Hội Thánh Cần Thanh Tẩy — Thư Gởi Hội Thánh Thi-a-ti-rơ (Khải Huyền 2:18-29)
Thư gởi HT thành phố Thi-a-ti-rơ trong KH 2 là thư thứ 4 trong 7 thư gởi các HT vùng Tiểu Á. Thư T. là thư dài nhất trong 7 thư nhưng thành phố T. là một thành phố nhỏ, kém quan trọng nhất trong 7 thành phố. T. không to lớn, phồn thịnh, nổi tiếng như Ê là một thành phố cảng với các đền thờ của đại đế La-mã và đền thờ nữ thần Diana, 1 kỳ quan của thế giới cỗ. Thành phố T. cũng không có những đền thờ vĩ đại như Bẹt-găm, nơi KT gọi là ngôi của Sa-tan, nơi Sa-tan ở, không những là một thành phố lớn, quan trọng trong vùng Tiểu Á về chính trị, kinh tế, tri thức nhưng còn là một trung tâm tôn giáo nổi tiếng của đạo thờ lạy đại đế La-mã, của thần Zeus và đặc biệt hơn hết là thần Asclepius, thần chửa bệnh tay cầm cây trượng với con rắn quấn quanh. T. cũng không phải là nơi có đông dân cư DT (Giu-đa) như Si-miệc-nơ, nơi tín đồ HT Chúa bị bắt bớ vì cớ dân Giu-đa.
Tại thành phố nhỏ, bình thường này, ảnh hưởng đến HT Chúa, đến tín đồ HT tại thành phố này là các hội đoàn thương mãi. Di tích của các bản đá có chữ khắc và các đồng tiền cỗ tìm được cho biết T. là một thành phố thương mãi với nhiều hội đoàn của các ngành nghề. Mỗi ngành nghề từ nghề thợ đồng, thợ da, hay thợ nhuộm đều có hội đoàn riêng. Một trong các hội đoàn là về việc buôn bán hàng tía (màu tím) là nghề của bà Ly-đi-a, người từ thành phố T. này và là người tin Chúa đầu tiên tại thành Phi-líp khi PL đến giảng TL: Đến ngày Sa-bát, chúng ta ra ngoài cửa thành, đến gần bên sông, là nơi chúng ta tưởng rằng người ta nhóm lại đặng cầu nguyện; chúng ta ngồi xong, giảng cho những đàn bà đã nhóm lại. 14 Có một người trong bọn đó nghe chúng ta, tên là Ly-đi, quê ở thành Thi-a-ti-rơ, làm nghề buôn hàng sắc tía, vẫn kính sợ Đức Chúa Trời. Chúa mở lòng cho người, đặng chăm chỉ nghe lời Phao-lô nói. (CV 16:13-14)
Theo một sách giải kinh thì thành phố T. cũng giống như thành phố Hà Nội xưa với 36 phố phường, mỗi phố chuyên một nghề, một sản phẩm như Hàng Bông, Hàng Bạc, Hàng Cơm, Hàng Gà, Hàng Bột... Cũng vậy T. cũng gồm các khu phố chuyên nghệ như khu buôn bán hay làm đồng, khu buôn bán, nhuộm vãi... Để có thể hành nghề, kiếm sống, hầu hết, nếu không nói tất cả, mọi người đều phải tham gia vào các hội đoàn thương mãi này, phải là thành viên của các hội thương mãi này. Những người làm nghề đồng là thành viên của hội làm đồng; những người buôn bán hàng tía như Ly-đi-a là thành viên của hội bán hàng tía.
Nan đề của tín đồ HT T. là họ không thể tham gia vào các hội nghề nghiệp này vì mỗi hội đoàn đều thờ cúng các thần để phù hộ của nghề của họ. Thành viên của hội phải tham dự vào các buổi ăn thông công với thức ăn đã cúng cho thần, phải tham gia vào các cuộc nhậu nhẹt say sưa, trác táng, thậm chí với việc chơi bời, đàn điếm. Điều này cũng không khác gì mấy với cách làm ăn buôn bán tại một số quốc gia hôm nay.
Vì không thể làm thành viên của các hội đoàn này nên tín đồ HT phải gặp rất nhiều khó khăn trong nghề nghiệp, cho việc kiếm sống. Đây là lý do của sự nghèo khó KT viết trong thư gởi cho HT Si-miệc-nơ, Ta biết sự khốn khó, nghèo khổ của ngươi. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này khi tìm hiểu đến phần sau của thư gởi HT T.
ĐẤNG DÒ XÉT HỘI THÁNH
Con hãy viết cho thiên sứ của hội thánh Thi-a-ti-rơ: "Con Đức Chúa Trời, Đấng có mắt như ngọn lửa và chân như đồng bóng loáng phán (KH 2:18 - BDM)
Trong thư, 3 hình ảnh được dùng để nói về ĐCJC. Đầu tiên là Con Đức Chúa Trời. Đây là nơi duy nhất trong cả sách KH, ĐCJC xưng mình là Con Đức Chúa Trời. Danh xưng này không có nghĩa là ĐCJC ở dưới quyền hay thấp quyền hơn ĐCT mà Ngài gọi là Cha, cũng như ĐTL không dưới quyền hay thấp quyền hơn ĐCJC và ĐCC. Danh xưng này được dùng trong thư để cho biết rõ rằng chính Chúa mới thật là Con ĐCT, chứ không phải thần bảo hộ của thành T. là Apollos, con của thần Zeus (trưởng các thần Hy Lạp). Chính ĐCJC mới thật là Đấng mọi người phải tôn thờ và tuân phục, chứ không phải đại đế La-mã hay một thần nào khác.
Giáo điều Ba Ngôi ĐCT dạy rằng ĐCT có 3 ngôi liên hệ với nhau cách mật thiết nhưng bình đẳng và cùng một bản thể. Cùng một bản thể có nghĩa là cùng một thể chất như người cùng một thể chất với người nhưng khác với các loài thú vật hay cây cỏ. ĐCJC, Con ĐCT là Đấng có cùng một bản thể với Cha và với ĐTL. ĐCT là Đấng Sáng Tạo, nhưng thiên sứ, vũ trụ, trời đất, con người là loài thọ tạo, tức được sáng tạo bởi ĐCT, không cùng một bản thể với ĐCT. Như người chỉ sinh ra người, không thể sinh ra robot, nhưng chỉ chế tạo robot.
Vậy khi gọi ĐCJC là Con ĐCT thì ý nghĩa của danh xưng này khác với khi gọi người tin Chúa là con ĐCT vì ĐCJC có cùng một bản thể với ĐCT nhưng chúng ta chỉ là loài được Chúa sáng tạo và được nhận là con cái của Ngài qua ĐCJC. Đây là một khác biệt vô cùng quan trọng.
Lịch sử HT có 2 nhân vật nổi tiếng, 1 chính, 1 tà. Nhân vật chính là Athanasius, tà là Arius. Cả 2 sống trong thời của đại đế Constantine the Great, là vua La-mã đã chính thức hóa đạo Chúa là tôn giáo của cả đế quốc La-mã vào năm 323. Gần suốt cuộc đời Athanasius tranh cải với Arius về một chữ I.
In 325, at the age of 27, Athanasius began his leading role against the Arians as a deacon and assistant to Bishop Alexander of Alexandria during the First Council of Nicaea. Roman emperor Constantine the Great had convened the council in May–August 325 to address the Arian position that the Son of God, Jesus of Nazareth, is of a distinct substance from the Father.
The one who led that teaching was Arius. Athanasius opposed Arius, and Arius usually was winning for a long time. Athanasius was exiled and beaten and put in prison. He spent all of his life running around fighting Arius over one letter. Do you know what that letter was? Arius said, “Jesus, the Son, is homoiousios with the Father,” which means like substance. Athanasius says, “No, he’s homoousios, the same substance. Get that ‘I’ out of there.”
Athanasius dedicated his life to get the “I” out of the creed, to get the “I” out of the confession. He spent his entire life, he poured himself out to make sure people knew Jesus Christ was the Word become flesh, that he was God incarnate. The reason he gave his life to that, so that on his gravestone it says, “Athanasius contra mundum,” Athanasius against the world, is he knew this is the grand miracle out of which all other miracles flow.
