Hai Cuộc Đời, Hai Ngã Rẽ
Trong bài giảng hôm nay tôi muốn cùng qv suy nghĩ về sự kêu gọi của ĐCT và sự chọn lựa, quyết định về kêu gọi đó qua một câu chuyện quen thuộc về Ạ và Lót. Câu chuyện này được viết trong STK 12-13 và 19. Cả hai đều nghe một tiếng gọi nhưng mỗi người trả lời cách khác nhau và đưa đến hai kết quả hoàn toàn khác nhau cho cuộc đời.
Ạ là một nhân vật rất quan trọng trong KT. Trong danh sách các anh hùng đức tin, Ạ đứng hàng đầu tiên. Sách Hê-bơ-rơ 11 nhắc về đức tin của Ạ 3 lần. Câu nổi bật hơn hết là 11:8-10: Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu. 9 Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình, như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người. 10 Vì người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập. Ạ vâng lời Chúa gọi không chỉ một lần nhưng trong suốt cuộc đời sống với đức tin, cho dù chưa nhận được lời Chúa hứa, hay khi người đời cho là dại. Người hoài nghi hay thiếu đức tin nói: hãy chỉ cho tôi ĐCT thì tôi tin. Người tin Chúa trả lời: hãy phó thác đời sống cho Chúa thì Ngài sẽ cho bạn biết về Ngài.
Câu chuyện về Ạ bắt đầu từ STK 12 khi ĐCT gọi ông rời khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha người mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Theo suy nghĩ người đời thì lời gọi này không thể gọi là một cơ hội. Anh, chị nói với tôi rằng một ĐCT vô hình gọi tôi rời quê hương, nhà cha mà đi đến một nơi tôi chưa hề biết? Tôi được gì? Chỉ có một lời hứa là Chúa sẽ chỉ cho nơi sẽ đến! Chúng ta thấy điều này lập lại nhiều lần trong cuộc đời Ạ: chỉ nhận lời hứa nhưng không thấy sự thịnh vượng. Hay phải chờ đến cả 25 năm dài mới nhận được một lời hứa về việc có con trai hậu tự. Ta sẽ làm cho ngươi… Ta sẽ làm nổi danh ngươi… Ta sẽ ban phước cho ngươi…
THEO TIẾNG CHÚA GỌI
Ạ tin vào lời ĐCT và rời quê hương. Cùng đi với gia đình Ạ là Lót, cháu ruột; cha Lót là anh Ạ đã qua đời. Khi ra đi, Ạ đã 75. Dù Lót không nghe lời gọi từ ĐCT như Ạ, nhưng chắc rằng Ạ đã cho Lót biết về lời gọi đó để Lót có thể quyết định, hoặc ở lại, hoặc cùng đi. Và Lót quyết định đi với chú. Chúng ta không biết khi đó Lót có tin vào ĐCT hay không, nhưng biết rằng Lót tin vào Ạ.
Theo một sách giải nghĩa KT thì cho đến khi Ạ nghe tiếng Chúa và quyết định đi đến xứ Ca-na-an thì Lót đã sống với chú mình khoảng 30 năm trời. Trong 30 năm dài đó lẽ nào Lót lại không thấy, không nghe, không biết về ĐCT chú mình thờ phượng. Nhưng sự hiểu biết đó không hề đưa đến hành động, như chúng ta sẽ thấy sau khi hai người đến xứ Ca-na-an. Tại sao tôi có thể nói sự hiểu biết của Lót về ĐCT mà Ạ thờ phượng không hề đưa đến hành động? Bởi vì trong suốt thời gian ở trong xứ Ca-na-an, dù nhiều lần Lót thấy Ạ lập bàn thờ cho ĐCT, nhưng không một lần, dù chỉ một lần, Lót làm điều này.
Lần đầu tiên Ạ lập bàn thờ cho ĐCT, KT viết: Rồi tại đó [Si-chem] Áp-ram lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, là Đấng đã hiện đến cùng người. (12:7) Đấng đã hiện đến, đã gọi, đã hứa, nhưng không phải là Đấng đã ban cho ông ơn phước. Tôi muốn giải thích rõ là hình ảnh bàn thờ đây không phải như bàn thờ trong nhà người Phật giáo, hay Công giáo, nhưng là sự thể hiện của lòng tôn kính Đấng đã gọi ông. Bàn thờ Ạ lập để nhắc ông và gia đình về Đấng làm chủ đời sống, Đấng đáng tôn thờ. Từ STK 12-15 KT cho biết Ạ lập ít nhất 3 bàn thờ cho ĐCT. Lần thứ 3 là sau khi Lót rời Ạ để chọn cho mình một con đường hoàn toàn khác với chú mình.
KT cho biết lần thứ 2 Ạ lập bàn thờ cho ĐCT giữa 2 nơi là Bê-tên và A-hi. Bê-tên có nghĩa là nhà ĐCT, A-hi có nghĩa là nơi đổ nát. Bê-tên về phía Tây, A-hi về phía Đông. Sau này khi ĐCT ra lệnh cho dân sự lập đền tạm thì Chúa bảo họ phải để cửa vào của đền tạm hướng về phía Tây. Có nghĩa là khi ai vào thờ phượng sẽ đi về hướng Tây và lưng sẽ hướng về phía Đông. Cũng vậy khi Ạ lập bàn thờ giữa Bê-tên và A-hi thì mặt ông hướng về nhà ĐCT và lưng ông về nơi đổ nát. Đây là biểu tượng của người thờ phượng ĐCT rằng khi họ hướng về ĐCT thì phải xoay lại với thế gian. Người tin Chúa không thể một bên hướng về Chúa, một bên về thế gian. Nhưng Lót không tin điều này và nghĩ mình có thể được cả hai.
