Hô-sa-na Con Vua Đa-vít
Cả 4 sách PA, Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca, Giăng viết về cuộc đời của ĐCJC. Ít người hơn biết rằng một phần lớn của cả 4 sách PA chỉ viết về một tuần lễ duy nhất trong đời ĐCJC, đó là tuần lễ cuối đời Chúa. Từ Chúa nhật khi ĐCJC vào thành Giê-ru-sa-lem cho đến sáng Chúa nhật khi Ngài sống lại từ cõi chết. Một phần ba (1/3) Ma-thi-ơ từ đoạn 21-28 viết về tuần lễ cuối đời của Chúa. 1/3 Mác, từ đoạn 11-16. 1/4 Lu-ca từ 19-24. Gần 1/2 Giăng từ đoạn 12-20. Nói tóm lại 1/3 của cả 4 sách PA viết về tuần lễ cuối đời của ĐCJC, đặc biệt về những sự kiện đưa đến sự chết trên thập giá của ĐCJC và sự Chúa sống lại.
Bài giảng sáng nay là về ý nghĩa và bài học từ một câu chuyện quen thuộc khi ĐCJC vào thành Giê-ru-sa-lem ngày Chúa nhật tuần lễ cuối đời của Chúa. Cả 4 sách PA đều ghi lại câu chuyện này trong Ma-thi-ơ 21:1-11, Mác 11:1-10, Lu-ca 19:29-38 và Giăng 12:12-15. Khi ĐCJC cưỡi lừa vào thành Giê-ru-sa-lem, Ngài đến với dân chúng tại thành Giê-ru-sa-lem như một vị vua. Ba điều trong bài giảng này: 1) Vua đến trong thời điểm vua định; 2) Vua đến theo cách thức vua muốn; 3) Vua đến cho những người vua chọn.
VUA ĐẾN TRONG THỜI ĐIỂM VUA ĐỊNH
Khi đọc các sách PA, chúng ta có thể để ý một điều: sau khi chửa bệnh cho một người, hay đuổi quỉ khỏi người, hay làm một phép lạ, Chúa luôn bảo dân chúng đừng cho ai biết. Tại sao? Bởi vì Chúa biết hễ càng nhiều người này kể lại chuyện Chúa làm hay bàn tán về Ngài là ai, thì các thầy giáo thông giáo, những người lãnh đạo tôn giáo, người Pha-ri-si càng tìm cách cản trở, chống đối Chúa. Không những cản trở, chống đối nhưng họ còn tìm mọi cách để bắt bớ Ngài. Cuối cùng họ quyết định tìm mọi cách để giết Ngài. Chúa biết rõ điều này. Hễ đoàn dân đông càng đồn đãi về danh tiếng Chúa, về phép lạ Chúa làm thì các lãnh đạo DT càng chống đối, bắt bớ Chúa. Đó là một trở ngại cho công việc và mục đích Chúa đến để thực hiện.
Nhưng vào buổi sáng Chúa nhật Chúa cỡi lừa vào thành Giê-ru-sa-lem, thời điểm Chúa định trước đã đến. Một câu KT hết sức ý nghĩa trong Ha-ba-cúc. ĐCT giải thích cho tiên tri H. rằng những khải tượng từ ĐCT cho tiên tri Ngài chắc chắn sẽ xảy ra trong thời điểm Ngài định: Khá biết rằng những gì khải tượng ấy bày tỏ sẽ không xảy ra cho đến kỳ đã định. Ðến cuối cùng, nó sẽ lộ ra, và đây không phải là lời nói dối. Nếu nó có vẻ như chậm đến, hãy kiên tâm chờ đợi, Vì nó chắc chắn sẽ đến, chứ không chậm trễ đâu. (Ha-ba-cúc 2:3 – BD2011)
Trước đó, ĐCJC cần thời gian để rao giảng về TL, về nước Trời. Cần thời gian để chọn các môn đồ và 12 sứ đồ. Hơn hết để dạy dỗ, huấn luyện họ. Nay những việc đó đã trọn, nay thời điểm để ĐCJC vào thành Giê-ru-sa-lem chịu chết cho tội con người đã đến. Nay chính là thời điểm để mọi người biết Jesus chính là Vua, là Đấng Mê-si ứng nghiệm lời các tiên tri đã viết trong KTCU trăm năm trước đó.