Đấng mắt như ngọn lửa là hình ảnh tả về ĐCJC trong KH 1:14 và trong sách CU là Đa-ni-ên 10:6 viết trên 500 năm trước khi ĐCJC giáng sinh. Hình ảnh này nói lên cái nhìn xuyên suốt, thấu qua mọi che dấu của lừa dối, tội lỗi, nhìn suốt qua những sai lầm, vi phạm trong HT. Không một điều gì mờ ám, sai quấy có thể che đậy trước cặp mắt như lửa này. Mắt Chúa nhìn suốt qua cách rõ ràng, thấu đáo mọi mưu kế, mọi động cơ giả tạo, miệng nói một đằng nhưng lòng nghĩ một nẽo. Mắt Chúa cũng sẽ nhìn thấu mọi ý nghĩ, dự tính trong lòng người. Mắt Ngài nhìn thấy mọi đường lối của loài người. (Giê-rê-mi 32:19) Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại (Hê-bơ-rơ 4:10)
Cùng một ý của Đấng mắt như ngọn lửa là Đấng dò biết lòng dạ loài người (c23). Hầu hết qv đây đều biết từ tim trong Anh ngữ là cardio và chuẩn bệnh là diagnosis; 2 từ này có gốc từ tiếng Hy-lạp, tức ngôn ngữ dùng viết KTTU. Hai lần trong sách CV 1:24 & 15:8, từ này được dùng như một từ ghép để nói về ĐCT kardiognōstēs, có nghĩa là biết con tim, chuẩn bệnh con tim. Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm. (Giê-rê-mi 17:10)
Chân như đồng sáng. T. cũng có tiếng về đồng với chất lượng, dùng cho công nghiệp và để làm vũ khí, áo giáp cho quân đội và hình tượng của các thần. Vậy hình ảnh chân như đồng sáng có thể để nhấn mạnh quyền năng dày đạp kẻ thù và cũng để tương phản với các tượng thần bằng đồng trong thành phố.
LỜI KHEN THƯỞNG
Ta biết công việc ngươi, lòng thương yêu ngươi, đức tin ngươi, sự hầu việc trung tín ngươi, lòng nhịn nhục ngươi, và công việc sau rốt ngươi còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa. (KH 2:19)
Lời khen thưởng của Chúa với HT T. cho thấy đây là một HT hết sức hăng hái, tích cực hầu việc Chúa. Họ không chỉ hầu việc trong quá khứ nhưng công việc hiện tại còn nhiều hơn công việc lúc đầu; chẳng phải là dấu hiệu của một HT thật sự tăng trưởng trong sự phục vụ hay sao? Tấm lòng phục vụ hôm nay còn mạnh mẽ hơn, nhiệt thành hơn lúc đầu. Qv nhớ đây cũng lời khen của Chúa với HT Ê-phê-sô: Ta biết công việc ngươi, sự khó nhọc ngươi... 3 Ngươi hay nhịn nhục và chịu khó vì danh ta, không mệt nhọc chút nào. (KH 2:2).
Nhưng HT T. còn hơn HT Ê. vì không chỉ trung tín hầu việc Chúa, đầy dẫy đức tin mà còn đầy dẫy lòng yêu thương, là điều mà Chúa trách HT Ê đã đánh mất tình yêu thương ban đầu. 3 tính hạnh quan trọng PL nêu lên trong 1 Cor 13 là đức tin, hy vọng và tình yêu thương. HT T. có cả đức tin và tình yêu thương. Còn hy vọng? Chúa khen HT có lòng nhịn nhục hay lòng kiên nhẫn. Một người không thể kiên nhẫn hay nhẫn nhịn nếu không có hy vọng. HT T. cũng giống như HT Thê-sa-lô-ni-ca về 3 phẩm tính quí báu này: Trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, chúng tôi nhớ đến công việc anh chị em làm do đức tin, lao khổ anh chị em chịu vì tình thương và lòng kiên trì của anh chị em nhờ hy vọng nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta. (1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:3 – BDM)
LỜI QUỞ TRÁCH
Nhưng Ta có điều trách con vì con dung túng Giê-sa-bên, người đàn bà tự xưng là nữ tiên tri dạy dỗ và lừa gạt các đầy tớ Ta, quyến rũ họ phạm tội tà dâm và ăn của cúng thần tượng. (KH 2:20 - BDM)
Nếu thư gởi cho HT chấm dứt tại đây thì quả thật là một điều HT đáng lấy làm vui thỏa. Một HT phục vụ hết lòng, hết sức, ngày càng trung tín hơn, bền đỗ hơn, tích cực hơn so với lúc ban đầu. Không chỉ phục vụ nhưng phục vụ với lòng đầy tràn đức tin, hy vọng và tình yêu thương. Trước những khó khăn, trở ngại, thử thách, dù trong công việc hay trong quan hệ với nhau, HT có lòng kiên nhẫn, không bỏ cuộc. Vấn đề là ở chữ nhưng, Nhưng điều ta trách ngươi.
HT T. tưởng gương mẫu trong sự phục vụ, lòng yêu thương, tính kiên trì, nhưng lại có những nan đề hết sức trầm trọng. Khó khăn, hoạn nạn xảy đến với HT Si-miệc-nơ (thư thứ 2) từ sự bắt bớ, vu oan, dèm pha, nói xấu từ bên ngoài HT, từ những người Giu-đa, từ dân chúng trong thành phố. HT S. đứng vững trước những áp lực, khó khăn, bắt bớ từ ngoài HT. Nan đề của HT T. và Bẹt-gam (thư thứ 3) không phải từ bên ngoài HT nhưng từ chính bên trong HT. Và cả 2 HT đều vấp ngã, phạm tội cùng Chúa vì không đứng vững nỗi trước sự tấn công của ma quỉ từ chính bên trong HT.
Tôi đề tựa lá thư gởi HT B. là Hội Thánh Dung Túng Tà Giáo. Tựa đề đó cũng có thể dùng cho thư gởi HT T. Chúng ta có thể ví HT T. như một khu vườn đẹp nhưng rất tiếc không chỉ cỏ dại mà cỏ độc lại để mọc cách bừa bãi, không kiểm soát. Thời gian sau, cỏ độc dần dần giết hết những bông hoa xinh đẹp trong vườn.
HT Ê. giữ vững lời Chúa, biết phân biệt những giáo sư giả tự nhận là sứ đồ nhưng không phải là sứ đồ. Vì sự thận trọng, dè giữ, vì lúc nào như cũng phải phòng thủ, bảo vệ HT khỏi ảnh hưởng của giáo sư giả, của những lời dạy sai lạc, nên HT ngày càng trở nên cứng cỏi đến nỗi mất đi tình yêu thương ban đầu. Trong quá trình bảo vệ sự thật, lý trí của tín đồ HT Ê ngày càng mạnh mẽ, nhưng con tim của họ cũng dần trở nên chai cứng.
Trái với HT Ê., HT T. đầy tình yêu thương ngọt ngào nhưng chính bởi họ hiểu sai ý nghĩa thật của tình yêu thương nên trở nên dung túng với người dạy họ những điều hết sức sai lầm, tội lỗi. Tôi chắc qv có nghe nói vì Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. (1 Cô-rinh-tô 13:7) nên thôi cứ bỏ qua mọi việc.
Nhưng chớ quên rằng trước lời dạy đó về tình yêu thương thì PL viết: chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. (v. 7). PL cũng dạy phải nói thật trong tình yêu thương. Qv cũng nhớ trong đoạn KT trước đó khi nói về các ân tứ TL thì sứ đồ PL liệt ra một ân tứ là phân biệt được các thần: người thì được làm phép lạ; kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần (1 Cor 12:10. Đây là ân tứ, khả năng Chúa ban cho để phân biệt được giữa thần linh ĐCT và thần linh ma quỉ, giữa giáo sư thật và giáo sư giả, giữa lời dạy đúng và lời dạy sai. Vậy yêu thương không có nghĩa là chấp nhận sai quấy, dung túng tà giáo, cứ để mặc ai muốn dạy gì thì dạy cho tín đồ HT.