CHỌN VỚI MẮT THỂ XÁC HAY VỚI MẮT TÂM LINH?
KT cho biết sau này cả hai chú cháu trở nên giàu có. Áp-ram ở Ê-díp-tô dẫn vợ cùng các tài vật mình và Lót đồng trở lên Nam phương. 2 Vả, Áp-ram rất giàu có súc vật, vàng và bạc. 3 người vừa đi vừa đóng trại, từ Nam phương trở về Bê-tên và A-hi, 4 là nơi đã lập một bàn thờ lúc trước. Ở đó Áp-ram cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va. 5 Vả, Lót cùng đi với Áp-ram, cũng có chiên, bò, và trại. (STK 13:1-5)
Chú ý sự khác biệt giữa Ạ và Lót: Ạ có súc vật, vàng, bạc, còn Lót chỉ có chiên, bò và trại. Lót giàu nhưng chưa bằng chú mình. Nên khi cơ hội đến để có thể giàu có hơn, Lót nắm lấy cơ hội với cả hai tay mà không hề do dự. Vì đất không đủ chổ cho hai bầy gia súc của Ạ và Lót nên Ạ nói với cháu rằng: Chúng ta là cốt nhục, xin ngươi cùng ta chẳng nên cãi lẫy nhau và bọn chăn chiên ta cùng bọn chăn chiên ngươi cũng đừng tranh giành nhau nữa. 9 Toàn xứ há chẳng ở trước mặt ngươi sao? Vậy, hãy lìa khỏi ta; nếu ngươi lấy bên tả, ta sẽ qua bên hữu; nếu ngươi lấy bên hữu, ta sẽ qua bên tả. (13:8-9)
Và đây là câu KT quyết định ngã rẽ cuộc đời của Lót: Lót bèn ngước mắt lên, thấy khắp cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh, là nơi (trước khi Đức Giê-hô-va chưa phá hủy thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ) thảy đều có nước chảy tưới khắp đến Xoa; đồng ó cũng như vườn của Đức Giê-hô-va và như xứ Ê-díp-tô vậy. 11 Lót bèn chọn lấy cho mình hết cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh và đi qua phía Đông. Vậy, hai người chia rẽ [tay] nhau. 12Áp-ram ở trong xứ Ca-na-an, còn Lót ở trong thành của đồng bằng và dời trại mình đến Sô-đôm. (13:10-12) Lót chọn với mắt của thể xác; Ạ chọn với mắt tâm linh.
Câu 12 cho biết Lót dời trại đến gần Sô-đôm. Có lẽ lúc này Lót chưa biết, như lời KT viết: Vả, dân Sô-đôm là độc ác và kẻ phạm tội trọng cùng Đức Giê-hô-va. (13:13) Nhưng trong đoạn KT sau cho biết rồi Lót và cả gia đình dọn vào thành Sô-đôm và định cư trong thành đó. Tội của dân Sô-đôm là gì? STK 18-19 giải thích rõ hơn về tội của dân thành Sô-đôm.
Khi Ạ xin ĐCT đừng hủy diệt thành thì ông nói với Chúa chẳng lẽ Chúa lại diệt cả thành khi vẫn còn những người công chính trong thành hay sao? Áp-ra-ham lại gần và thưa rằng: Chúa sẽ diệt người công bình luôn với người độc ác sao? 24 Ngộ trong thành có năm mươi người công bình, Chúa cũng sẽ diệt họ hết sao? Há chẳng tha thứ cho thành đó vì cớ năm mươi người công bình ở trong sao? (18:23-24). ĐCT trả lời Ạ: Đức Giê-hô-va phán rằng: Nếu ta tìm được trong Sô-đôm năm mươi người công bình, vì tình thương bấy nhiêu người đó ta sẽ tha hết cả thành. (26). Từ 50 đến 45, từ 45 đến 40, cuối cùng Ạ hỏi Chúa nếu có 10 người công chính trong thành thì Chúa có hủy diệt thành không? Ngài phán rằng: Ta cũng sẽ chẳng diệt thành đâu, vì tình thương mười người đó. (18:32) Điều này cho biết cả thành Sô-đôm đều phạm tội cùng ĐCT, ngoại trừ Lót. Khi diệt thành, ĐCT sai thiên sứ cứu Lót và cả gia đình ông.
STK 19 giải thích rõ hơn về tội của thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Chiều tối, hai thiên sứ đến thành Sô-đôm, Lót đang ngồi tại cổng thành. Thấy khách đến, Lót đứng dậy nghênh đón, ông cúi lạy mặt sát đất. 2 Lót mời: "Thưa hai ngài, kính mời hai ngài đến nhà tôi rửa chân nghỉ tạm đêm nay. Sáng mai, hai ngài có thể dậy sớm lên đường!" Hai vị khách đáp: "Không, tối nay chúng tôi sẽ ở ngoài đường!" 3 Lót hết sức nài nỉ nên hai vị khách đi với ông về nhà. Lót dọn bữa cho họ, ông nướng bánh không men và họ ăn. 4 Trước khi họ đi ngủ, những người đàn ông Sô-đôm từ trẻ đến già khắp trong thành phố đến vây quanh nhà. 5 Chúng gọi Lót ra hỏi: "Hai người khách vào nhà anh khi tối ở đâu? Đem họ ra cho chúng ta ngủ với họ!" (19:1-5-BDM). Họ muốn ăn ở với hai thiên sứ, hai người khách của Lót, hai người nam. Và họ là những người đàn ông Sô-đôm từ trẻ đến già khắp trong thành phố. Họ muốn ăn ở với người cùng một giới tính, nam với nam.