Việc ĐCJC cỡi lừa vào thành G. là ứng nghiệm lời tiên tri Xa-cha-ri đã viết độ 600 năm trước đó: Vả, điều ấy xảy ra để cho ứng nghiệm lời của đấng tiên tri rằng: 5 Hãy nói với con gái thành Si-ôn rằng: Nầy, vua ngươi đến cùng ngươi, Nhu mì, cỡi lừa và lừa con, là con của lừa cái mang ách. (21:4-5). Đến thời điểm ĐCT định trước, những gì Chúa định sẽ xảy ra, không sớm hơn, cũng không trễ hơn.
Cả 4 PA đều ghi lại lời tung hô, ca ngợi của đoàn dân với ĐCJC: Bấy giờ phần nhiều trong đám dân đông trải áo mình trên đường; kẻ khác chặt nhánh cây mà rải ra giữa đường. 9 Đoàn dân đi trước và theo sau đều kêu lên rằng: Hô-sa-na con vua Đa-vít! Đáng khen ngợi cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao! (Ma-thi-ơ 21:8-9)
Hô-sa-na là một tiếng reo mừng, có nghĩa là hãy cứu chúng tôi, dựa theo TT 118. Danh xưng Con Đa-vít là một danh xưng chỉ về Vua Mê-si. Vua thuộc dòng dõi Đa-vít. Và cũng là Đấng Mê-si giải cứu dân sự, đất nước Ỵ Dân sự mong mỏi một Đấng cứu tinh giải cứu đất nước, dân tộc DT ra khỏi ách nô lệ của đế quốc La-mã. Đấng đem lại shalom, tức sự bình an, phước hạnh ĐCT hứa ban cho dân Ngài mà họ đã chờ đợi hàng bao nhiêu thế kỷ qua. Khi đoàn dân tung hô Hô-sa-na con vua Đa-vít! Đáng khen ngợi cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao! họ không chỉ bày tỏ lời ca ngợi nhưng còn bày tỏ ước muốn, lời cầu khẩn xin Vua Mê-si hãy cứu chúng tôi hỡi.
Trước đó, Chúa bảo những người được Ngài chửa bệnh, đuổi quỉ, nhận phép lạ hãy im lặng. Nhưng đến thời điểm đã định, ĐCJC công khai xác nhận qua lời ca ngợi, tung hô của dân chúng rằng chính Ngài là Vua, là Đấng Mê-si như các tiên tri CU đã viết hàng trăm năm trước đó.
Thời điểm về sự giáng sinh, chịu chết và sống lại của Con Vua Đa-vít đã được tiên tri cụ thể và chính xác trong CU theo Đa-ni-ên 9:24-25 khoảng 600 năm về trước. Bảy mươi tuần đã được định cho dân ngươi và cho thành thánh của ngươi, để kết thúc sự vi phạm, chấm dứt tội lỗi, đền xong tội ác, mang lại sự công chính vĩnh cửu, làm ứng nghiệm khải tượng và lời tiên tri, và xức dầu cho Nơi Chí Thánh. Vậy, ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi lệnh được ban ra để tái lập và tái thiết Giê-ru-sa-lem cho đến khi Vị Thủ Lãnh Được Xức Dầu xuất hiện sẽ có bảy tuần và sáu mươi hai tuần. (BD2011) Qv có thể nhớ về đoạn KT này như là tiên tri Đ. về các tuần.
Chữ tuần trong 2 câu KT này theo tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là nhiều lần 7. Trong BDM có phụ chú tuần có nghĩa là 7 năm, 70 tuần là 490 năm. Theo câu 25 & 27, 70 tuần này gồm 3 giai đoạn (giai đoạn thứ 3 trong câu 27 chúng ta không đọc vì không liên hệ đến sự kiện ĐCJC vào thành Giê-ru-sa-lem). Giai đoạn 1 gồm 7 tuần hay 49 năm và giai đoạn 2 gồm 62 tuần tức 434 năm. Tổng cộng 2 giai đoạn đầu là 483 năm.
