Gặp Gỡ Chúa Jêsus – Đón Nhận Nước Hằng Sống
Trong xã hội HK ngày nay sự bình quyền giữa nam và nữ, không chỉ là đòi hỏi của phòng trào nữ giới, nhưng còn là luật pháp. Khi đi bác sĩ khám bệnh hay xin việc làm tất cả giấy tờ đều nêu rõ rằng bệnh viện và hãng xưởng đều không được phân biệt hệ phái nam hay nữ, nhưng phải đối xử bình đẳng. Đây là một tiến bộ lớn trong xã hội ngày nay.
Tuy nhiên không phải ở đâu trên thế giới, người phụ nữ cũng được đối xử bình đẳng. Tháng qua tại một xứ Phi Châu tên Nigeria, 276 em bé gái đã bị bắt cóc đang khi học trong trường bởi một nhóm hồi giáo cực đoan Boko Haram. Nhóm khủng bố này tin rằng nữ giới không nên đi học, nhất là học theo tây phương. Các em bị ép phải theo đạo hồi và lập gia đình với những tên trong nhóm Boko Haram. Tên lãnh đạo của nhóm đã lên mạng Youtube hăm dọa sẽ bán các em gái này làm nô lệ và tuyên bố “tôn giáo chúng tôi cho phép nô lệ”.
Rồi vào thứ Năm tuần qua cũng tại một quốc gia Phi Châu, xứ Sudan, một phụ nữ tên Meriam Ibrahim 26 tuổi đang mang thai 8 tháng bị xử án treo cổ chỉ vì không chối đạo Chúa mà theo đạo hồi. Tòa án hồi giáo cho bà ba ngày suy nghĩ để bỏ đạo và trở về đạo hồi nhưng đến phút cuối bà tuyên bố: Tôi không hề là người đạo hồi. Tôi đã lớn như người tin Chúa. Tôi là người tin Chúa (I am a Christian). Tòa cũng xử phạt bà chịu 100 roi đánh vì tội tà dâm. Lý do của tội tà dâm là khi một phụ nữ hồi giáo kết hôn cùng người tin Chúa theo luật sharia của đạo hồi. Ba năm trước đây bà lập gia đình cùng một người tin Chúa và hai người có được một bé trai 18 tháng. Hiện bé cũng đang bị giữ trong ngục với mẹ.
Hiện nay trên thế giới ước tính hằng năm có gần 800K phụ nữ và trẻ em trong cảnh nghèo khó bị dụ dỗ, bị bán bởi cha mẹ, hay bị bắt cóc để bán làm nô lệ tình dục. Nói chung thân phận người phụ nữ trên rất nhiều nơi trên thế giới ngày nay vẫn còn bị xem thấp hèn hơn nam giới, đặc biệt trong các nước hồi giáo.
Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa ĐCJC và người phụ nữ Sa-ma-ri cho chúng ta thấy rất rõ về lòng nhân từ, tình yêu thương, thái độ hòa nhã, tử tế, không kỳ thị của Chúa cùng phụ nữ. Đặc biệt khi chúng ta biết rằng trong thời Chúa sinh sống người phụ nữ bị xem thường, chỉ để sinh con, làm các việc trong nhà. Thời đó họ cũng không được làm nhân chứng nơi tòa án. Và khi so sánh với những điều đang xảy ra với phụ nữ tại các quốc gia hồi giáo.
Theo sách Lu-ca thì có 24 lần ĐCJC hoặc gặp gỡ, hoặc trò chuyện, hoặc nói về người phụ nữ và tất cả 24 lần đều đối xử tử tế, nhân hậu, hòa nhã. Có ít nhất 14 người phụ nữ ghi lại trong 4 sách Phúc Âm gặp gỡ, trò chuyện, theo phục vụ được đề cập đến. Tác giả nổi tiếng Dorothy L. Sayers viết: Có lẽ chẳng lấy gì làm lạ khi phụ nữ là người đầu tiên tại máng cỏ [nơi Chúa sinh ra] và cũng là người cuối cùng tại thập giá. Họ chưa bao giờ biết được một người như Người [Chúa Jêsus], cũng sẽ không có một người đàn ông nào như vậy. Một tiên tri và thầy dạy không bao giờ rầy rà, trách móc, không bao giờ tán tỉnh, mỉa mai hay mắng nhiếc: người không bao giờ dùng phụ nữ để diễu cợt… người nghe những câu hỏi và lý lẽ của phụ nữ một cách nghiêm chỉnh. (Are Women Human?, page 47).