Sách Quan Xét 19 cũng ghi lại một câu chuyện giống như câu chuyện về thành Sô-đôm. Câu chuyện kể về một người Lê-vi với người vợ bé và một đầy tớ đi đến một thành vào lúc ban đêm không ai mời vào nhà để tạm trú qua đêm. Một cụ già thấy vậy bảo họ về nhà ông để ở qua đêm. KT viết: Vậy cụ mời họ vào nhà, và cho các lừa của khách ăn. Rồi họ rửa chân và ăn uống với nhau. 22 Đang khi họ ăn uống vui vẻ với nhau, thình lình một đám người trong thành, là những kẻ trái thói tình dục, đến vây quanh nhà và đập cửa. Chúng nói với chủ nhà: "Hãy đem người đàn ông đã vào nhà ông ra đây, để chúng tôi ăn nằm với hắn. 23 Nhưng ông cụ, là chủ nhà, ra nói với chúng rằng: "Hỡi anh em! Xin đừng. Tôi năn nỉ anh em, đừng làm chuyện ác đức đó. Vì người ấy đang làm khách trong nhà tôi. Xin anh em đừng làm chuyện đồi bại ấy. " (QX 19:21-23-BDM) Qv có thể về đọc câu chuyện này.
Lót nhìn thấy cánh đồng màu mở, tươi tốt như vườn địa đàng, nhưng cuối cùng sống trong một thành phố tội lỗi đến nỗi ĐCT hủy diệt mọi dân trong thành, ngoại trừ gia đình Lót. Vợ Lót vì nuối tiếc khi chạy khỏi thành còn quay đầu lại trở nên tượng muối. Lót với hai người con gái trốn đến một hang đá trên núi. Và tại đó, hai con gái Lót phục rượu cha mình rồi ăn nằm cùng ông. Chúng ta hỏi hai con gái Lót học điều này từ đâu? Tôi tin học từ dân trong thành Sô-đôm.
Lót chọn vật chất, chọn theo mắt nhìn của đời này. Rồi được gì? Sự nghiệp cả đời, danh dự cả đời mất hết. Ạ chọn đi theo tiếng Chúa gọi, chọn theo mắt tâm linh. Ạ trở nên tổ phụ dân tuyển Ỵ, tổ phụ đức tin cho tôi và qv, những người tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa đời sống. ĐCT ban ơn phước cho chỉ cho Ạ mà còn cho cả con cháu, hậu tự ông ngàn năm sau.
TỘI XƯA, LUẬT NAY
Thứ Sáu vừa qua 17/5 có hai tin tức quan trọng liên quan đến bài giảng hôm nay. Tin thứ nhất là tại xứ Đài Loan, chính quyền chính thức cho phép hôn nhân giữa người đồng tính (same sex marriage). Luật mới này sẽ có hiệu quả bắt đầu tự thứ Sáu tuần này 24/5. ĐL là quốc gia đầu tiên trong vùng Á Châu ban sắc luật chấp thuận hôn nhân giữa người đồng tính. Hai năm trước đây (đến thứ Sáu 24 là đúng 2 năm), toàn thẩm phán tối cao của ĐL đã quyết định định nghĩa hôn nhân chỉ giữa nam và nữ là trái với hiến chương quốc gia và ra lệnh cho quốc hội trong vòng 2 năm phải thay đổi luật chấp thuận cho hôn nhân giữa người đồng giới tính.
Tin thứ hai là hạ nghị viện HK (House) chuẩn y một dự luật nới rộng quyền dân sự (civil right) để bảo vệ không chỉ cho người đồng tính nhưng còn cho những người thuộc mẫu tự LGBT, có khi là LGBTQ hay LGBTQI. Tôi sẽ giải thích những mẫu tự tắt này trong phần sau. Tuy nhiên dự luật này phải được sự chấp thuận của thượng viện và tổng thống. Tại HK vào tháng 6, 2015 toàn thẩm phán tối cao cũng đã chấp thuận luật hôn nhân giữa người đồng tính. Chỉ trong vòng 10 năm, từ 1 tiểu bang đến cả quốc gia HK chấp thuận luật hôn nhân SSM.
Tại sao 2 tin tức này liên quan đến bài giảng hôm nay? Bởi vì sự khác biệt như trắng với đen, ngày với đêm giữa lời KT dạy về vấn đề đồng tính, nhận định giới tính và suy nghĩ hôm nay về vấn đề này. Qv có thể nhìn thấy những quốc gia trên thế giới ngày nay chấp thuận luật hôn nhân SSM. Theo thống kê thì ít nhất 60% dân chúng HK ủng hộ luật này. Đặc biệt là trong giới trẻ hầu hết đều coi vấn đề hôn nhân đồng tính (và những giới tính khác) là điều bình thường và tự nhiên.