Câu 24 giải thích về những sự kiện sẽ xảy ra trong 70 tuần hay 490 năm tính từ thời Đa-ni-ên. Bảy mươi tuần đã được ấn định cho dân và thành thánh của ngươi để chấm dứt sự vi phạm, diệt trừ tội lỗi, xóa bỏ tội ác, để thiết lập sự công chính đời đời, để khải tượng trong lời tiên tri được ứng nghiệm, và để xức dầu Nơi Chí Thánh. Những điều sau đây đã ứng nghiệm qua ĐCJC: chấm dứt sự vi phạm, diệt trừ tội lỗi, xóa bỏ tội ác, để thiết lập sự công chính đời đời, để khải tượng trong lời tiên tri được ứng nghiệm.
Câu 25 giải thích cụ thể về thời điểm khi những sự kiện này sẽ xảy. Từ khi lệnh tái thiết thành Giê-ru-sa-lem được ban hành cho đến khi vị thủ lãnh được xức dầu xuất hiện, có bảy tuần và sáu mươi hai tuần lễ. Trước hết tôi xin giải thích về lệnh tái thiết thành G. là gì? Xảy ra khi nào? Bởi ai?
[slide] Chúng ta biết Đ. và các bạn, cũng như dân sự xứ Giu-đa bị vua Nê-bu-cát-nê-xa bắt giải từ thành Giê-ru-sa-lem sang Ba-by-lôn vào khoảng 600 năm trước khi ĐCJC giáng sinh. Và theo lời tiên tri Giê-rê-mi thì dân sự sẽ bị lưu đày tại B. trong vòng 70 năm trời. Sau đó ĐCT sẽ đem họ trở về lại thành G. để xây lại đền thờ và thành phố.
Đúng như lời tiên tri G. vào năm 445 BC, vua Ạt-ta-xét-xe của xứ Phê-xi-ri ban chiếu chỉ cho phép dân sự Chúa trở về lại thành G. để tái thiết lại thành phố. Điều này được viết trong thư Nê-hê-mi 2:1. Vậy lệnh tái thiết thành G. trong Đ.9:25 là lệnh ban ra bởi vua Ạt-ta-xét-xe của xứ Phê-ri-xi vào năm 445BC để Nê-hê-mi có thể trở lại thành G. mà tái thiết lại thành phố.
Cũng theo Đ.9:25 thì có 7 tuần và 62 tuần tức 69 tuần hay 483 năm từ khi lệnh tái thiết thành G. được ban ra cho N. cho đến khi vị thủ lãnh được xức dầu xuất hiện. Vị thủ lãnh này chính là ĐCJC. Theo tiên tri Đ. thì 483 năm sau khi khi vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ để N. về lại thành G. để tái thiết thành phố vào năm 445 BC, ĐCJC sẽ xuất hiện. Tính theo lịch DT thì 1 năm = 360 ngày, vậy 483 năm = 173,880 ngày. Tính từ ngày vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ cho phép N. trở lại thành G. để tái thiết lập đến 483 năm sau theo lịch DT (360 ngày/năm) thì thời điểm ĐCJC cỡi lười vào thành G. vào cuối tháng 3 đến đầu tháng 4 năm 32.
Mỗi chúng ta đều có những dự tính, mơ ước. Chúng ta mong những điều này sẽ xảy ra theo thời điểm chúng ta định vì tin rằng đó là thời điểm thích hợp hơn hết. Khi đến với Chúa để cầu xin, chúng ta nhắc Chúa về thời điểm và gợi ý cho Chúa về cách thức có thể thực hiện.
Nam nữ gặp nhau, yêu nhau, muốn lập gia đình với nhau. Hai người định ngày giờ, tham khảo với gia đình, bè bạn. Sau khi đã lên chương trình, lập kế hoạch xong hết rồi 2 người mới nghĩ đến việc cầu nguyện dâng dự tính, mơ ước, kế hoạch đó cho Chúa. Thật ra đôi nam nữ này chỉ muốn nhắc khéo cùng ĐCT là Chúa hãy ban phước, để mọi sự việc xảy ra theo dự tính, chương trình họ đã định.