Hầu hết qv đây đều có nghe hay đọc câu chuyện về Ma-ri và Ma-thê: Ma-thê ngồi dưới chân Chúa để nghe lời Chúa dạy còn Ma-ri thì bận rộn chuẩn bị bửa ăn. ĐCJC nói với Ma-ri khi bà phàn nàn cùng Chúa rằng em mình không giúp gì rằng Ma-thê đã chọn điều tốt hơn. Nhiều người kết luận rằng lời Chúa dạy chúng ta phải đặt ưu tiên cho việc nghe lời Chúa hơn là phục vụ. Đúng vậy không? Hoàn toàn đúng đối với người luôn luôn tích cực phục vụ. Nhưng chỉ là lời biện hộ cho sự biến nhác, không muốn phục vụ, chỉ muốn được phục vụ.
Cũng vậy tình yêu thương không hề, không hề phủ nhận hay trái ngược với sự thật. Tình yêu thương thiếu sự thật cũng chỉ là xúc cảm, có thể khích lệ, yên ủi nhưng làm ngơ hay nhắm mắt trước mọi lầm lỗi, sai quấy. Sự thật không tình yêu thương có thể trở nên tàn nhẫn: dù nói lên điều đúng sai nhưng người nghe không muốn hay không thể tiếp nhận. Có người nói phải có một cây cầu quan hệ vững chắc để có thể chịu nỗi sức nặng của sự thật. KT dạy phải Nói thật trong tình yêu thương. Tình yêu thương phải gắn liền với sự thật. Tình yêu thương trong Chúa phải gắn liền với lẽ thật của lời Chúa trong KT.
Chúa quở trách HT T. vì con dung túng Giê-sa-bên, người đàn bà tự xưng là nữ tiên tri dạy dỗ và lừa gạt các đầy tớ Ta, quyến rũ họ phạm tội tà dâm và ăn của cúng thần tượng. Người nữ Giê-sa-bên xưng mình là tiên tri dạy dỗ, phỉnh phờ tín đồ HT T. là ai?
Trước hết đây không phải là tên của một người nữ nào đó trong HT nhưng là một tên hiệu, danh xưng tượng trưng từ một hoàng hậu rất độc ác, chống trả ĐCT trong KTCU tên Giê-sa-bên. Tên hiệu hay danh xưng này cũng như Ba-lam hay Ba-by-lôn hay Sô-đôm, không phải chỉ nói lên một nhân vật hay một địa điểm nhưng còn được dùng như một biểu tượng, như Sô-đôm không phải chỉ là về thành phố Sô-đôm nơi gia đình Lót đến ở, nhưng còn là biểu tượng của một nơi đầy dẫy tội lỗi, đặc biệt là về tội đồng tính.
Giê-sa-bên là vợ của vua A-háp, vua xứ Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ xứ Ỵ chia cắt làm 2 miền: miền bắc gọi là Ỵ, miền nam là Giu-đa. G. là người đã đem tà giáo vào trong xứ Ỵ Cha của G. tên Ết-ba-anh là thầy tế lễ của thần Át-tạt-tê, giết vua xứ Si-đôn để soán ngôi. Thần Át-tạt-tê của xứ Si-đôn cũng tương tự như nữ thần Áp-phô-đít của Hy Lạp hay Vệ-nữ của La-mã, thần tình dục. Khi đến thờ cúng thần Át-tạt-tê sau khi dâng của lễ cho thần, người ta sẽ ăn nằm với những kỵ nữ hay nam giới.
Sau khi lấy vua A-háp, G. chủ động thay đổi việc thờ phượng ĐGHV bằng việc thờ lạy thần Át-tạt-tê. Bà thuyết phục vua A-háp lập đền thờ cho thần Át-tạt-tê tại thủ đô Sa-ma-ri, lập một nhóm 850 thầy tế lễ để phục vụ thần Át-tạt-tê và tìm mọi cách để giết các tiên tri và người hầu việc Chúa. Đến nỗi một quan phải dấu 100 người tin Chúa còn lại trong xứ vào hang động.
G. còn là một người vô cùng độc ác, tàn nhẫn. Chuyện kể về một người tên Na-bốt, có một vườn nho cạnh bên cung điện vua A-háp tại Sa-ma-ri. Vua thấy vườn nho, động lòng tham nên nói với Na-bốt hãy nhượng vườn nho đó cho vua, vua sẽ trả lại tiền. Na-bốt không đồng ý nhượng hay bán miếng vườn đó. Nên vua A-háp lấy làm rất tức bực, đến nỗi không muốn ăn uống. G. thấy vậy hỏi vua về lý do và sau khi nghe chuyện thì bảo chồng hãy ngồi dậy đi ăn, vui lên rồi Thần thiếp sẽ tặng vua vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên. (1 Các Vua 21: 7 – BDM) Để cướp lấy vườn nho của Na-bốt, G. lập mưu vu khống cho Na-bốt là rủa sả ĐCT và vua nên bị ném đá cho đến chết.
Vậy khi gọi người dạy dỗ và lừa gạt (phĩnh phờ) tín đồ HT T. là G. ĐCJC muốn nhấn mạnh tội ác và tai hại trầm trọng của người phụ nữ này. Người này như cỏ độc lang ra giết hết những bông hoa trong khu vườn tươi đẹp của HT Chúa. Điều độc hại hơn hết là HT T. không hề nhận biết cỏ độc này. Trái lại HT tiếp tục để cỏ độc này ngày càng lan rộng thêm ra, khiến tín đồ HT ngày càng đi xa đường lối Chúa, ngày càng lúng sâu trong vòng tội lỗi mà không hề biết đến.
Một câu chuyện kể về cách mà những người sống trong vùng Bắc Cực đông giá, lạnh lẽo bắt giết các con sói để lấy lông. Trước hết họ lấy máu để cho đặc lại rồi tẩm máu đặc quanh lưỡi thật bén của dao. Theo thời tiết máu sẽ trở nên cứng như nước đá bên ngoài. Người săn sói cắm con dao ngược xuống đất với lưỡi dao bọc đầy máu đông đặc chỉa lên trời. Sói ngưởi được mùi máu nên đến để tìm máu. Nó liếm máu bọc lưỡi dao nhưng vì lạnh và vì say mê máu nên càng liếm dao cho đến chết mà không biết đang liếm chính máu từ miệng của nó. Mưu kế của ma quỉ cũng vậy. Từ từ. Trước hết làm cho người nghe bùi tai, không phân biệt được đúng sai, đen trắng.
“You will say that these are very small sins; and doubtless, like all young tempters, you are anxious to be able to report spectacular wickedness. But do remember, the only thing that matters is the extent to which you separate the man from the Enemy. It does not matter how small the sins are provided that their cumulative effect is to edge the man away from the Light and out into the Nothing. Murder is no better than cards if cards can do the trick. Indeed the safest road to Hell is the gradual one-the gentle slope, soft underfoot, without sudden turnings, without milestones, without signposts.” (Screwtape Letters, 12)
ĐỂ NHẬN BIẾT TIÊN TRI GIẢ
Nhưng Ta có điều trách con vì con dung túng Giê-sa-bên, người đàn bà tự xưng là nữ tiên tri dạy dỗ và lừa gạt các đầy tớ Ta, quyến rũ họ phạm tội tà dâm và ăn của cúng thần tượng. (KH 2:20 - BDM)
Khi mới đọc qua 2 thư gởi HT Bẹt-găm và T. chúng ta thấy như cả 2 HT đều có cùng 1 vấn đề. Bẹt-găm có 1 nhóm người dạy những điều như Ba-lam ngày xưa và Ni-cô-la thời đó dạy ăn thịt cúng thần tượng và rủ ren làm điều dâm loạn (2:14). Đây cũng là lời dạy của một người nữ KT gọi là Giê-sa-bên với tín đồ HT T. dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng. Nhưng tại sao thư gởi HT T. lại gồm rất nhiều chi tiết và lời quở trách của ĐCJC hơn so với thư gởi Bẹt-găm. Lý do là vì nan đề về giáo sư giả, về những lời dạy sai lầm tại HT T. trầm trọng và nguy hiểm như rất nhiều.