CUỘC GẶP GỠ TẠI GIẾNG NƯỚC
Cuộc gặp gỡ giữa ĐCJC và người phụ nữ Samari xảy ra tại một thành tên Si-kha thuộc xứ Sa-ma-ri. Thường khi người Do Thái đi từ nam lên bắc hay bắc xuống nam như từ Jerusalem lên vùng biển Ga-li-lê thì họ sẽ đi theo đường phía đông của sông Giô-đanh. Đây cũng chính là đường Chúa đã đi từ xứ Ga-li-lê đến gặp Giăng Báp-tít để chịu phép báp-tem [chỉ bản đồ].
Một trong những lý do chính là bởi vì giữa dân Samari và dân Do Thái có sự thù hằn. Nhiều thế kỷ trước đó hầu hết dân Giu-đa bị đày sang xứ Babylon. Một số ít ở lại lập gia đình với người xứ Canan sinh ra người S. Người Do Thái khinh dễ người Samari vì họ là giống người lai. Người Samari nghĩ rằng nơi thờ phượng thật sự phải trên núi Gerizim chớ không phải tại thành Jerusalem như người DT. Vì vậy người DT thường tránh đi ngang qua xứ Samari. Chúa lại chọn đi đường ngang qua xứ Samari. [bản đồ]
ĐCJC có chủ ý khi Ngài chọn đi ngang qua xứ này. Có 3 bài học chính trong câu chuyện này: 1) Đừng có thành kiến, kỳ thị, hay có thái độ khinh dễ với phụ nữ hay giống người khác, 2) Tâm linh quan trọng hơn thể xác vì sẽ còn lại đời đời và mọi người đều cần nước hằng sống ĐCJC ban cho tâm linh, 3) Tin Lành đến với cả người DT và người Samari và sự thờ phượng không phải ở một địa điểm nào nhưng với tâm thần và lẽ thật.
[Đọc Giăng 4:4-9] Chúa cùng các môn đồ đi từ thành Jerusalem sau khi dự lễ Vượt Qua (Passover) để trở về xứ Ga-li-lê. Ngài chọn đi ngang qua xứ Samari nên đến thành Si-kha. Từ thành Jerusalem đến Si-kha độ khoảng 30 miles (50km). Khi đi bộ 50km từ J. đến Si-kha thì đã khoảng giữa trưa (giờ thứ sáu). Chúa mệt ngồi nghĩ tại một giếng nước ngoài thành. Còn các môn đồ thì vào thành mua thức ăn. Đang khi nghĩ thì có một phụ nữ S. đến lấy nước từ giếng.
Thông thường phụ nữ ra giếng lấy nước lúc sáng sớm khi trời còn mát. Tại sao người phụ nữ này lại lấy nước lúc giữa trưa khi trời nắng gắt, nóng bức? Vì bà đã có 5 đời chồng và người đàn ông đang sống chung lại không phải là chồng. Có lẽ các phụ nữ khác trong thành đều tránh xa người đàn bà này. Có lẽ họ xì xầm với nhau: Thứ đồ hư thân, mất nết, thứ đồ tội lỗi! Đây là người mà gia đình, xã hội chê trách, tránh xa, thậm chí ruồng bỏ. Và dù ĐCJC biết rõ điều này vì chính Ngài nói với bà về sự thật đau lòng này trong đời bà, thì Ngài vẫn tiếp xúc và trò chuyện, rồi cho bà nước hằng sống.
Lời đầu tiên của Chúa cùng bà là để xin nước uống. Điều này khiến bà vô cùng kinh ngạc: Ủa kìa! ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đàn bà Sa-ma-ri sao? (Số là, dân Giu-đa chẳng hề giao thiệp với dân Sa-ma-ri.) (4:9). Bà tưởng ĐCJC là người Giu-đa vì Ngài từ xứ đó đi lên. Một người đàn ông DT nói chuyện với một người đàn bà S., nhất là một phụ nữ 5 đời chồng thật là một chuyện scandal (xì canh đang). Ai thấy được, biết được chắc sẽ xì xầm cả tuần lễ, thậm chí cả tháng trời!
Thời đó cũng có một câu nói của người DT tỏ ý khinh bỉ xứ S. Nước xứ S. còn dơ hơn nước đồ heo ăn. Chúng ta không biết ĐCJC có biết câu nói này hay không nhưng chắc rằng những người thầy thông giáo, luật pháp và người dân DT tại thành J. biết. Và khi họ nghe rằng J. này xin nước của người đàn bà S. để uống thì sự khinh khi còn đến chừng nào!
Đối với chúng ta hôm nay khi đọc những lời này thấy như không có gì quan trọng. Nhưng trong thời đó, bối cảnh đó là một điều hết sức lạ lùng, đặc biệt. Như những người da trắng đầu tiên có quan hệ, làm bạn với người da đen trong thời kỳ còn kỳ thị nặng nề. Chúa chúng ta vượt qua 4 sự ngăn trở trong quan hệ: ngăn trở về chủng tộc, giống dân (racial), ngăn trở về phong tục, tập quán (cultural), ngăn trở về phái giữa nam và nữ (gender), và ngăn trở về đạo đức (moral).