Chúng ta cần nhớ rằng ĐCT là Đấng quyết định thời điểm cho chương trình, dự tính của Ngài. Khá biết rằng những gì khải tượng ấy bày tỏ sẽ không xảy ra cho đến kỳ đã định. Ðến cuối cùng, nó sẽ lộ ra, và đây không phải là lời nói dối. Nếu nó có vẻ như chậm đến, hãy kiên tâm chờ đợi, Vì nó chắc chắn sẽ đến, chứ không chậm trễ đâu.
Vua G. vào thành G. theo đúng thời điểm Ngài đã định từ trước muôn đời.
VUA ĐẾN THEO CÁCH THỨC VUA MUỐN
Khi ĐCJC cỡi lừa vào thành G., dân chúng chào đón và ngợi ca Chúa với hy vọng rằng Ngài sẽ là Vua, Đấng Mê-si giải cứu họ ra khỏi ách nô lệ của đế quốc La-mã. Lời của 2 môn đồ trên đường Ê-ma-út nói cùng ĐCJC sau khi Ngài sống lại từ cõi chết xác nhận ước nguyện này: Chúng tôi hy vọng rằng Ngài sẽ cứu chuộc dân I-sơ-ra-ên. (Lu-ca 24:21 – BDM) Dân sự mong mỏi một vị vua như các vua của thế gian. Nhưng vua Jesus hoàn toàn khác với các vua chúa thế gian.
200 năm trước ngày Chúa nhật ĐCJC cỡi lừa vào thành Giê-ru-sa-lem, một người tên Simon Maccabee cũng vào thành G. Dân chúng cũng reo hò, ngợi khen, vẩy cành chà là (palm) chào đón SM như một anh hùng dân tộc vì ông đã giải phóng dân sự khỏi ách nô lệ của đế quốc La-mã, đem lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên SM không cỡi lừa nhưng cỡi ngựa.
Như lời giải thích của một học giả tên Stanely Hauerwas của trường đại học Duke, tác giả sách giải kinh Ma-thi-ơ thì “Sự vào thành của ĐCJC chế nhạo sự vào thành của các vua và quân đội. Người chiến thắng không cỡi lừa vào thủ đô, nhưng cỡi những con ngựa hùng dũng, dữ tợn, đáng sợ. Nhưng vua Jesus này lại không cỡi ngựa và không chiến thắng bởi vũ lực, gươm giáo”
ĐCJC cỡi gì khi vào thành G.? Lừa con, con của lừa mẹ. Vua cỡi ngựa. Chỉ có những kẻ hầu việc thấp hèn mới cỡi lừa. Nhưng không ai lại cỡi lừa con cả!
Tại sao ĐCJC lại chọn cách này? Vì Ngài là ứng nghiệm của tiên tri Xa-cha-ri viết trăm năm trước đó. Chúa chủ ý tương phản ngôi vua của Ngài với ngôi các vua thế gian. Chúa không chinh phục, áp chế dân sự bằng sức mạnh, vũ lực, bằng gươm giáo. ĐCJC kêu gọi, thuyết phục họ bằng tình yêu thương, qua sự yếu đuối và với sự tha thứ. Chúa không chinh phục dân sự bởi chiến tranh, giết chóc nhưng qua sự hy sinh của chính thân và huyết của Ngài trên thập giá, qua sự chết để hòa giải, đem lại hòa bình giữa người và Trời.
