus gần thành phố.
Dù giàu có nức vách, nhưng L. lại thiếu nước. Nên phải dẫn nước từ 2 thành phố H. và C. Nước nóng từ các suối ở H. khi đến thành phố L. trở nên hâm hẩm và hôi mùi diêm thạch. Nước lạnh từ C. khi dẫn đến L. không còn mát lạnh mà cũng trở nên hâm hẩm. Nên lời của ĐCJC cùng HT L. cũng từ một thực tế về nước dân chúng trong thành dùng: không nóng, không lạnh mà hâm hẩm lại có mùi.
Từ nóng và lạnh trong câu 14 thực ra là sôi sục và băng giá. Không phải nóng vừa vừa hay lạnh vừa vừa, nhưng thật nóng hay thật lạnh. Dĩ nhiên một HT hay 1 tín đồ nóng cho công việc Chúa là điều phải làm, điều đáng khen như lời PL dạy: Hãy siêng năng và chớ lười biếng; hãy có tinh thần nóng cháy [có lòng sốt sắng] trong sự phục vụ Chúa. (Rô-ma 12:11-BD201). Hay như khi PL nhắc nhở Ti-mô-thê phải nhen lại, khêu lại ngọn lửa TL, ân tứ TL ban cho: Vậy nên ta khuyên con hãy nhen lại ơn của Đức Chúa Trời ban cho, mà con đã nhận lãnh bởi sự đặt tay của ta. (2 Tim 1:6)
Tác giả thư Hê-bơ-rơ trích trong Thi Thiên để nhắc người tin Chúa khi nghe tiếng Chúa, nghe tiếng Thánh Linh thì chớ cứng lòng: Cho nên, như Đức Thánh Linh phán rằng: Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài. 8 thì chớ cứng lòng (Hê-bơ-rơ 3:7). Có nhiều tình trạng, mức độ, giai đoạn khác nhau của sự cứng lòng như một người bị cứng gan cũng có các giai đoạn từ 1-4. Nhưng theo thời gian, cứng sẽ thành chai như từ gan giai đoạn 1 đến 4. Lúc đó thì không có thuốc gì hay bác sĩ nào có thể chửa được. Vậy nếu lòng tín đồ quá lạnh thì có thể gọi là chai lòng chứ không còn là cứng lòng: cứng đến độ chai và không còn thay đổi được.
Tôi cầu xin Chúa cho mỗi chúng ta có lòng mềm mại để còn nghe được tiếng Chúa nhắc nhở, cáo trách, dạy dỗ. Người cứng lòng cũng như người mà sứ đồ Gia-cơ viết dù có nhìn mình trên gương nhưng không hề đáp ứng dù mặc có dính lọ dơ, tóc có rối bời hay quần áo có rách rưới tả tơi thì cũng mặc kệ. Đó là người khi nghe, khi lời Chúa, khi đọc KT mà lòng vẫn thờ ơ, dững dưng, mặc kệ, bất cần.
Không ai bắt đầu bệnh gan hay bệnh tim với giai đoạn cuối cả. Mọi người bệnh đều bắt đầu với triệu chứng nhẹ rồi dần trở nên nặng hơn. Cũng vậy không một tín đồ nào cứng lòng hoàn toàn một cách bất ngờ, đột ngột nhưng qua thời gian. Từ nóng rồi nguội dần, từ nguội sang hâm hẩm, từ hâm hẩm sang mát, từ mát sang lạnh, rồi trở nên băng giá. Lời Chúa dạy cho HT L. cũng là lời dạy cho mỗi chúng ta: chớ cứng lòng, chớ để lòng mình trở nên hâm hẩm, lạnh nhạt, thờ ơ, dững dưng khi còn nghe tiếng dạy bảo, nhắc nhở, cáo trách của ĐTL. Tình trạng hâm hẩm là một dấu hiệu vô cùng nguy hiểm cho đời sống tâm linh của người tin Chúa.