Tôi lấy một ví dụ này để dẫn chứng. Đến nay có trên 69 ngàn người mắc coronavirus nhưng trong số đó chỉ có khoảng 1670 người thiệt mạng và 9883 người hồi phục. Lý do là bởi vì những người chết là những người có kháng thể rất yếu so với những người có thể hồi phục. Cũng vậy tai hại về lời dạy của người nữ Giê-sa-bên, nếu không ngăn chận, sẽ hủy diệt cả HT T.
Người phụ nữ gọi Giê-sa-bên này tự xưng là tiên tri. Từ tiên tri đây không phải là người cho biết trước về tương lai nhưng chủ yếu là người có ân tứ và thẩm quyền để giảng dạy lời Chúa. Tiên tri giữ một vai trò đặc biệt và quan trọng trong HT đầu tiên. Trong danh sách các ân tứ PL liệt ra trong 1 Cô-rinh-tô 12 thì đầu tiên là sứ đồ, kế đến là tiên tri. Đức Chúa Trời đã lập trong hội thánh trước nhất là sứ đồ, thứ hai là tiên tri, thứ ba là giáo sư, thứ đến là người làm phép lạ, rồi đến người chữa bệnh, người giúp đỡ, người quản trị, người nói tiếng lạ. (1 Cô-rinh-tô 12:28). Đây cũng là thứ tự PL liệt ra trong thư Ê-phê-sô: Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư (Ê-phê-sô 4:11)
HT đầu tiên chưa có cách sách, thư TU nên ĐTL đã dùng sứ đồ và tiên tri để giải thích lời ĐCT trong KTCU về ĐCJC, về ý nghĩa của sự giáng sinh, chịu chết và sống lại để chịu chết chuộc tội cho loài người. PL cũng dạy ĐCT dùng các sứ đồ và tiên tri để thiết lập nền tảng cho HT đầu tiên: Anh em đã được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jêsus Christ là đá góc nhà (Ê-phê-sô 2:20). Chúa cũng bày tỏ lẽ mầu nhiệm dấu kín từ các đời trước cho các sứ đồ và tiên tri: Là lẽ mầu nhiệm trong các đời khác, chưa từng phát lộ cho con cái loài người, mà bây giờ đã được Đức Thánh Linh tỏ ra cho các sứ đồ thánh và tiên tri của Ngài. (Ê-phê-sô 3:5).
Vậy khi người nữ Giê-sa-bên này tự nhận mình là tiên tri và được HT công nhận (dung túng) thì ảnh hưởng của lời dạy sai lầm với HT T. to lớn, sâu sắc hơn gấp bao lần hơn những người dạy đường lối Ba-lam và Ni-cô-la tại HT Bẹt-găm. Đây chính là nguyên nhân mà ĐCJC khiển trách HT T. và dạy những HT khác về nguy hiểm này: Ta sẽ đánh chết con cái nó; và mọi Hội thánh sẽ rõ ta là Đấng dò biết lòng dạ loài người; và ta sẽ tùy công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo lại. (2:23)
Khi một người “tiên tri” của ĐCT, người được Chúa chọn, sức dầu, ban cho TL để giảng dạy lời Chúa, để truyền đạt ý chỉ của Chúa cho tín đồ trong HT thì ai có thể phản đối rằng những lời dạy này không đúng. Những người phản đối sẽ bị vấn hỏi là ai cho phép họ được quyền vấn hỏi đầy tớ, tiên tri ĐCT; Họ có thẩm quyền gì, có chức vụ gì, có khả năng gì không mà có thể chất vấn những lời dạy này. Hơn nữa nếu nói sai thì sai chỗ nào, căn cứ vào đâu, dựa vào lý lẽ gì mà nói là sai?
Người phụ nữ này chắc phải có tài năng dạy dỗ và có lời khéo léo, được lòng tín đồ HT nên mới có thể tự xưng mình là tiên tri. Từ lừa gạt có nghĩa là làm cho đi sai đường, dẫn đi lạc, đi xa sự thật, dẫn đến sai lầm, tội lỗi. Lừa gạt bởi sự dạy dỗ. Sự bắt bớ, áp lực từ chính quyền, từ dân Giu-đa và hậu quả của những điều này có thể thấy rõ, nhưng hậu quả của sự lừa gạt bởi sự dạy dỗ phải cần thời gian và không dễ nhận biết.
Một học giả KT giải thích rằng vấn đề chính yếu ở đây là phụ nữ giảng dạy lời Chúa trong HT làm trái với lời dạy của PL Phụ nữ nên yên lặng học hỏi và vâng phục hoàn toàn. 12 Ta không cho phép người nữ dạy dỗ, hay cầm quyền trên người nam, nhưng phải im lặng. (1 Ti-mô-thê 2:11-12). Đoạn KT này có thật cấm phụ nữ hoàn toàn giảng dạy lời Chúa trong HT hay không? Tôi không muốn đi xa bài giảng hôm nay nên sẽ dành câu trả lời trong một bài giảng khác. Tuy nhiên tôi không đồng ý với lời giải thích này về người nữ Giê-sa-bên tự xưng là tiên tri dạy dỗ và lừa gạt tín đồ HT T.
KT cả CU và TU đều xác nhận rằng phụ nữ có thể có ân tứ tiên tri. Bà Mi-ri-am, chị của Mô-se được KT gọi là nữ tiên tri (Xuất 15:20) Quan xét Đê-bô-ra còn được KT gọi là nữ tiên tri (QX 4:4). Sách 2 Sử Ký viết về một nữ tiên tri tên Hun-đa là người mà vua Giô-si-a đến hỏi để biết về ý Chúa sau khi đã đọc các sách luật pháp Mô-se và ăn năn về tội của cả dân tộc Hãy vì ta, vì các người Y-sơ-ra-ên và vì người Giu-đa còn sót lại, mà đi cầu vấn Đức Giê-hô-va về các lời phán của sách này đã tìm lại được vì cơn giận của Đức Giê-hô-va đã giáng trên chúng ta thật lớn thay, bởi các tổ phụ ta không gìn giữ lời phán của Đức Giê-hô-va, và chẳng làm theo các điều đã chép trong sách này. 22 Hinh-kia và các kẻ vua sai đi đến Hun-đa, nữ tiên tri, vợ của Sa-lum, là người giữ áo lễ, con trai của Tô-cát, cháu Hát-ra; bà ở tại Giê-ru-sa-lem trong quận thứ nhì; chúng nói với bà theo các lời vua đã phán. (2 Sử Ký 34:21-22). KT cũng gọi vợ của tiên tri Ê-sai là nữ tiên tri (Ê-sai 8:1-4)
Phúc âm Lu-ca viết về một nữ tiên tri tên An-ne sống trong đền thờ thành Giê-ru-sa-lem (Lu-ca 2:36). Từ tiên tri dùng để nói về bà Anne cũng là từ dùng trong KH 2:20 về người nữ Giê-sa-bên tự xưng mình là tiên tri. CV 2:17-18 cho biết ĐCT ban cho chức vụ tiên tri cho cả nam và nữ: Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác-thịt; Con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, Bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, Và các người già cả sẽ có chiêm bao, 18 Phải, trong những ngày đó, ta sẽ đổ Thần ta khắp trên các đầy tớ trai và gái ta, Chúng nó đều nói lời tiên tri. CV 21:9 cũng viết về 4 người nữ tiên tri, con của Phi-líp, 1 trong 7 người được chọn làm chấp sự hầu bàn trong HT đầu tiên thành Giê-ru-sa-lem. Sứ đồ PL cũng xác nhận là người phụ nữ có thể nói tiên tri, hay dạy do lời Chúa: Mỗi người đàn ông khi cầu nguyện hay nói tiên tri mà trùm đầu tức là làm nhục đầu mình. 5 Nhưng đàn bà khi cầu nguyện hay nói tiên tri mà không trùm đầu tức là làm nhục đầu mình. (1 Cô-rinh-tô 11:5)
Vậy hoặc PL tự mâu thuẫn với KT và với chính lời dạy của ông khi không cho phép phụ nữ được dạy trong HT hoặc chúng ta chưa hiểu rõ ý của lời dạy PL trong 1 Ti-mô-thê 2:11-12 Ta không cho phép người nữ dạy dỗ trên người nam.