Chúa không đến thế gian để tăng thêm lãnh thổ, quyền thế, vũ lực, nhưng Ngài đã lìa bỏ thiên cung cao quí, chịu mất quyền thế của Trời để xuống thế gian nơi chuồng chiên máng cỏ nghèo nàn, để chia sẻ cảnh ngộ của người dân lam lũ, nhọc nhằn, nghèo khó. Chúa tự nguyện bỏ tất cả quyền bình đẳng với ĐCT: chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. (Phi-líp 2:7-8)
Đây là lý do Chúa cỡi lừa con, một con vật hoàn toàn tương phản với sức mạnh, quyền thế, chiến thắng của các vua thế gian. Lừa con và lừa mẹ cũng không phải là của Chúa. Ngài chỉ mượn. Có nghĩa là Ngài không có sản vật quí giá gì của chính mình để chia cho dân sự ngoại trừ cho đi chính cuộc đời và thân thể của Ngài để chịu chết trên thập giá cho tội của muôn người.
Muốn biết xem vua Jesus khác vua chúa đời này thế nào, chúng ta nghiệm lại những gì Chúa nói và làm. Không chỉ nói, nhưng làm. Vì người ta có thể nghe rất nhiều lời từ vua chúa, lãnh đạo khác hẳn với những điều họ làm. Nhưng Jesus làm mọi điều Ngài nói.
Ngay sau khi vào thành G. Chúa vào đền thờ. Đức Chúa Jêsus vào đền thờ, đuổi hết kẻ bán người mua ở đó; đổ bàn của người đổi bạc, và ghế của người bán bồ câu. 13 Ngài phán cùng họ rằng: Có lời chép: Nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện; nhưng các ngươi thì làm cho nhà ấy thành ra ổ trộm cướp. 14 Bấy giờ, những kẻ mù và què đến cùng Ngài trong đền thờ, thì Ngài chữa cho họ được lành. (Matt 21:12-14)
Chúa gọi đền thờ lớn tại thành G. là nhà ta. Giận vì các ngươi làm cho nhà ta thành nơi buôn bán, ổ trộm cướp. Vua này là ai mà tự xưng nơi dân tuyển của ĐCT đến thờ phượng là nhà ta và giận vì nhà ta không như ý ta muốn. Chỉ có chủ nhà mới có quyền vào nhà, đánh đuổi những kẻ dùng nhà làm nơi buôn bán, làm ô uế nhà ở. Chỉ có chủ nhà mới có quyền đòi hỏi thay đổi. Vua này không phải là vua chiến thắng, chinh phục lãnh thổ, đất đai nhưng là chúa, chủ của nơi thờ phượng, vua của tâm linh con người, vua của con tim. Jesus chính là ĐCT, Đấng mọi người thờ phượng.
Đến tối ngày thứ Năm trong tuần, vua Jesus lại cởi áo ngoài, quì xuống rửa chân cho các môn đồ. Sau đó bị phản bội, bị bắt. Từ giữa khuya thứ Năm đến sáng sớm thứ Sáu, vua này lại chịu xử cách bất công trong 6 phiên tòa của người DT và La-mã. Rồi chịu tra tấn, hành hạ, chịu nhổ vào mặt, đánh vào đầu. Đến trưa thứ Sáu, bị treo lên thập tự giữa 2 tên trộm cướp. Vài tiếng sau chết trên thập giá. Đến chiều tối thứ Sáu xác Ngài được để vào một ngôi mồ mượn.
Vua chúa nào của đời này hành động như ĐCJC, chịu nhận những khổ hình oan uổng cho tội muôn người như Jesus? Vậy nếu qv tin ĐCJC là Đấng cứu tội cho qv, nhưng qv lại từ chối nhận Jesus là Vua, là Chúa của đời mình, thì qv đã hiểu lầm về Đấng qv tin tưởng, tôn thờ. Có người xin Chúa tha tội, nhưng lại không nhận tội, không ăn năn, không thay đổi, từ bỏ con đường tội lỗi. Cũng vậy có người xưng ĐCJC là Đấng Cứu Tội nhưng lại từ chối Ngài là Vua, Chúa của đời sống. Nếu qv đã nhận sự tha tội từ Chúa, qv cũng nhận quyền làm chúa, làm chủ của Ngài trong mọi lãnh vực của cuộc đời qv, từ tình cảm đến tài chánh, từ dự tính đến mơ ước, từ việc làm đến việc nhà.