Phản ứng của ĐCJC với tình trạng hâm hẩm của HT L thế nào? Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta. (3:16). Từ nhả được dịch là nhổ (BDM), phun (BPT). Tiếng nguyên thủy Hy-lạp có nghĩa là ói ra, mửa ra. Đây là 1 từ được dùng để nói lên sự ghê tởm. Chúa thà chúng ta băng giá, chai cứng còn hơn là hâm hẩm. Vì người băng giá, chai cứng là người biết mình không còn muốn gì với ĐCT, là người nói với Chúa ý tôi được nên, là người chủ ý, quyết định dứt khoát họ không tin Chúa, không theo Chúa, không muốn nghe tiếng Chúa. Đây là một người đã quyết định dứt khoát.
Nhưng còn người hâm hẩm là người do dự, phân vân. Đây là người vừa muốn cả thế gian và cả ĐCT tùy theo lúc nào có lợi cho mình, lúc nào dễ dàng, thuận lợi cho mình. Đây là người mà người Mỹ có thành ngữ want to have a cake and eat it too! Nếu không do dự, phân vân thì đây là người thờ ơ, dững dưng, không muốn dấng thân, hứa nguyện hay cam kết điều gì với ĐCT. Đây là người soi gương rồi lập tức bỏ đi, quên mất điều mình thấy trên gương.
Một nhà thần học viết: Người theo Chúa là người thú nhận rằng ở giữa bao nhiêu tiếng nói hổn độn trong thế gian này chỉ có một tiếng nói, tiếng gọi chinh phục tất cả đời sống, phối hiệp tất cả sức lực, tâm trí và tình cảm vào một ý nguyện dâng hiến. Tiếng gọi đó là Jêsus Christ. Người theo Chúa không chỉ là những người tin Ngài là ai nhưng tin vào Ngài với tất cả con tim, trí tuệ và sức lực. (Elton Trueblood). Những lời này chẳng qua cũng chỉ là lời giải thích của lời ĐCJC dạy khi người Pha-ri-si hỏi Chúa trong tất cả các luật pháp thì điều răn nào lớn hơn hết: Có một thầy dạy luật trong bọn họ hỏi câu nầy để thử Ngài: 36 Thưa thầy, trong luật pháp, điều răn nào là lớn hơn hết? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. (Ma-thi-ơ 22:37) Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi (Lu-ca 10:27)
NGUY HIỂM CỦA SỰ GIÀU CÓ
Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ. 18 Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được.
Năm 60 một cơn động đất lớn tàn phá cả 2 thành phố P. và L. Dân chúng thành P. phải nhờ sự trợ giúp tài chánh của chính quyền La-mã để xây lại thành phố. Nhưng dân chúng thành phố L. nói với chính quyền La-mã, với đại đế Nê-rô cảm ơn nhưng tôi không cần (thanks but no thanks!) Họ giàu có đến nỗi có thể tự xây cất lại một thành phố hoàn toàn mới mà không hề cần đến sự trợ giúp của chính quyền. Hai năm sau khi thành phố mới được xây lại thì một số người DT trong thành phố gởi tặng cho đền thờ Giê-ru-sa-lem 20 lbs tức khoảng 9.1 kg vàng (~$450K)
Vấn đề không phải là sự giàu có nhưng là thái độ của HT trong sự giàu có: Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa. Chú ý lời lập lại: ta giàu, ta nên giàu có rồi cho thấy một thái độ tự phụ, kiêu ngạo. Giàu đến nỗi không cần chi nữa [oudeis]; từ oudeis nghĩa là không ai, không điều gì, nothing. Sự giàu có này cũng ảnh hưởng đến HT và tín đồ trong HT thành L.
Đây là sự tương phản giữa HT L. và HT Si-miệc-nơ, họa nạn và nghèo khổ. Sứ đồ Giăng viết thư KH trong thời gian bị đại đế Domitian đày ra một đảo nhỏ tên Bát-mô vào khoảng năm 95. Trong tất cả các đại đế La-mã, Domitian là đại đế duy nhất tuyên bố mình là Chúa và Trời khi vẫn còn đang sống và bắt buộc dân sự toàn đế quốc phải thờ lạy ông. KH 13:15-17 viết: Nó cùng được quyền hà hơi sống vào tượng con thú, hầu cho tượng ấy nói được và khiến hết thảy những kẻ nào không thờ lạy tượng con thú đó bị giết đi. 16 Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán, 17 hầu cho người nào không có dấu ấy, nghĩa là không có danh con thú hay số của tên nó, thì không thể mua cùng bán được. Tượng con thú (image of the beast) chính là ẩn dụ về đại đế Domitian. Hàng năm dân chúng phải vào đền thờ đại đế để rải tro và quì lạy tung hô Ceasar là chúa, là trời. Nếu làm điều này, thì sẽ được cấp cho một giấy chứng nhận là công dân La-mã trung thành. Và chính giấy chứng nhận này được viết trong câu 17 như là dấu trên tay hữu hoặc trên trán. Nếu không thờ lạy đại đế thì sẽ bị giết; nếu không có giấy chứng nhận cũng sẽ không được mua bán hay gia nhập các hội đoàn thương mãi. Tín đồ HT Si-miệc-nơ từ chối làm điều này nên gặp hoạn nạn và nghèo khó. Nhưng tín đồ HT L. thì không bởi vì sợ mất sự giàu có, mất tài của, sản nghiệp.