Vậy người tin Chúa phải học gương ĐCJC để đối xử với phái nữ các tử tế, trong sạch.
AI UỐNG NƯỚC NÀY SẼ CÒN KHÁT
Khi đọc tiếp câu chuyện thì rõ ràng rằng mục đích của việc Chúa xin nước uống là để bắt đầu một câu chuyện quan trọng hơn, không phải về nước uống nhưng về điều Ngài gọi là nước hằng sống.
Nước là điều cần thiết cho thân thể, sự sống. Không có nước chắc chắn người, thú, cây, cỏ sẽ chết. Cơ quan NASA khi gởi con thuyền khám phá trên mặt trăng hay hành tinh Mars (hỏa tinh?) thì điều đầu tiên là họ muốn biết hành tinh đó có nước hay không. Tôi có khát nước qua một lần khi trên tàu vượt biên, thân thể dã dượi, đau đớn, đầu óc chỉ nghĩ đến nước. Một người đi trong nắng gắt có một ly nước mát lạnh uống thì sung sướng, thỏa thê đến chừng nào!
Không ai uống nước một lần mà không bao giờ khát cả. Vậy khi ĐCJC nói về nước hằng sống, uống vào sẽ không còn khát nữa thì chắc Ngài không nói về nhu cầu của thể xác, nhưng về nhu cầu tâm linh. Và cũng như nước là điều hết sức quan trọng, cần thiết cho thân thể, không có sẽ chết thì người không có nước hằng sống cũng sẽ chết về tâm linh.
Nhưng ĐCJC không chỉ nói về cuộc sống đời này nhưng còn về cả cuộc sống đời đời. Không chỉ thỏa mãn nhất thời, tạm bợ nhưng thỏa mãn luôn luôn, vĩnh viễn.
Một ý nghĩa khác của nước ở đây là những nhu cầu, đòi hỏi vật chất trong đời sống hiện tại trên đất này. Nhưng rồi cũng như nước, chúng ta lại khát nữa. Tác giả sách Truyền Đạo đã viết từ ngàn năm trước đây: mắt không hề chán ngó, tai chẳng hề nhàm nghe. (1:8) Kẻ tham tiền bạc chẳng hề chán lắc tiền bạc; kẻ ham của cải chẳng hề chán về huê lợi. Điều đó cũng là sự hư không. Hễ của cải thêm nhiều chừng nào, kẻ ăn cũng thêm nhiều chừng nấy. (5:10-11) Tác giả Châm Ngôn cũng viết: Con mắt loài người chẳng hề chán, Cũng như âm phủ và vực sâu không hề đầy vậy. (27:20)
Như nước biển mặng càng uống chúng ta càng khát, đòi hỏi của thể xác, vật chất đời này càng có nhiều lại muốn thêm nhiều. Sự đòi hỏi về những điều trong cuộc sống này thật sự không bao giờ chấm dứt. Từ dumb phone sang đến smart phone, từ laptop sang đến iPad, từ Toyato Camry cho đến Lexus, từ nhẫn ½ ly sang đến 2 ly, từ nhà nhỏ sang đến nhà lớn, từ quan hệ này sang quan hệ khác, từ nơi du lịch này đến nơi du lịch khác. Có bao giờ chúng ta gọi là đủ? Bao giờ chúng ta ngừng uống nước trong đời này? Nó sẽ biến chúng ta thành nô lệ. Có lẽ chỉ khi nằm trên giường bệnh, chỉ khi gần đất xa trời, chỉ khi chúng ta ý thức rằng bên cạnh đời sống vật chất, còn có đời sống tâm linh, dù vô hình nhưng rất thật, rằng nước hằng sống cho linh hồn quan trọng hơn vật chất đời này.
ĐCJC nói với người đàn bà đã thử uống nhiều nước trong đời. Có thể thứ nước quan trọng nhất với bà là quan hệ, sự an ninh từ người đàn ông, chăm sóc, lo lắng, nuôi cho mình. Và mỗi chúng ta đều có một thứ nước quan trọng cho mình. Có người tìm nó trong quan hệ, có người trong việc làm, có người trong tiền của, quyền thế, bằng cấp, chức tước. Khi mới có những điều này chúng ta lấy làm thỏa mãn vô cùng, đã khát. Nhưng sau khi sự thỏa mãn trước đó qua rồi, sự vui thích lúc đầu không còn nữa, chúng ta lại phải tiếp tục chạy tìm thứ mới hay tăng liều thứ cũ.