HT không phải là một ốc đảo sống cách rời khỏi thế giới, xã hội bên ngoài. ĐCJC dạy người tin Chúa phải là muốn, là ánh sáng. Muối có ích lợi gì nếu không dùng đến. Ánh sáng ích lợi gì nếu không dùng trong đêm tối. HT không thể tránh né những vấn đề xã hội này vì ảnh hưởng trực tiếp đến con em chúng ta, đến tín đồ và HT. Người tin Chúa cũng không thể nhắm mắt làm ngơ, xem như không có gì xảy ra vì chưa hay không ảnh hưởng đến chúng ta. Những suy nghĩ, thái độ này đều không đúng với lời KT dạy. Nếu HT, gia đình không hiểu biết và có thể giải thích vấn đề này thì chắc chắn rằng trường học cũng sẽ dạy con em chúng ta. Sớm hay muộn chúng ta và con em chúng ta cũng sẽ gặp những người đồng tính, người có vấn đề với giới tính hay đổi giới tính.
Tôi muốn giải thích mấy điều sau đây: 1) Thế nào là đồng tính luyến ái và xung đột giới tính; 2) KT dạy gì về vấn đề tình dục đồng giới và thay đổi giới tính; 3) Thái độ và cư xử của HT về vấn đề này; 4) Trách nhiệm đối với các em trong vấn đề này.
ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI VÀ XUNG ĐỘT/RỐI LOẠN GIỚI TÍNH
Có những mẫu tự tắt để nói về đồng tính, là LGBT, có khi LGBTQ hay LGBTI. L (lesbian) là nữ giới đồng tính với nữ giới. G (gay) là nam giới đồng tính với nam giới. B (bisexual, bi) là người có quan hệ tình dục với cả hai phái. T (transgender) là người thay đổi giới tính, nam sang nữ hay nữ sang nam, hay tự xưng mình là người khác phái, như nam tự xưng là nữ, nữ tự xưng là nam. Q (queer) là người có lúc này, lúc nọ, không hoàn toàn giống như LGB. I (intersex) là người khi sinh ra khó nhận định được từ bộ phận sinh dục là nam hay nữ; dù vậy thông thường họ vẫn xác nhận mình là nam hay nữ, và khi đã xác nhận thì sống như người thuộc phái đó. Một vấn đề đang xảy ra trong các trường học là các nhà vệ sinh và các phòng thay đồ. Một người nam có thể tự xưng là nữ để dùng nhà vệ sinh hay phòng thay đồ cho nữ, hay trái lại. Đối với những người có vần T thì danh từ gọi về giống phái cũng là một vấn đề trong các bịnh viện, nơi làm việc, giấy tờ hành chánh… Nếu dùng tiếng Anh thì có phần dễ hơn khi hỏi: how do you want me to call you? Nhưng tiếng Việt thì hỏi sao: Ngươi muốn tôi gọi ngươi là gì?
Đồng tính luyến ái là một người thu hút, ham thích, thương yêu người đồng tính. Tình dục đồng tính là khi 2 người đồng tính có quan hệ tình dục với nhau, như những người nam trong câu chuyện về thành Sô-đôm muốn ăn ở với 2 thiên sứ hay câu chuyện về người Lê-vi và nam giới trong thành theo sách QX. ĐTLA hay TDĐT không phải là hiện tượng chỉ của xã hội HK hôm nay nhưng đã có từ xưa và trong tất cả xã hội, quốc gia, chủng tộc. Có khác chăng là ngày xưa dân chúng, xã hội xem đây là một điều không bình thường, không đúng, tội lỗi nhưng hôm nay, đặc biệt các quốc gia Tây phương, đều chấp thuận nếp sống này.
Còn về vấn đề giới tính thì sao? Đây là một vấn đề phức tạp hơn với người VN chúng ta. Trong tiếng Anh có hai từ là sex và gender. Cả hai đều dịch là giới tính. Nhưng tại HK hôm nay 2 từ này có nghĩa khác nhau. “Sex” refers to the biological and physiological characteristics that define men and women.
“Sex” phân biệt một người là nam hay nữ, trai hay gái, đàn ông hay đàn bà theo những yếu tố sinh học của cơ thể người đó, như bộ phận sinh dục, nhiễm sắc thể, nội tiết tố, và đặc điểm hình thể. Khi một con người được sinh ra, căn cứ vào bộ phận sinh dục của người đó để xác định trong giấy khai sinh là trai hay gái, nam hay nữ. Đó cũng là căn cứ để điền vào các loại đơn từ và giấy tờ hộ tịch sau này, ở mục phái nam hay phái nữ. Theo nghĩa này, “sex” có thể dịch là “phái tính”. Trong những đơn từ hôm nay, ngay cả giấy tờ đi học, một người có thể chọn một phái tính ngoài nam hay nữ.
Theo Hội Tâm Lý Gia HK (American Psychological Association) thì giới tính được giải thích là: sự phân biệt nam nữ chủ yếu dựa vào những yếu tố xã hội, vai trò, hành vi, sinh hoạt và các đặc tính mà xã hội đó xem là thích hợp đối với người nam hay người nữ. Ví dụ như giới tính của người nữ thường là người chăm sóc cho con cái trong gia đình tại VN, nhưng tại HK thì cả chồng và vợ đều chăm sóc cho con cái. Theo định nghĩa này thì giới tính có thể thay đổi theo văn hóa, xã hội, địa phương. Trong xã hội tại HK hôm nay thì giới tính còn dựa theo cảm nhận cá nhân. Có nghĩa là dù một người sinh ra có cơ quan sinh dục của nữ giới nhưng trong suy nghĩ, cảm nhận lại muốn mình, hay tự cho mình là nam giới.