Có thể tín đồ HT L. xưa nghĩ rằng sự giàu có của họ là bằng chứng của ơn phước Chúa ban cho. Quả thật đây là một ý nghĩ vô cùng sai lầm và nguy hiểm. Lời Chúa trách HT L. là lời dạy rất rõ rằng sự giàu có về vật chất chẳng những không phải là bằng chứng của ơn phước từ Chúa nhưng còn có thể trở nên một nguyên nhân sinh ra tội lỗi. Rằng sự giàu có có thể khiến chúng ta trở nên nghèo khó, mù lòa, trần trụi về tâm linh: song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ.
Năm tĩnh từ ĐCJC dùng để nói về tình trạng của HT L. 2 từ đầu tiên khổ sở, khốn khó nói lên tình trạng tâm linh của 1 người sống trong bóng tối dưới gánh nặng của tội lỗi, như lời than thở của PL về cuộc chiến tranh nội tâm giữa thiện và ác, đúng và sai, ánh sáng và bóng tối trước khi được Chúa cứu: Nhưng tôi nhận thấy trong chi thể tôi một luật khác tranh chiến với luật của tâm trí tôi, và bắt tôi làm nô lệ cho luật tội lỗi là luật ở trong các chi thể tôi. 24 Khốn khổ cho tôi; ai sẽ giải cứu tôi khỏi thân thể hay chết này (Rô-ma 7:23-24 – BDM)
3 từ còn lại nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ từ sự tương phản với những điều mà dân chúng, tín đồ thành phố L. lấy làm hãnh diện. Nghèo ngặt tương phản với sự giàu có của thành phố là một trung tâm thương mãi, đặc biệt về ngân hàng. Đui mù tương phản với niềm tự hào vì thành phố L. là một trung tâm y khoa nổi tiếng cả xứ Tiểu Á về việc chửa mắt, đặc biệt là thuốc xức mắt của các bác sĩ thành phố. Lõa lồ tương phản với danh tiếng của thành phố như một trung tâm thương mãi về vật liệu quần áo, đặc biệt là thành phố nổi tiếng với một loại lông cừu màu đen mềm và rất đẹp mà không nơi nào khác trong cả đế quốc La-mã có được.
Những điều dân chúng, tín đồ thành phố L. lấy làm hãnh diện, tự hào thì Chúa lại xem là những chướng ngại ngăn cản cho quan hệ của họ với Chúa. Nên Chúa khuyên HT Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được.
Chúa dùng từ mua, Ta khuyên ngươi hãy mua trước hết như một lời châm biếm, trách móc vì dân chúng thành phố và cả tín đồ nghĩ rằng mọi việc đều có thể mua được vì giàu có, để tương phản với những điều mà họ mua bằng tiền bạc nhưng không giá trị, ý nghĩa gì dưới mắt Chúa. Nhưng Chúa khuyên họ mua cũng bởi vì những điều giá trị thật sự và trường cữu, đời đời cũng có một giá đắt của nó.
Dù sự cứu rỗi không tốn gì cho chúng ta, nhưng tốn ĐCJC vô cùng, như PL giải thích trong thư Phi-líp: Vì Ngài vốn có bản thể Đức Chúa Trời nhưng không coi sự bình đẳng với Đức Chúa Trời là điều phải nắm giữ. 7 Nhưng chính Ngài tự bỏ mình, mang lấy bản thể của một tôi tớ, trở nên giống như loài người, có hình dạng như một người. 8 Ngài đã tự hạ mình xuống, chịu vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên thập tự giá. (Phi-líp 2:6-8 – BDM).