Có lần tôi xem một tài liệu về một thanh niên người Bắc Hàn trốn thoát được sang Nam Hàn. Anh sanh ra và lớn lên trong trại lao động, thấy chính mẹ mình bị bắn chết, bị tra tấn, đánh đập, lúc nào cũng đói khổ. Khi sang được Bắc Hàn một điều anh lấy làm lạ là số thanh niên thiếu nữ tự tử. Năm 2011 thống kê cho biết số người tự tử tại Nam Hàn đứng đầu thế giới và Nhật Bản đứng thứ ba. Và điều lạ lùng hơn là trong danh sách 34 quốc gia có số người tự tử cao nhất hầu hết đều là những quốc gia hòa bình, phồn thịnh và không có những quốc gia nghèo khó hơn. Tại HK, năm 2010 số người trung niên (middle age) tự tử cao hơn số tử vong vì tai nạn xe cộ. Trong tất cả các nghề nghiệp bác sĩ là nghề có số người tự tử cao nhất.
Điều này cho thấy rằng vật chất vô nghĩa khi đời sống không có ĐCT, không có nước hằng sống ĐCJC nói đến. Có vật chất đầy đủ, dư thừa nhưng không bao giờ vui thỏa trong lòng. Lòng thấy trống vắng, đời sống vô vị. Một điều không thể tránh được là mọi người, tất cả chúng ta đều cần có một điều gì đó để hy vọng, để sống. Chúa nói rằng nếu chúng ta chỉ sống cho những điều trong thế gian này thì sẽ bao giờ thỏa nguyện. Khi chưa có, chúng ta bị dằng vật, khổ sở vì không có được. Chúng ta thất vọng, giận dữ, oán trách, trả thù khi ai đó ngăn cản điều chúng ta muốn đạt đến. Khi được rồi, mừng lắm. Nhưng không lâu lại chán muốn có cái mới.
KT kể một câu chuyện hết sức thương tâm. Am-môn thương Ta-ma, em gái cùng cha khác mẹ với mình. Thương mến và muốn được đến nỗi hao mòn. Rồi có người xấu bàn cho Am-môn giả bệnh. Khi vua Đa-vít đến thăm thì xin vui cho em gái Ta-ma làm bánh cho hắn ăn. Khi nàng làm bánh đem vào nơi giường bệnh, Am-môn đuổi hết người hầu ra ngoài rồi hãm hiếp em mình. KT viết: Nhưng Am-nôn không khứng nghe nàng [nghe lời van xin]; và vì người mạnh hơn, bèn gian hiếp nàng, nằm cùng nàng. Rồi đó, Am-nôn lấy làm gớm ghét nàng quá, đến đỗi tình người ghen ghét nàng lại lớn hơn tình thương yêu nàng khi trước. Am-nôn nói cùng nàng rằng: Hãy đứng dậy, đi đi! (2 Sa-mu-ên 13:14-15).
Có người nói tôi chỉ thích điều mới nhưng không bị nó làm chủ. Nếu ĐCT không là chủ đời sống quí vị, thì vật chất đời này làm chủ. Chín năm trước đây trong buổi lễ ra trường đại học Kenyon, diễn giả là một tác giả trẻ, 43 tuổi tên David Foster Wallace. Trong bài nói chuyện cùng các sinh viên ra trường, ông có những lời như sau: Mọi người đều thờ phượng. Sự chọn lựa duy nhất là chúng ta sẽ thờ phượng điều gì. Và một lý do hấp dẫn khi chọn một thần nào đó để thờ phượng… là bởi vì mọi thứ khác trên đời này rồi sẽ nuốt sống bạn. Nếu bạn thờ phượng tiền và vật, nếu đó là điều bạn tìm ý nghĩa cho cuộc sống, thì bạn sẽ không bao giờ có đủ, không bao cảm thấy đủ. Đó là sự thật. Thờ phượng thể xác này và sắc đẹp và thu hút tình dục, rồi bạn sẽ luôn thấy xấu xí. Và khi đến khi thời gian và tuổi tác bắt đầu làm bạn già đi, bạn sẽ chết một cái chết triệu lần trước khi người thân chôn bạn. Thờ phượng quyền lực, rồi bạn sẽ cảm thấy yếu đuối và sợ hãi, và sẽ tiếp tục cần quyền lực để làm tê dại nỗi sợ hãi… Sự gian dối, xảo quyệt của những sự thờ phượng này không phải là tự nó độc ác hay tội lỗi; nhưng bởi vì đó là điều tự nhiên ẩn trong tiềm thức mỗi người.
Dù là một người không tôn giáo nhưng tác giả tài ba trẻ tuổi này cũng ý thức rõ rằng mỗi người đều thờ phượng, mỗi người đặt niềm tin vào một điều gì đó cho sự cứu rỗi, mỗi người đều dựa cuộc đời mình vào điều gì đó cần có niềm tin. Và chỉ 3 năm sau đó ông tự kết liễu cuộc đời mình. Không có Chúa!