Suy nghĩ với tôi về một đặc tính này nơi ĐCJC. Ngài là một người hoàn toàn, tuyệt đối nhu mì, khiêm nhường, nhân từ. Nghĩ về sự mềm mại, nhân từ trong cách Chúa đối xử với người đàn bà Sa-ma-ri 5 đời chồng, đang sống với người không phải chồng bà. Hay lòng nhân từ, sự tha thứ với người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội tà dâm: Ta cũng không bắt tội ngươi đâu; hãy đi và đừng phạm tội nữa. Với những kẻ nghèo khó, những người góa bụa, những kỹ nữ, những người bị quỉ ám, các trẻ thơ, Chúa Jesus luôn là người hoàn toàn nhu mì, nhân từ. Chúa rửa chân cho các môn đồ.
Nhưng cũng chính Jesus khiêm nhường, nhân từ này lại có những lời tuyên bố mà từ trước và sau Ngài, và mãi đến nay chưa ai dám nói: Trước khi Áp-ra-ham sinh ra, đã có Ta. Ai thấy Ta là thấy ĐCT. Ta sẽ trở lại thế gian để xét đoán mọi người. Chính mắt Ta thấy Sa-tăn từ trời rơi xuống. Ta là Đường đi, là lẽ thật, là sự sống; chẳng bởi Ta không ai có thể đến cùng Cha. Đền thờ thành G. là nhà Ta…
Những người khiêm nhường không thể tuyên bố những điều ĐCJC tuyên bố. Người tuyên bố những điều như Chúa, hoặc là người điên loạn hạng nặng, hoặc là người nói dối không xấu hổ. Nhưng ĐCJC chúng ta vừa là người hoàn toàn khiêm nhường, nhân từ, nhu mì lại là người phán những điều mà chỉ có ĐCT mới có thể phán. Vậy tôi hỏi qv. Qv tin Jesus nào? Câu trả lời là Jesus Đấng chịu chết cho tội của tôi, tha thứ tội tội nhưng cũng chính là vua Jesus làm chủ mọi lãnh vực trong đời sống tôi, Đấng sẽ trở lại thế gian này để phán xét mọi người.
Dân chúng xưa khi thấy ĐCJC cỡi lừa vào thành G. họ chỉ hy vọng được một vua giải thoát ra khỏi ách thống trị của La-mã. ĐCJC không đến thế gian để giải thoát họ khỏi đế quốc La-mã, nhưng quan trọng hơn để giải thoát dân ra khỏi ách nô lệ tội lỗi, khỏi sự chết đời đời nơi địa ngục. Ước nguyện con người chúng ta nhỏ nhen và ngắn hạn khi so với dự tính và kế hoạch của ĐCT. Khi hiểu và hoàn toàn chấp nhận, tin tưởng vào thời điểm và phương cách Chúa định, người tin Chúa sẽ tìm được sự bình an và thỏa lòng.
VUA ĐẾN CHO NHỮNG NGƯỜI NGÀI CHỌN
Tuần lễ ĐCJC vào thành G. nhằm lễ Vượt Qua. Dân sự Ỵ có 3 lễ lớn và quan trọng nhất là lễ Vượt Qua (Passover), Ngũ tuần (Pentacost) và Lều Tạm (Tabernacles). Tất cả nam giới tuổi từ 12 buộc phải đến thành G. để dự các lễ này. Trong 3 lễ lớn đó, lễ Vượt Qua là lễ lớn và quan trọng hơn hết. Vì lễ kỷ niệm sự kiện dân sự được ĐCT giải cứu khỏi xứ nô lê Ai-cập để được sống, thở tự do.
Một học giả tên Joachim Jeremias trong quyển Thành G. thời Jesus (Jerusalem in the Time of Jesus) thì dân số thành G. từ khoảng 20-30 ngàn người. Nhưng đến tuần lễ Vượt Qua, dân số trong thành tăng đến 150,000 tức khoảng 5-6 lần.