Dù sự cứu rỗi không tốn gì cho chúng ta, nhưng để trở nên môn đồ ĐCJC chúng ta phải chịu trả giá đắt là phải vác thập giá mình mỗi ngày, có nghĩa là phải chịu chết cái tôi của mình, phải chịu chết đi con người cũ với những tham lam, ích kỷ của bản tính xác thịt, phải tập đòi tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, 5 chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, 6 chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. 7 Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. (1 Cô-rinh-tô 13:4-6)
Tôi nghĩ đến một số thanh niên. Tối thứ sáu thay vì nghĩ ngơi sau một tuần làm việc, học hành, hay đi chơi các em chịu trả giá để đến nhà thờ tập hát, học KT. Tôi nghĩ đến con cái Chúa dành thời gian tối thứ tư để cầu nguyện cho nhau và cho hội thánh, dành thời gian sáng hay trưa thứ bảy để học KT. Thay vì dùng 10% của tiền mình làm cực khổ để tiêu xài cho mình, cho gia đình, lại vâng lời Chúa dạy dâng hiến để HT Chúa có thể truyền giảng TL, để giúp cho những mục vụ truyền giáo hay để giúp cho những người nghèo khó, thiếu thốn. Sự trưởng thành trong Chúa, sự phục vụ đòi hỏi chúng ta phải chịu trả giá.
Vàng đã được thử luyện từ Chúa mới thật làm cho họ giàu có. Vàng này là gì? Là sự kính sợ ĐCT, là lời của Chúa: Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch, hằng còn đến đời đời; Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chân thật, thảy đều công bình cả. 10 Các điều ấy quí hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng (TT 19:9-10). Là đức tin được tôi luyện qua hoạn nạn, thử thách: Hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra. (1 Phi-e-rơ 1:7)
Áo trắng tinh khiết từ Chúa mới che được sự trần truồng, và những điều xấu hổ. Đây là áo trắng mà ĐCJC hứa sẽ ban cho những người trung tín với Chúa trong HT Sạt-đe có tiếng sống nhưng chết Nhưng, ở Sạt-đe, ngươi còn có mấy người chưa làm ô uế áo xống mình: những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng ta, vì họ xứng đáng như vậy. 5 Kẻ nào thắng, sẽ được mặc áo trắng như vậy. (KH 3:4-5). Là áo của sự công chính Chúa ban cho những người trung tín với Ngài cho đến chết: Mỗi người trong số ấy được ban cho một chiếc áo dài tinh bạch và khuyên phải nghỉ ngơi ít lâu nữa, cho đến khi đủ số bạn đồng lao và các anh chị em sắp bị giết như họ. (KH 6:11 – BDM)
Thuốc xức mắt từ Chúa mới giúp cho họ được sáng con mắt tâm linh bên cạnh con mắt thể xác. Một chuyện kể về phép lạ Chúa làm cho người mù được sáng. Những người Pha-ri-si nghe vậy thì vấn hỏi người mù được chửa lành, rồi lại mắng nhiếc ông ấy. Nghe vậy, Chúa đến tìm gặp người mù được sáng mà hỏi ông có tin Ngài không. Sau đó KT viết: Đức Giê-su phán: "Ta đến để xét đoán thế gian: Khiến người mù sáng mắt, còn kẻ mắt sáng hóa nên mù lòa!" 40 Mấy người Pha-ri-si có mặt ở đó nghe vậy liền hỏi: "Ông bảo chúng tôi mù cả sao?" 41 Đức Giê-su đáp: "Nếu các người mù lòa thì chẳng có tội gì, nhưng vì các người cho mình sáng mắt nên tội vẫn còn!" (Giăng 9:39-41 – BDM)
MỞ CỬA LÒNG CHO CHÚA
Phàm những kẻ ta yêu thì ta quở trách sửa phạt; vậy hãy có lòng sốt sắng, và ăn năn đi. 20 Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta. 21 Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài. 22 Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh! (3:19-22)
Một điều vô cùng ngạc nhiên nhưng yên ủi cho HT hâm hẩm này là từ câu 19-20. Chúa vẫn yêu thương HT L. và ban cho họ cơ hội và thời gian để ăn năn, thay đổi. Kẻ Ta yêu là một lời hết sức quí báu mà ĐCJC gọi các tín đồ HT L. Và khi Chúa yêu thì Ngài quở trách, sửa phạt như cha với con. Hãy nhớ điều này mỗi để khi chúng ta chịu sự sửa phạt từ nơi Chúa thì không nản lòng, nhưng hiểu rằng Chúa vẫn còn gọi chúng ta là kẻ Chúa yêu. Khi chịu sự quở trách, sửa phạt thì chúng ta cũng cần phải ăn năn.