Nhưng làm sao để chúng ta có thể tin được lời của một người khi họ tự xưng mình là tiên tri, mục sư hay người được Chúa biệt riêng và ban cho ân tứ để hướng dẫn, lãnh đạo, giảng dạy trong HT? Ba tiêu chuẩn, thước đo giúp chúng ta nhận biết người của Chúa.
Tiêu chuẩn, thước đo thứ nhất là thẩm quyền được xác nhận. Chúng ta cũng không phủ nhận thẩm quyền của người được ĐCT chọn lựa, ban cho ân tứ để hầu việc Chúa. Trong thư gởi HT Ga-la-ti, PL xác nhận rất rõ rằng ông là sứ đồ của ĐCJC vì Tin Lành ông rao giảng đến trực tiếp từ sự khải thị của Chúa, chứ không học lại hay được một người nào dạy cho ông cả. Hỡi anh em, tôi nói cho anh em rằng, Tin Lành mà tôi đã truyền, chẳng phải đến từ loài người đâu; 12 vì tôi không nhận và cũng không học Tin Lành đó với một người nào, nhưng đã nhận lấy bởi sự tỏ ra của Đức Chúa Jêsus Christ. (Ga-la-ti 1:11-12). PL cũng nhắc Ti-mô-thê về ân tứ Chúa ban qua sự xác nhận của các trưởng lão khi đặt tay cầu nguyện: Đừng bỏ quên các ân tứ trong con, là các ân đã ban cho con qua lời tiên tri khi được các trưởng lão đặt tay. (1 Ti-mô-thê 4:14 – BDM)
Làm thế nào để có thể tin lời tự xưng của PL về thẩm quyền sứ đồ của ông? Qua sự xác nhận của các sứ đồ ĐCJC gọi và chọn là Phi-e-rơ, Giăng, Gia-cơ và HT Chúa tại thành Giê-ru-sa-lem. Đây là một bài học vô cùng quan trọng: thẩm quyền của người hầu việc Chúa phải do Chúa ban cho và được xác nhận bởi những người trưởng lão có thành tích trung tín hầu việc Chúa, bởi các trường thần học chính thống, bởi các HT, giáo phái chính thống. Nói cách khác tất cả MS, chấp sự, những người trong BĐH phải được xác nhận trước khi họ được công nhận là có thẩm quyền trong chức vụ.
Tiêu chuẩn thứ hai để xác nhận thẩm quyền chức vụ của một người là từ lời dạy của ĐCJC: "Hãy đề phòng tiên tri giả là những người đội lốt chiên đến với các con, nhưng bên trong là lang sói tham tàn. 16 Các con nhận biết người ta nhờ hoa quả của họ. Không ai hái nho nơi bụi gai hay hái vả nơi chà chôm. 17 Cũng vậy cây lành sinh quả lành, cây độc sinh quả độc. 18 Cây lành không thể sinh quả độc, cây độc cũng không sinh quả lành. 19 Cây nào không sinh quả lành sẽ bị đốn và ném vào lửa. 20 Thế thì, các con nhận biết người là nhờ quả của họ. 21 "Không phải hễ ai nói với Ta: "Lạy Chúa, lạy Chúa đều sẽ vào Nước Thiên Đàng đâu, nhưng chỉ những người làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời. (Ma-thi-ơ 7:15-21).
Chúa dạy chúng ta phải đề phòng tiên tri, giáo sư giả. Có nghĩa là không phải hễ ai tự xưng mình, nhận mình là tiên tri hay mục sư, giáo sư thì đều đến từ Chúa, đều là người Chúa chọn lựa, ban ân tứ. Chúa dạy chúng ta nhận biết người là nhờ quả của họ. Quả đây là kết quả, nhưng quan trọng hơn là sự hiện diện của ĐTL trong đời sống, là phẩm hạnh, là trái TL, là con người thật bên trong.
Một người không thể là tiên tri hay mục sư nếu đời sống họ không hề phản ánh ĐTL, không hề có trái TL trong đời sống. Tiêu chuẩn này quan trọng hơn là mọi xác nhận của trường thần học, của giáo phái hay tổ chức.
Cây có thể không có trái. Nhưng cây nho không thể có trái táo, cũng như cây táo không thể có trái nho. KT dạy rất rõ cách để nhận biết một người là con cái ĐCT: sự hiện diện của ĐTL trong đời sống người đó. Nếu ai không có Thánh Linh của Chúa Cứu Thế thì người đó không thuộc về Ngài... Vì tất cả những ai được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Đức Chúa Trời. (Rô-ma 8:9, 14). Vì anh chị em là con nên Đức Chúa Trời sai Thánh Linh của Con Ngài ngự vào lòng chúng ta và kêu lên: A-ba, Cha ơi! (Ga-la-ti 4:6 – BDM)
Tiêu chuẩn, thước đo thứ ba là lời Chúa dạy trong KT: người thuộc về Chúa, người được Chúa xức dầu, phong chức phải giảng dạy lời Chúa, chứ không phải lời dạy con người, dù có khôn ngoan đến mấy, thu hút đến mấy. Người khôn ngoan ở đâu? Thầy thông giáo ở đâu? Người biện luận đời nay ở đâu? Có phải Đức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian ra dồ dại không? 21 Vì, tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình, chẳng nhờ sự khôn ngoan Đức Chúa Trời mà nhận biết Đức Chúa Trời, nên Ngài đành lòng dùng sự giảng dồ dại của chúng ta mà cứu rỗi những người tin cậy. 22 Vả, đương khi người Giu-đa đòi phép lạ, người Gờ-réc tìm sự khôn ngoan, 23 thì chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là dồ dại; 24 song le, về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ-réc, thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. (1 Cô-rinh-tô 1:20-24).
Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, 17 hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành. (2 Ti-mô-thê 3:16-17)
DUNG TÚNG TIÊN TRI GIẢ VÀ TÀ GIÁO
Câu 20 có từ dung túng. Dung túng là dù biết sai nhưng vì nể, vì sợ mất lòng hay không muốn phiền phức nên cứ làm thinh, làm ngơ, để mặc. Tại sao HT lại dung túng cho người đàn bà này? Có lẽ vì nể, vì sợ, không muốn mất lòng, vì không muốn có ý kiến khác với những tín đồ trong HT.
Dung túng vì sợ mất lòng, vì vị nể, vì tại sao tôi phải nói khi người ta không nói. Nhưng lý do chính của sự dung túng người nữ Giê-sa-bên trong HT T. là vì áp lực kinh tế, vì áp lực của việc làm ăn buôn bán, của công việc mưu sinh. Vì lời dạy của người nữ tự xưng tiên tri này biện minh cho việc tín đồ HT có thể tự do tham gia vào các hội đoàn thương mãi cho công việc làm ăn buôn bán.
Như đã giải thích trong phần giới thiệu tuần rồi thì T. là 1 thành phố với rất nhiều hội đoàn thương mãi cho các ngành nghề. Mỗi nghề đều có hội đoàn. Điều này không khác gì thương mãi ngày nay. Có khác chăng là các hội đoàn thương mãi ngày xưa đều có thần bảo vệ, phù hộ cho nghề. Nên khi gia nhập hội là phải thờ lạy, cúng kiến cho thần của nghề nghiệp, phải tham gia vào các buổi tiệc với thức ăn đã được dâng cúng cho thần, với rượu chè và các cuộc vui trác táng sau khi đã ăn nhậu.
Người nữ Giê-sa-bên dạy tín đồ HT là họ có thể gia nhập các hội đoàn thương mãi, có thể ăn đồ cúng, có thể ăn nhậu, có thể tham gia vào các cuộc vui trác táng tội lỗi. Những lời dạy này thật bùi tai và hoàn toàn thuận lợi cho công việc làm ăn buôn bán, cho việc kiếm sống của tín đồ HT.