Bình thường thì phái tính (căn cứ theo bộ phận sinh dục khi mới sinh ra) hòa hiệp với giới tính (sự nhận xét của xã hội, của cá nhân) nhưng có người người cảm thấy phái tính khi sinh ra không phù hợp với cảm nhận trong lòng. Có thể người đó cảm thấy như mình là một người nữ bị giam trong thân thể người nam, hay người nam bị giam trong thân thể người nữ. Tình trạng này gọi là gender dysphoria (xung đột giới tính, hay rối loạn giới tính, hay muộn phiền giới tính vì có thể gây ra cảm giác khó chịu, phiền muộn, trầm cảm)
Một tâm lý gia phân biệt 3 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là sự hấp dẫn, thu hút. Là khi một người bị thu hút muốn có quan hệ với người đồng giới. Giai đoạn thứ hai là sự thu hút trở nên một xu hướng suy nghĩ; có nghĩa là sự thu hút này trở nên mạnh mẽ hơn, thường xuyên hơn. Giai đoạn thứ bà là sự xác nhận tôi là người đồng tính và muốn sống như người đồng tính, hay muốn thay đổi giới tính. Từ giai đoạn thứ nhất thu hút, đến giai đoạn thứ ba xác nhận có thể là một khoảng thời gian dài ngắn khác nhau tùy theo cá nhân. Nhưng các nghiên cứu gia nhận thấy rằng thời gian này hôm nay ngắn lại vì sự chấp nhận của xã hội. Hơn nữa trong thập niên 1970 tuổi trung bình của người xác nhận mình đồng tính là 20, nhưng hôm nay là 15.
Chúng ta cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa 3 giai đoạn này: từ thu hút, đến xu hướng, đến xác nhận. Người thu hút hay có xu hướng đồng tính có thể quyết định dừng lại hay tiếp tục để xu hướng đó phát triển đến khi công khai xưng nhận là người đồng tính và sống như người đồng tính (sống chung, ăn ở, lập gia đình) hay thay đổi giới tính. Sự khác nhau này có thể ví như lòng tham muốn với thể hiện của lòng tham muốn. Khi lòng tham muốn nổi lên, chúng ta có thể quyết định để dừng lại hay để tiếp tục cho đến khi trở nên hành động. Nếu lòng tham muốn được ngăn chận trước khi chiếm hữu cả tình cảm, suy nghĩ rồi dẫn đến hành động thì người đó không có tội. Nhưng nếu cứ để sự tham muốn phát triển, chiếm hữu cả mọi cảm xúc, suy nghĩ rồi sinh ra hành động thì người đó đã mắc tội rồi. Cũng vậy một người có thể có xu hướng đồng tính hay có sự xung đột nội tâm về giới tính, nhưng dừng lại trước khi đưa đến hành động thì không phạm tội. Nhưng nếu để sự ham muốn này chiếm hữu suy nghĩ, tình cảm rồi đưa đến hành động thì đã phạm tội rồi.
KINH THÁNH DẠY GÌ VỀ TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI VÀ THAY ĐỔI GIỚI TÍNH
KT dạy rõ rằng tình dục giữa hai người đồng giới là trái lại với lời KT dạy. Hai đoạn KT trong STK 19 và QX 19 cho thấy rõ ĐCT xem là tội lỗi về tình dục đồng giới. Không chỉ về tình dục đồng giới nhưng còn về mọi tình dục giữa người khác tính ngoài hôn nhân. Luật pháp ĐCT truyền cho dân sự Ỵ qua lời Mô-se cũng lên án tình dục đồng giới: Đừng ăn nằm với một người đàn ông như cách người ta ăn nằm với đàn bà; đó là một tội đáng ghê tởm (Lê-vi-ký 18:22). Cả đoạn Lê-vi-ký 18 ĐCT không chỉ cấm tình dục đồng giới nhưng còn cấm quan hệ tình dục giữa người thân trong gia đình, sự gian dâm với vợ chồng người, giữa người và thú vật. Một lần nữa luật pháp ĐCT cấm quan hệ tình dục đồng giới: Nếu một người đàn ông nằm với một người đàn ông khác như nằm với đàn bà, cả hai đã làm một điều đáng ghê tởm. Họ phải bị xử tử; máu họ sẽ ở trên đầu họ. (Lê-vi-ký 20:13)
Có 3 đoạn KTTU cũng buộc tội vấn đề tình dục đồng giới. Chính vì thế Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ. Ngay cả phụ nữ của họ cũng đã đổi cách chung đụng xác thịt tự nhiên để theo cách phản tự nhiên. 27 Tương tự, đàn ông cũng đã bỏ cách chung đụng xác thịt tự nhiên với đàn bà mà un đốt sự thèm khát nhục dục với nhau; đàn ông làm những chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải chuốc lấy hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ. (Rô-ma 1:26-27-BD2011)
Hay là anh chị em không biết rằng những kẻ bất chính sẽ không được thừa hưởng vương quốc Ðức Chúa Trời sao? Ðừng tự dối mình! Những kẻ gian dâm, những kẻ thờ thần tượng, những kẻ ngoại tình, những người nam làm điếm, những kẻ đồng tính luyến ái, 10 những kẻ trộm cắp, những kẻ tham lam, những kẻ say sưa, những kẻ chưởi rủa, và những kẻ lừa đảo đều sẽ không được thừa hưởng vương quốc Ðức Chúa Trời. (1 Cô-rinh-tô 6:9-10 – BD2011)