Chúa chọn để vào thành G. khi dân số đông hơn hết bởi vì Chúa muốn cứu mọi người. Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn. (2 Phi-e-rơ 3:9)
Tuy nhiên không phải ai thấy Chúa với chính mắt, ai nghe với chính tai cũng tin Chúa. Một số người trong đoàn dân đông ca ngợi Chúa vào Chúa nhật cũng là những người vào sáng thứ Sáu tuần lễ đó la lớn: hãy đóng đi Jesus, hãy đóng đi nó đi! Và trong số đông chứng kiến Jesus vác thập giá từ thành G. ra ngoài thành đến ngọn đồi Sọ, cũng có nhiều người nhạo báng, chế diễu, mắng nhiếc Chúa: Nó đã cứu kẻ khác; nếu nó là Đấng Christ, Đấng Đức Chúa Trời đã lựa, thì hãy cứu mình đi! (Lu-ca 23:35)
Trên đồi Sọ, Chúa bị đóng đinh giữa 2 tên trộm cướp. Một tên trộm cướp bị đóng đinh cũng mắng nhiếc Ngài rằng: Ngươi không phải là Đấng Christ sao? Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa! 40 Nhưng tên kia trách nó rằng: Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? 41 Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác. (Lu-ca 23:39-40)
Đoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi! 43 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi. (Lu-ca 23:41). Cho đến khi đối diện với sự chết, một số người vẫn từ chối Chúa, vẫn mắng nhiếc Chúa. Nhưng cũng có người ăn năn, xin tha tội, tin nhận Chúa và được cứu.
Dù là đoàn dân đông hàng ngàn, chục ngàn hay triệu tỉ người hay dù là 2 tên cướp trên thập giá trong giờ phút cuối đời, cả nhân loại cuối cùng chỉ gồm 2 loại người: từ chối, chê bai, mắng nhiếc, khinh khi ĐCJC hay tin nhận Ngài là Vua, là Chúa của đời. Khi ĐCJC đến đâu, phản ứng của đoàn dân, của những người nghe lời Ngài đều là như vậy: chấp nhận hay hoài nghi, tin hay không tin.
Người tin nhận ĐCJC không phải chỉ bởi vì họ chọn Chúa nhưng bởi vì chính họ đã được Chúa chọn. Và đây là điều mà sáng nay những người tin Chúa cần chân thành dâng lời cảm tạ sự nhân từ và lòng thương xót của ĐCT đã chọn để ĐTL giúp mở lòng, mở trí mà nghe, tin và nhận Jesus là Cứu Chúa đời sống họ. Không chỉ nhận Jesus là Đấng đã chuộc tội bằng chính huyết Ngài đổ ra trên thập giá, nhưng còn nhận Ngài là Vua của đời mình. Chúng ta không thể chỉ chọn để nhận Chúa là Đấng cứu tội nhưng lại từ chối Ngài là Vua của đời mình.
Một người gọi cho một mục sư lúc giữa khuya xin hãy lập tức đến bệnh viện. Khi đến bệnh viện, MS tìm thấy một người đàn ông tuổi khoảng 50. Người đó vội vả bảo MS tôi xin lỗi đã làm phiền MS. Nhưng nay không cần nữa. Khi hỏi rõ sự tình, thì người đàn ông đó giải thích rằng đầu tiên các bác sĩ cấp cứu nghĩ rằng ông bị ung thư trầm trọng. Nhưng sau khi chụp hình x-quang, MRI thì xác nhận lại không phải ung thư. Nên ông không cần mục sư và cũng không cần ĐCT.
Dân sự ngày xưa vào sáng Chúa nhật khi ĐCJC cỡi lừa vào thành G. mong mỏi, hy vọng Ngài là Vua Mê-si sẽ giải thoát họ khỏi ách nô lệ, thống trị của đế quốc La-mã. Đến ngày thứ Sáu họ vỡ tan mộng tưởng đó khi nhìn thấy Vua Mê-si bị treo trên cây gỗ giữa 2 tên trộm cướp cho đến chết.
Nếu chúng ta chỉ hy vọng trong Ðấng Christ về đời nầy mà thôi, thì trong mọi người, chúng ta là đáng thương hại hơn cả. (1 Cô-rinh-tô 15:19 – BDM)