Qv chắc biết có những mục sư dạy một tin lành khác với tin lành trong KT là tin lành của sự thịnh vượng (prosperity gospel). Theo tin lành này thì người tin Chúa, theo Chúa chắc chắn sẽ nhận được mọi ơn phước về vật chất, về sức khỏe, về tình cảm. Công việc sẽ được thành công, sức khỏe sẽ luôn tốt đẹp, gia đình sẽ luôn hạnh phúc. Tôi nghĩ người nữ Giê-sa-bên trong HT T. cũng giảng tin lành này: Chúa muốn người tin Chúa có công việc phát đạt, có đời sống thuận lợi, thành công nên nếu có ăn chút đồ cúng, có ăn chơi chút đỉnh vì việc làm ăn buôn bán thì cũng không sao.
Hơn thế nữa, nếu có công việc thuận lợi thì mới có tiền để dâng cho Chúa, mới có thời gian để hầu việc Chúa. Tôi tham gia hội đoàn thương mãi, tôi ăn chút của cúng, tôi nhậu nhẹt chút đỉnh là để có thêm lợi nhuận dâng cho HT, để làm công việc Chúa, để có thể đem người chưa biết Chúa đến với HT, đến với Chúa. Tôi có nghe tín đồ giải thích họ mở tiệm ngày Chúa nhật là để kiếm thêm tiền dâng cho công việc Chúa. Đây cũng chính là lý lẽ của vua Sau-lơ khi ông làm trái lại với lời Chúa phán dạy.
1 Sa-mu-ên 15:12-23 kể lại câu chuyện ĐCT ra lệnh cho vua Sau-lơ tiêu diệt dân A-ma-léc và không được lấy bất cứ của vật gì của dân độc ác đó, dù là chiên cừu hay tài sản. Nhưng vua Sau-lơ không diệt hết mà giữ lại một số chiên bò. Khi tiên tri Sa-mu-ên hỏi tại sao có tiếng chiên bò, vua Sau-lơ trả lời: vì dân sự đã tha những con tốt nhất về chiên và bò, đặng dâng nó làm của lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông; vật còn lại, chúng tôi đã diệt hết đi. (1 Sa-mu-ên 15:15). Dân sự làm chớ không phải vua làm! Và dân sự giữ lại những súc vật này là để làm của lễ cho GHV ĐCT!
Chúng ta thường dễ tự dối mình khi chọn để nghe theo những lời dạy bùi tai, lời dạy đem lại lợi ích cho mình và gia đình, có lợi cho công việc, có thêm lợi tức, được thêm tài của vật chất. Sự dung túng người nữ tiên tri Giê-sa-bên tại HT T. là bởi vì quyền lợi kinh tế, vì đời sống vật chất. Mãnh lực của vật chất, của đồng tiền có thể khiến chúng ta tự dối mình, chọn đi con đường rộng nhiều người đi. PL nhắc nhở tín đồ về mãnh lực của vật chất, tiền của: Còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất. 10 Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn. (1 Ti-mô-thê 6:9-10)
Các lá thư gởi 7 HT vùng Tiểu Á cho thấy HT Chúa từ những ngày tháng đầu tiên đã phải đương đầu, chống trả với những áp lực trong và ngoài. Những áp lực bên ngoài ảnh hưởng đến HT và tín đồ là việc thờ cúng các đại đế La-mã, thờ cúng các thần bảo trợ thành phố, là sự vu oan, nói xấu, từ sự bắt bớ của người Giu-đa, là áp lực kinh tế (khiến tín đồ HT Si-miệc-nơ phải sống nghèo khó). Bên cạnh những áp lực bên ngoài, HT còn phải đối phó với những nguy hiểm từ bên trong nội bộ HT, từ các giáo sư giả, tiên tri giả như Ba-lam, nhóm Ni-cô-la, như người nữ Giê-sa-bên và những tà giáo, lời dạy sai lầm khiến tín đồ sống sai lời Chúa dạy, phạm tội cùng Chúa.
Áp lực của việc làm, của việc kiếm tiền, của đời sống vật chất không phải là điều chỉ có từ HT T. nhưng vẫn còn là một trong những áp lực chính yếu ảnh hưởng đến đời sống tín đồ, đến sinh hoạt HT, đến việc giảng dạy lời Chúa. Ngoài áp lực này, tín đồ ngày nay còn có những áp lực mới của ngày nay, như khoa học, như quan điểm về hôn nhân, về giới tính.
Vì áp lực của khoa học mà nhiều trường thần học ngày nay không còn tin vào phép lạ, không còn tin vào sự sống lại của ĐCJC từ cõi chết. Vì áp lực của những quan điểm mới về hôn nhân và giới tính nên mới đây hệ phái Giám Lý HK đã phải tách ra vì một số HT không còn tin vào lời dạy của KT về hôn nhân và giới tính.
Nếu qv là tín đồ trong HT T. biết rằng những lời dạy của Giê-sa-bên là tà giáo, qv sẽ làm gì? Làm thinh có nghĩa là dung túng. Nhưng nói ra thì sợ mình sai, hay sợ mất lòng. PL dạy phải nói thật trong tình yêu thương: Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc, nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ (Ê-phê-sô 4:14-15)
Nói thật trong tình yêu thương không dễ làm vì muốn nói thật thì phải biết sự thật, có nghĩa là phải biết rõ lời Chúa dạy và phải có tình yêu thương tức trái TL. Chúng ta có thể học làm theo gương của các tín đồ xứ Bê-rê: Những người này cởi mở hơn người Tê-sa-lô-ni-ca; họ nhiệt thành tiếp nhận Đạo Chúa, hằng ngày tra cứu Thánh Kinh để xét xem lời giảng có đúng không. (CV 17:11- BDM ). Ngày nào cũng tra xem KT có nghĩa là họ đọc, học, nghiên cứu KT mỗi ngày chứ không phải mỗi tuần một lần chỉ nghe giảng. Chính những tín đồ là người tra xem KT để xem lời giảng có thật chăng, dù đó là lời giảng của PL.
Phần thứ 2 trong câu nói thật trong tình yêu thương là tín đồ phải có tình yêu thương, tức phải có trái TL Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ (Ga-la-ti 5:22).
Câu KT này khẳng định không có sự mâu thuẫn, sung khắc, đối lập giữa sự thật và tình yêu thương. Trái lại sự thật và yêu thương gắn liền với nhau, đi đôi với nhau. Yêu thương mà không nói sự thật là yêu thương mù quán, vô nghĩa. Yêu thương không sự thật chẳng những không giúp gì được mà chỉ đem lại tai hại. Nhưng sự thật mà không có tình yêu thương thì không ai muốn nghe, muốn tin. Sự thật không yêu thương làm cho người ta sợ hãi, tránh xa dù biết điều mình nghe là thật.
Dĩ nhiên tình yêu thương có lúc làm cho lý trí mù quán, ảnh hưởng đến suy nghĩ, quyết định. Chẳng phải người Việt chúng ta thường nói: Khi yêu trái ấu cũng tròn, khi ghét bồ hòn cũng méo hay sao? Khi yêu thương ai, dù có thấy lỗi trăm bề cũng có thể bỏ qua hay làm nghe lại. Khi đã ghét rồi lỗi nhỏ cũng sẽ hóa to. Khi yêu thương chúng ta dễ tin người nói, dù có dối cũng thành thật. Nhưng khi đã ghét rồi thì dù nói thật cũng không thèm nghe.
Điều này thường thấy trong hội thánh giữa mục sư, tín đồ, giữa tín đồ và tín đồ. Tín đồ thương mến mục sự thì chú ý đến lời giảng, amen đồng ý. Khi ghét rồi thì giảng gì cũng không muốn nghe.
Nói sự thật trong tình yêu thương là nói với sự hiểu biết, thông cảm người đối diện. Là để giúp thay đổi chứ không phải để hạ thập, làm nhục hay làm nư cơn giận. Chúng ta đọc 1 Cô-rinh-tô 13: 6 về tình yêu thương thật sự chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến. (Ê-phê-sô 4:29). Giúp chớ không phải hạ thấp hay làm cho xấu hổ, nhục nhả.