Chúng ta biết rằng luật pháp là tốt, nếu người ta biết vâng giữ nghiêm túc. 9 Phải biết rằng luật pháp lập ra không phải để cho người ngay lành, nhưng cho những kẻ phạm pháp và gây loạn, những kẻ vô luân và tội lỗi, những kẻ bất khiết và phạm thượng, những kẻ giết cha và giết mẹ, những kẻ sát nhân, 10 những kẻ gian dâm, những kẻ đồng tính luyến ái [tình dục đồng giới], những kẻ buôn người, những kẻ nói dối, những kẻ khai man trước tòa, và những kẻ làm những điều nghịch với sự dạy dỗ lành mạnh 11 của Tin Mừng vinh hiển của Ðức Chúa Trời phước hạnh, đó là Tin Mừng mà ta đã được trao trách nhiệm rao giảng. (1 Ti-mô-thê 1:8-11 – BD2011)
Còn về việc rối loạn giới tính và thay đổi giới tính thì sao? STK dạy rõ rằng khi ĐCT sáng tạo loài người, Ngài tạo hai phái khác nhau là nam và nữ. Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ 28 Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất (1:27-28). Hơn nữa việc sanh sản phải cần cả nam và nữ. Nam với nam hay nữ với nữ không thể sanh con được. Và khi đã hoàn tất công trình sáng tạo, KT viết: Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành (1:31) Rất tốt lành có nghĩa là mọi việc xảy ra theo ý Chúa đã định, mọi vật sáng tạo đều đúng theo mục đích Chúa định. Trong tất cả các sinh động vật, nhất là con người, sự sanh sản đều phải cần đến cả nam và nữ, đực và cái, trống và mái. Khi Nô-e đem các thú vật vào tàu trước cơn lụt lớn tiêu diệt mọi người trên đất thì ông cũng đem theo cặp, trống và mái, đực và cái. Trong các loài vật thanh sạch, hãy đem theo mỗi loài bảy cặp, đực và cái; còn loài vật không thanh sạch mỗi loài một cặp, đực và cái. 3 Cũng hãy đem theo những chim trời, mỗi thứ bảy cặp, trống và mái, để giữ giống ở trên khắp mặt đất. 4 Vì còn bảy ngày nữa, ta sẽ làm mưa xuống mặt đất, trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm; ta sẽ tuyệt diệt khỏi đất hết các loài của ta đã dựng nên. (STK 7:2-4)
KT cũng dạy rằng người nam và nữ trở nên một thịt trong hôn nhân. Sự giao hợp giữa người nam là chồng và người nữ là vợ trong hôn nhân khiến cho hai người trở nên một. Điều này cũng được ĐCJC xác nhận: Người Pha-ri-si bèn đến gần để thử Ngài, mà rằng: Không cứ vì cớ gì người ta có phép để vợ mình chăng? 4 Ngài trả lời rằng: Các ngươi há chưa đọc lời chép về Đấng Tạo Hóa, hồi ban đầu, dựng nên một người nam, một người nữ, 5 và có phán rằng: Vì cớ đó người nam sẽ lìa cha mẹ, mà dính díu với vợ mình; hai người sẽ cùng nên một thịt hay sao? 6 Thế thì, vợ chồng không phải là hai nữa, nhưng một thịt mà thôi. Vậy, loài người không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp! (Ma-thi-ơ 19:3-6)
THÁI ĐỘ VÀ CƯ XỬ CỦA HỘI THÁNH CHÚA
Người VN ta có câu thức đêm mới biết đêm dài hay như một câu thơ trong truyện Thúy Kiều: đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Có nghĩa là chỉ khi chính chúng ta ở trong hoàn cảnh của một người thì mới có thể hiểu được nỗi niềm của người trong cảnh. Hầu hết qv đây không có vấn đề đồng tính luyến ái hay xung đột giới tính. Nên rất dễ cho qv bỉu môi, nhăn mặt khi nghe ai đó đang trải qua nỗi khổ này.
Trong quá khứ và cả hôm nay tại nhiều nơi, người đồng tính và thay tính bị chế diễu, khinh khi, xa lánh, có khi người ta chủ ý làm cho họ cảm thấy nhục nhả. Thêm vào đó là tiếng đồn, tiếng thị phi, không chỉ với mình, nhưng với cả gia đình. Lắm khi vì vấn đề này mà họ bị gia đình xa lánh, không nhìn nhận, thậm chí ruồng bỏ. Họ bị đối xử như người đã mất hết danh dự, nhân phẩm. Thống kê cho biết bệnh trầm cảm và số tự tử trong vòng những người đồng tính và thay tính cao hơn dân số bình thường.
Sự dằn vặt trong suy nghĩ, tâm hồn về sự bất bình thường về giới tính là một nổi đau khổ thật. Đặc biệt là với những người tin Chúa có vấn đề này. Cảm giác tội lỗi, mặc cảm với người trong gia đình, hội thánh là một nổi khổ tâm đay nghiến tâm hồn. Họ không hiểu tại sao tôi lại thích người đồng phái, muốn có quan hệ với người đồng phái, ngay cả quan hệ tình dục. Không hiểu tại sao tôi cảm thấy như bị giam trong một thân thể khác với cảm giác. Dù có những mức độ khác nhau nhưng sự tranh đấu nội tâm là cảm giác thật, kinh nghiệm thật.