Hầu hết tín đồ đều nghe hay biết câu 20: Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta. Qv chắc cũng thấy những bức tranh có hình ĐCJC đứng bên ngoài cửa mà gõ. Qv chắc cũng nghe bài giảng về lòng nhân từ, kiên nhẫn của Chúa đứng chờ đến khi người chưa tin Ngài mở cửa lòng để đón nhận Chúa làm cứu chúa của đời mình. Đây cũng là hình ảnh của người chồng gõ cửa khi vợ đang ngủ trong Nhã Ca 5:2 Tôi ngủ, nhưng lòng tôi tỉnh thức. Ấy là tiếng của lương nhân tôi gõ cửa, mà rằng: Hỡi em gái ta, bạn tình ta, chim bò câu ta, kẻ toàn hảo của ta ơi, hãy mở cửa cho ta! KT dạy ĐCJC là chàng rễ và HT là cô dâu; và đến ngày cuối sẽ có yến tiệc của Chiên Con với HT trên thiên đàng.
Nhưng đây không phải là ý nghĩa duy nhất của câu KT này. Trong chuyện ngụ ngôn ĐCJC kể trong Lu-ca 12 người gõ cửa chính là chủ mà những người tớ phải thức chờ để mở cửa cho vì không biết khi nào chủ sẽ về: Hãy làm như người chờ đợi chủ mình ở tiệc cưới về, để lúc chủ đến gõ cửa thì liền mở. 37 Phước cho những đầy tớ ấy, khi chủ về thấy họ thức canh! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ thắt lưng mình, cho đầy tớ ngồi bàn mình, và đến hầu việc họ. 38 Hoặc canh hai, canh ba, chủ trở về, nếu thấy đầy tớ như vậy thì phước cho họ! (Lu-ca 12:36-38).
Tuy nhiên lời của ĐCJC trong KH 3:20 có một điều quan trọng và cần thiết: nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho. Một câu chuyện kể về tiên tri Ê-li khi Chúa gọi ông đến núi Hô-rép. Rồi Chúa bảo ông hãy đứng trên núi Chúa sẽ đi ngang qua. Đức Chúa Trời phán với người rằng: Hãy đi ra, đứng tại trên núi trước mặt Đức Giê-hô-va. Nầy Đức Giê-hô-va đi ngang qua, có một ngọn gió mạnh thổi dữ tợn trước mặt Ngài, xé núi ra, và làm tan nát các hòn đá; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong trận gió. Sau trận gió có cơn động đất; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong cơn động đất. 12 Sau cơn động đất có đám lửa; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong đám lửa. Sau đám lửa, có một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ. 13 Khi Ê-li vừa nghe tiếng đó, thì lấy áo tơi bao phủ mặt mình, đi ra đứng tại nơi miệng hang; này có một tiếng phán với người rằng: Hỡi Ê-li, ngươi làm chi đây? (1 Các Vua 19:11-13)
Tiếng gõ cửa có lúc không dễ mà nghe nếu trong nhà quá ồn ào với tiếng nhạc, tiếng cười, tiếng nói. Nên phải chủ ý lắng nghe, phải kiên nhẫn lắng nghe như Chúa chủ ý và kiên nhẫn mà gõ. Và Chúa chỉ vào ăn bửa tối với người mở cửa. Hình ảnh ăn bửa tối nói lên quan hệ gần gũi. Chủ không ăn tối với tớ. Người quyền thế không ăn tối với kẻ nghèo khó. Nhưng dù Chúa của muôn chúa, Vua của muôn vua, ĐCJC hạ mình, kiên nhẫn để gõ cửa và để vào ăn bửa tối với chúng ta. Có hình ảnh nào thân ái như hình ảnh này.