Có người nói sự thật, lời Chúa trong KT là gươm hai lưỡi đâm thấu hồn linh cốt tủy nên dùng lời Chúa để đâm người ta! Hình ảnh đúng hơn là con dao giải phẩu trong tay của một người bác sĩ chuyên nghiệp, tài giỏi; bác sĩ đó là ĐTL. Chính Ngài sẽ dùng lời KT để thúc dục, cảm động, cáo trách, khuyên răn, dạy bảo. Tôi và quí vị chỉ có trách nhiệm chia sẻ. Và chia sẻ cách khéo léo, tế nhị.
Lời Chúa cũng có thể được xem như hạt giống thay vì đá chọi cho đến chết. Không phải hạt giống nào cũng mọc thành cây cả. ĐCJC đã dạy rõ điều này qua ngụ ngôn về 4 loại đất. Cũng có khi sự thật vô ích với những người KT gọi là người nhạo báng. Đây là những người đã nghe sự thật nhưng từ chối, rồi tìm cách để bác bỏ. Với những người này KT dạy: Ai trách dạy kẻ nhạo báng mắc phải điều sỉ nhục, Ai quở kẻ hung ác bị điếm ố. Chớ trách kẻ nhạo báng, e nó ghét con; Hãy trách người khôn ngoan, thì người sẽ yêu mến con. Hãy khuyên giáo người khôn ngoan, thì người sẽ được nên khôn ngoan hơn; Khá dạy dỗ người công bình, thì người sẽ thêm tri thức nữa. (CN 9:7-9)
Trong 3 năm theo Chúa Giu-đa cũng như 11 sứ đồ khác đã có dịp nghe sự thật từ chính Sự Thật (viết chữ hoa), nhưng cuối cùng chọn bán thầy mình với giá 30 miếng bạc. Có người sẽ đổi sự thật để lấy tiền bạc. Dù bao nhiêu năm cùng hầu việc Chúa cùng Phao-lô và các môn đồ khác, cuối cùng Đê-ma vì ham mê thế gian mà rời bỏ PL. Có người sẽ đổi sự thật để được vật chất thế gian này. Cả Giu-đa, lẫn Đê-ma đều biết sự thật nhưng quyết định bán rẽ sự thật để đổi lấy cái lợi vật chất trước mắt.
CƠ HỘI ĂN NĂN
Ta đã cho nó thì giờ để ăn năn, nhưng nó không chịu ăn năn tội gian dâm mình. 22 Này, Ta sẽ ném nó trên giường đau đớn và những kẻ phạm tội tà dâm với nó, nếu không ăn năn các tội lỗi ấy, cũng sẽ chịu đau đớn khủng khiếp. 23 Ta sẽ giết chết các con cái nó. Lúc ấy tất cả các hội thánh sẽ biết rằng Ta là Đấng dò xét lòng dạ loài người, và Ta sẽ báo trả xứng đáng cho các ngươi mỗi người tùy theo công việc các ngươi làm. (KH 2:21-23 – BDM)
Khi mới đọc qua đoạn KT này, chúng ta thường chỉ nghĩ đến sự trừng phạt khắc khe của ĐCT trước tội lỗi. Nhưng đoạn KT này còn nói lên sự nhẫn nại, lòng khoan dung, nhân từ và tha thức của ĐCT.
Đúng, ĐTL là Đấng hoàn toàn Thánh Khiết không thể chấp nhận, dung túng tội lỗi, dù là một tội, một lỗi mà con người chúng ta xem là nhẹ, là nhỏ. Mắt Ngài quá tinh khiết, không thể nào nhìn thấy cảnh gian ác mà không làm gì cả; Ngài không thể nào làm ngơ khi chứng kiến những tội ác cứ tiếp tục xảy ra. (Ha-ba-cúc 1:13 – BD2011)
Tiêu chuẩn về sự thánh khiết của ĐCT hoàn toàn khác với loài người. Ví dụ: 1) việc xử án của một người tên Roger Stone. Tội của ông là nói dối với quốc hội khi đã thề hứa (lying under oath). Đầu tiên phía buộc tội lên án 7-9 năm. Tuần qua một thẩm phán xét lại và lên án 40 tháng. 40 tháng tù vì nói dối! 2) máy hút bụi khác nhau cho thấy kết quả khác nhau về mức độ bụi bẩn trong nhà. 3) Tất cả bệnh viện đều có những phòng cách ly cho những bệnh rất truyền nhiễm như ebola hay coronavirus, nhưng trên toàn quốc HK chỉ có 3 trung tâm cách ly là đủ tiêu chuẩn để cách ly và chửa trị bệnh nhân truyền nhiễm, một trong những trung tâm đó là tại trường đại học Nebraska. 4) Các loại mặt nạ bảo vệ khác nhau với tiêu chuẩn bảo vệ khác nhau.
Giá của tội lỗi con người là sự chết: Vì tiền công của tội lỗi là sự chết (Rô-ma 6:23)
Đây chính là lý do dân Chúa ngày xưa phải dâng của lễ chuộc tội bằng huyết của chiên cừu. Huyết tượng trưng cho sự sống. Có nghĩa là giá của tội lỗi là sự chết và để có thể được tha thứ thì phải có sự đổ huyết: Vì sự sống của xác thịt ở trong huyết và Ta đã ban huyết cho các ngươi trên bàn thờ để chuộc tội lỗi linh hồn các ngươi; chính huyết, tức là sự sống sẽ chuộc tội các ngươi. (Lê-vi-ký 17:11 – BDM)
Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ. (Hê-bơ-rơ 9:22)
Hình ảnh của nơi chí thánh trong đền thờ ngày xưa dạy dân sự Chúa về điều này. Hình ảnh của người thầy tế lễ cả vào nơi chí thánh mỗi năm một lần để dâng của tế lễ chuộc tội cho dân sự ngày xưa là cái bóng của ĐCJC. Phải là vị thượng tế như thế mới thích hợp với chúng ta, một đấng thánh khiết, toàn thiện, không ô uế, tách biệt với những người tội lỗi, vượt cao hơn các tầng trời. 27 Không giống các thượng tế khác cần phải hằng ngày dâng các sinh tế trước vì tội mình, sau vì tội dân. Ngài làm việc này một lần đủ cả, dâng hiến bản thân làm sinh tế. (Hê-bơ-rơ 7:26-27 - BDM)
ĐCT bày tỏ lòng nhân từ qua việc ban cho cơ hội ăn năn. Ta đã cho nó thì giờ để ăn năn. Dẫn chứng về cơ hội ăn năn: 1) Thành Sô-đôm & Gô-mê-ra từ 50 người đến 10 người, 2) 2 xứ Y-sơ-ra-ên Giu-đa - 931 nước phân 2, 722 Y-sơ-ra-ên mất, 586 Giu-đa mất – tức 210 năm cho xứ Y-sơ-ra-ên và 345 năm cho Giu-đa trước khi thủ đô bị tàn phá, dân bị bắt giải làm nô lệ xứ xa. Nhưng sau đó 70 năm, ĐCT đem họ trở lại xứ để xây lại đền thờ. 1948 xứ DT thành lập. 3) Cơ hội ăn năn lớn nhất là sự giáng sinh, chịu chết và sống lại của ĐCJC xảy ra hơn 2000 năm trước đây.
Bước đầu tiên để hồi phục quan hệ giữa con người và ĐCT hay giữa người và người là sự ăn năn. Ăn năn là gì? Là biết, nhận mình đã phạm tội, đáng trừng phạt vì tội đã phạm, và nhận rằng sự trừng phạt đáng với tội. Nhưng còn hơn thế nữa. Ăn năn là hối hận vì tội đã phạm, không phải hối hận vì bị bắt, bị xử. Tiếc vì bị bắt quả tang phạm tội thì không thể gọi là ăn năn. Nhưng còn hơn những điều này là sự hối hận đã làm buồn lòng Chúa và thật lòng cố gắng để thay đổi.
Vấn đề của người nữ Giê-sa-bên này không phải là đủ thì giờ nhưng là không chịu, không muốn ăn năn, dù biết mình phạm tội. Đây là phần thứ 2 của ăn năn!