Vài tuần trước đây tôi có buổi họp với những người dạy các lớp thiếu nhi, thiếu niên, thanh niên để giải thích về một số thay đổi trong nội qui HT. Đồng thời cũng để thảo luận về vấn đề này và để tìm cách để giúp giải thích cho con em và cả phụ huynh trong HT. Một điều tôi giải thích với các thầy cô dạy KT cho con em chúng ta là mục đích chính yếu không phải để chỉ trích, lên án, buộc tội nhưng để có thể giúp các em hiểu lời KT dạy và đem các em vào vòng tay yêu thương của ĐCT.
Rất dễ để lên án, buộc tội những người đồng tính khi chúng ta không có vấn đề này. Nhưng lời KT dạy rõ rằng đồng tính không phải là tội duy nhất KT nói đến: Hay là anh chị em không biết rằng những kẻ bất chính sẽ không được thừa hưởng vương quốc Ðức Chúa Trời sao? Ðừng tự dối mình! Những kẻ gian dâm, những kẻ thờ thần tượng, những kẻ ngoại tình, những người nam làm điếm, những kẻ đồng tính luyến ái, 10 những kẻ trộm cắp, những kẻ tham lam, những kẻ say sưa, những kẻ chưởi rủa, và những kẻ lừa đảo đều sẽ không được thừa hưởng vương quốc Ðức Chúa Trời. (1 Cô-rinh-tô 6:9-10 – BD2011). Trong cùng danh sách với đồng tính luyến ái là gì? Gian dâm, thờ hình tượng, ngoại tình, trộm cắp, tham lam, say sưa, chửi rủa, lường gạt.
Hay như lời PL viết cho Ti-mô-thê: Chúng ta biết rằng luật pháp là tốt, nếu người ta biết vâng giữ nghiêm túc. 9 Phải biết rằng luật pháp lập ra không phải để cho người ngay lành, nhưng cho những kẻ phạm pháp và gây loạn, những kẻ vô luân và tội lỗi, những kẻ bất khiết và phạm thượng, những kẻ giết cha và giết mẹ, những kẻ sát nhân, 10 những kẻ gian dâm, những kẻ đồng tính luyến ái [tình dục đồng giới], những kẻ buôn người, những kẻ nói dối, những kẻ khai man trước tòa, và những kẻ làm những điều nghịch với sự dạy dỗ lành mạnh 11 của Tin Mừng vinh hiển của Ðức Chúa Trời phước hạnh, đó là Tin Mừng mà ta đã được trao trách nhiệm rao giảng. (1 Ti-mô-thê 1:8-11 – BD2011) Một lần nữa theo lời PL thì trong danh sách của những người không hưởng nước ĐCT cùng với tình dục đồng giới là gì? Phạm pháp, gây loạn, vô luân và tội lỗi, bất khiết và phạm thượng, giết cha và giết mẹ, sát nhân, gian dâm, buôn người, nói dối khai man trước tòa, làm những điều nghịch với sự dạy dỗ KT. Có ai không phạm những tội này thì hãy ném đá người có tình dục đồng tính trước? Có khi chúng ta mau buộc tội mà quên đi chính mình cũng là người có tội.
Tôi chưa biết có ai tin Chúa vì bị người ta lên án, chỉ trích, nhục mạ, khinh dễ, xem thường cả. Tôi cũng chưa biết có ai tin Chúa khi tranh luận thắng thua với người tin Chúa. Rất dễ và thường thấy là HT như dạy ĐCJC đến để cứu người tốt chứ không phải tội nhân vì người có tội thường bị HT lên án khe khắc. HT cũng thường tạo ra một danh sách tội trong đó có thứ tự từ tội nặng nhất (thường là những tội đa số người trong HT ít phạm) đến nhẹ nhất (là những tội đa số người trong HT thường phạm).
Chúng ta quên rằng ĐCJC tha thứ cho người thu thuế, lính La-mã, người phạm tội tà dâm bị bắt quả tang, người hoang đàng, tội lỗi, người có nhiều đời chồng… Nhưng người mà ĐCJC lên án và buộc tội nặng hơn hết là người Pha-ra-si, là người nghĩ rằng họ là người công chính hơn mọi người vì giữ trọn các luật pháp Mô-se. Qv có thể đọc Ma-thi-ơ 23. Trong đoạn KT này gồm 39 câu, ĐCJC tuyên án họ 8 lần với lời mở đầu Khốn thay: Khốn cho các ngươi, những thầy dạy giáo luật và những người Pha-ri-si, những kẻ đạo đức giả. Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy. 28 Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi. (Ma-thi-ơ 23:27-28)
Ai nghĩ mình đạo đức hơn, công chính hơn người phạm những tội mình không phạm, gồm cả người có tình dục đồng giới, người thay đổi giới tính, là người nuôi dưỡng những ý nghĩ độc hại cho chính tâm linh mình. Sự kiêu ngạo đã khiến Sa-tan từ một thiên sứ sáng láng trở nên một quỉ vương độc ác, thâm hiểm. Sự kiêu ngạo về đạo đức sẽ khiến người tin Chúa mắc theo mưu kế ma quỉ. Lời nặng nhất của ĐCJC dành cho những người thầy dạy luật pháp và người Pha-ri-si khi họ nghĩ họ đạo đức hơn, công chính hơn mọi người, hay nghĩ rằng sự công chính của họ tốt đến độ được Chúa chấp thuận.