Đa-vít và ăn năn: Đức Chúa Trời ôi! xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhân từ của Chúa; Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ bi rất lớn của Chúa. 2 Xin hãy rửa tôi cho sạch hết trọi gian ác, Và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi tôi. 3 Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi, Tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi. 4 Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, Và làm điều ác trước mặt Chúa; Hầu cho Chúa được xưng công bình khi Chúa phán, Và được thanh sạch khi Chúa xét đoán. (TT 51:1-4)
Mọi người chắc đều có nghe qua về câu chuyện Đa-vít phạm tội cùng Bát-sê-ba. [Kể lại chuyện]. Sau khi ý thức về tội của mình, Đa-vít trải qua thời gian đen tối nhất trong đời. Không phải vì tội ông đã phạm cùng Bát-sê-ba, vì đã giết chồng bà, nhưng vì đã phạm tội cùng ĐCT. Không ai có thể bào chửa cho tội của Đa-vít. Nhưng lịch sử cho thấy bao nhiêu vua chúa, lãnh đạo quốc gia đã phạm tội như Đa-vít và còn 100 lần hơn. Họ xem mạng sống con người không hơn gì hơn chó mèo, thậm chí loài sâu bọ! Họ luôn có những cận thần bên cạnh để bào chửa, che lấp, biện minh, làm nhẹ cho tội đã phạm dưới mắt loài người. Tòa án con người, dù công bình đến mấy, cũng chỉ là tương đối. Chỉ có tòa án của ĐCT mới là tuyệt đối. Đứng trước tòa án con người là điều khó, nhưng ai có thể bảo đứng trước sự phán xét của ĐCT là dễ hơn? Ai có thể nói tiêu chuẩn của ĐCT thấp hơn tiêu chuẩn của loài người?
Câu KT khó giải thích nhất trong TT 51 là câu 4: Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, Và làm điều ác trước mặt Chúa; Hầu cho Chúa được xưng công bình khi Chúa phán, Và được thanh sạch khi Chúa xét đoán. Có phải Đa-vít phủ nhận trách nhiệm đã phạm tội cùng Bát-sê-ba, cùng U-ri, cùng dân sự Y-sơ-ra-ên? Hoàn toàn không.
Thay vì chọn quan xét là loài người, Đa-vít tự đặt mình trước quan xét nghiêm khắc nhất, thánh khiết nhất là ĐCT. Với các quan xét khác, Đa-vít là vua nên ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phán xét, sự kết tội cuối cùng. Nhưng dưới sự xét đoán công bình, chính trực, không hề thiên vị của ĐCT, Đa-vít là một tội nhân như bao nhiêu tội nhân khác. Vì chúng ta biết Đấng đã phán: "Sự báo thù thuộc về Ta; chính Ta sẽ báo ứng," lại bảo: "Chúa sẽ xét đoán dân Ngài." 31 Sa vào tay Đức Chúa Trời Hằng sống là một điều khủng khiếp! (Hê-bơ-rơ 10:30-31 – BDM)
Khi Đa-vít thú nhận Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, Và làm điều ác trước mặt Chúa, ông chấp nhận rằng không một người nào khác có thể bào chửa, biện hộ cho ông, không một hoàn cảnh nào ông có thể dùng để bào chửa, biện hộ cho hành động tội lỗi của mình. Ông hoàn toàn trần trụi, tội lỗi dưới mắt một ĐCT hoàn toàn thánh khiết, một quan xét hoàn toàn công bình, không thiên vị. Và dưới sự phán xét đó, Đa-vít có cơ hội gì để thoát khỏi sự trừng phạt nặng nề nhất? Hoàn toàn không.
Tôi và tất cả qv đều phạm tội. Nhưng không ai dám tự bảo tôi phạm tội cùng ĐCT, một mình Chúa thôi. Tất cả chúng ta đều mong tội mình với người hay với chính mình sẽ được thông cảm, bỏ qua cũng những người phạm tội cùng chúng ta muốn được thông cảm, bỏ qua. Nhưng với ĐCT, giá của tội lỗi là sự chết, không ngoại lệ. Cảm ơn Chúa là chính ĐCJC đã trả giá của tội chúng ta trước Chúa để chúng ta không phải trả giá đắt đó.
Này, Ta sẽ ném nó trên giường đau đớn và những kẻ phạm tội tà dâm với nó, nếu không ăn năn các tội lỗi ấy, cũng sẽ chịu đau đớn khủng khiếp. 23 Ta sẽ giết chết các con cái nó. Lúc ấy tất cả các hội thánh sẽ biết rằng Ta là Đấng dò xét lòng dạ loài người, và Ta sẽ báo trả xứng đáng cho các ngươi mỗi người tùy theo công việc các ngươi làm. (2:22-23 -BDM)
Câu 22-23 giải thích rõ về giá của tội mà người phạm phải trả. Câu 23 cũng cho biết rõ 1 điều là Chúa xét xử và trừng phạt con người cách công bình và đúng mức vì Chúa biết rõ lòng dạ ý tưởng, biết rõ dự tính, động cơ của tội lỗi cả trước khi xảy ra.
VỚI NHỮNG NGƯỜI TRUNG KIÊN
Còn các con là những con cái khác ở Thi-a-ti-rơ, những người không theo giáo huấn đó, không biết đến điều mà chúng gọi là sự mầu nhiệm của Sa-tan, thì Ta bảo các con: Ta không đặt gánh nào khác trên các con. 25 Tuy nhiên, các con hãy giữ vững điều các con đang có cho tới khi Ta đến. (KH 2:24-25)
Một số tín đồ HT T. không nghe theo lời dạy tội lỗi của người nữ Giê-sa-bên. Nhưng đây chỉ là số ít. Câu Ta không đặt gánh nào khác trên các con, hãy giữ vững điều các con đang có tương tự như lời trong thư của các sứ đồ sau HT đầu tiên tại thành Giê-ru-sa-lem ghi lại trong CV 15:28 Vì Đức Thánh Linh và chúng tôi quyết định không chất thêm gánh nặng nào khác trên anh em, ngoại trừ các điều cần thiết này
Mục sư John Stott bình luận về đoạn KT này với những lời dạy rất ý nghĩa: Một điều thiếu đạo đức mới không thể đẩy chúng ta vào một đời sống khổ hạnh mới. Chúng ta không thể phản ứng quá mức vì một tiêu chuẩn lõng lẽo chung quanh bằng cách áp đặt một cực đoan mới. Đấng Christ không đặt thêm gánh nặng cho những người đang sống trong một môi trường, hoàn cảnh đạo đức thấp (A new immorality must not drive us into a new ascetiscism. We must not overract to an extreme laxity around us by developing an exrem rigidity in ourselves. Christ has no new burden for those living in an environment where standards are low.) Nói đơn giản hơn là chúng ta không thể nhảy từ một cực đoan này sang cực đoan kia, không phải vì một tội mà áp đặt cả một thay đổi quá đáng. Một ví dụ của cực đoan về đạo đức là chặt tay của người ăn trộm đồ. Hay dạy rằng người hút thuốc, uống rượu là người phạm tội cũng như người say sưa, nghiện ngập. Khi áp đặt tiêu chuẩn ngoài KT chúng ta trở nên như người Pha-ri-si bị ĐCJC lên án: Họ buộc những gánh nặng quá sức trên vai người khác, nhưng chính mình thì không muốn động đến một ngón tay. 5 Họ làm mọi điều cốt để người ta thấy (Ma-thi-ơ 23:4-5 – BDM)
LỜI HỨA BAN THƯỞNG
Người nào thắng và giữ các công việc của Ta cho đến cuối cùng sẽ được Ta ban uy quyền thống trị các nước. 27 Người ấy sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt, và đập tan chúng như đồ gốm, cũng như Ta đã nhận uy quyền đó nơi cha Ta. 28 Ta sẽ ban cho người ấy ngôi sao mai. 29 Ai có tai hãy lắng nghe lời Thánh Linh phán dạy các hội thánh." (KH 2:26-29 – BDM)
Hãy cầu ta, ta sẽ ban cho Con các ngoại bang làm cơ nghiệp, Và các đầu cùng đất làm của cải. vãi 9 Con sẽ dùng cây gậy sắt mà đập bể chúng nó; Con sẽ làm vỡ nát chúng nó khác nào bình gốm. (TT 2:8-9)