Tôi giải thích với các thầy cô dạy KT cho con em chúng ta là mục đích chính yếu không phải để chỉ trích, lên án, buộc tội nhưng để có thể giúp các em hiểu lời KT dạy và đem các em vào vòng tay yêu thương của ĐCT. Ma quỉ và xã hội bên ngoài luôn luôn mở rộng vòng tay để đón con em chúng ta, hay những tín đồ bị HT xa lánh, ruồng bỏ. Thật khó khi nói sự thật về vấn đề đồng tính, hay xáo trộn giới tính, nhưng khó hơn là nói trong tình yêu thương để có thể đem con em chúng ta, anh chị em chúng ta trở lại với Chúa, với HT. Một câu nói rất ý nghĩa và cảm động trong một quyển sách viết về vấn đề này: Chúng ta không phải ở đây để thắng lý lẽ. Chúng ta ở đây để yêu thương mọi người.
Tôi nghĩ không ai muốn chỉ được thương hại, tội nghiệp, nhưng muốn được yêu thương, muốn được đối xử với sự nhân từ, với lòng nhân hậu. Như ĐCJC luôn đối xử nhân từ với người phạm tội. Một tác giả viết: Lòng nhân ái không có nghĩa là đồng ý hay chấp nhận. Nhưng cũng không có nghĩa là im lặng. Lòng nhân ái nói, “tôi muốn cảm thông với những đau khổ của anh chị em về vấn đề đồng tính hay chuyển tính. Tôi không thể hiểu những tranh đấu, dằn vặt mà ace trải qua, nhưng tôi muốn lắng nghe và tôi muốn ở đây cùng ace. Tôi xin lỗi về những tổn thương hay hất hủi người khác đã đối với ace. Tôi muốn ace biết tôi vẫn là người bạn của ace và sẽ cùng đi với ace qua những trũng bóng tối. Tôi muốn ace biết dù tôi có thể không đồng ý với ace nhưng tôi không bao giờ xem thường, coi rẽ ace. Ace là người được Chúa và HT yêu thương.
Compassion does not mean approval. But neither does compassion mean silence. Compassion says, “I’m so sorry you are experiencing deep inner anguish about your gender. I cannot fathom the types of struggles you experience, but I would like to listen to you and I would like to be here for you. I’m sorry for any hurt or rejection you’ve encountered from others. I want you to know that I am your friend and will walk with you through the valleys of your struggles. I want you to know that I may not agree with you, but I will never look down on you. You are loved.”
Cho đến chừng nào Chúa còn cho tôi là mục sư HT này tôi nói với con cái Chúa rằng HT Chúa tại đây sẽ mở rộng cửa cho những người đồng tính luyến ái, những người xáo trộn giới tính, những người thay đổi giới tính. HT Chúa tại đây cũng mở rộng lòng để lắng nghe, để thông cảm, để an ủi, động viên ngay khi không đồng ý kiến, đồng quan điểm so với lời KT dạy.
GIỮA HAI NGÃ RẼ
Hầu hết khi đến một lứa tuổi, một gia đoạn này thì vấn đề tính giới sẽ qua đi. Nhưng với một số thì từ khi còn nhỏ đến nay, dù đã trong lứa tuổi trung niên, cảm giác, kinh nghiệm về đồng giới tính hay ý muốn thay đổi giới tính vẫn còn đó. Một số người tin Chúa chọn sống một đời sống độc thân và thỏa lòng với ân điển Chúa ban. Một số khác tiếp tục nghe theo tiếng gọi của cảm xúc, con tim mà quyết định chọn ngã rẽ theo giới tính, dù biết rằng họ làm trái lại với lời dạy KT.
Chúa dạy chúng ta yêu thương người lân cận. KT cũng dạy tình yêu chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật và phải nói sự thật trong tình yêu thương. HT cần cả hai: tình yêu thương và lẽ thật. Trong tình yêu thương chúng ta lắng nghe, chia sẻ, cảm thông, yên ủi, động viên, giúp đở người đồng tính hay thay tính. Trong lẽ thật chúng ta giải thích, với chân tình, với sự khiêm nhường, rằng con đường, ngã rẽ họ chọn để tiếp tục đi là con đường trái lại với con đường Chúa dạy phải đi; rằng ĐCT và HT Chúa luôn mở rộng vòng tay để chờ đón họ trở về với con đường hẹp Chúa dạy phải đi.
Chúa dạy ai muốn theo Chúa phải vác thập giá mình. Thập giá mỗi người khác nhau. Có người là nỗi đau khổ vì gia đình, vì vợ chồng, con cái. Có người thập giá là những cơn bịnh triền miên và không thuốc chửa. Và với những người đồng tính và thay tính, có thể đó là thập giá của họ. Trong cuộc đời dưới ánh mặt trời này, không một ai miễn nhiễm trước khổ đau, mất mát. Thế giới này từ sau khi tổ phụ A-đam & E-va phạm tội là một thế giới nhiều tiếng khóc hơn tiếng cười, nhiều nỗi đau hơn hạnh phúc, nhiều bất hạnh hơn vui sướng. Mọi người đều biết rõ điều này. Có khác chăng là hy vọng của người có Chúa trong đời sống. Họ ý thức rằng rồi một ngày sau đời sống ngắn ngủi trong thân xác tạm bợ này, họ sẽ về với Chúa nơi nước thiên đàng sáng láng đời đời. Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa. 2Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình. 3 Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng. 4Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết ,cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. 5 Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. (KH 21:1-5)
