Đức Tin Qua Lửa – Chúa Nào Nỡ Vậy!
Bài giảng sáng nay có tựa đề là Chúa Nào Nỡ Vậy! Đây là bài thứ 4 trong loạt bài Đức Tin Trong Lò Lửa dựa theo thư 1 Phi-e-rơ. Thư 1P. viết để khuyên dỗ các tín đồ cứ giữ vững đức tin trong Chúa đang khi họ phải trải qua những thảm cảnh, khó khăn, hoạn nạn, mất mát.
Bài giảng hôm nay dựa theo câu 3-8: 3 Ca ngợi Đức Chúa Trời là Cha Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta! Vì lòng thương xót lớn lao, Ngài đã cho chúng ta được tái sinh với đầy hy vọng sống nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su sống lại từ kẻ chết, 4 để thừa hưởng gia tài không thể bị phá hủy, không hư hoại hay phai tàn đã dành cho anh chị em trên trời, 5 là những người nhờ đức tin được quyền năng của Đức Chúa Trời gìn giữ cho sự cứu rỗi, là điều sẵn sàng để được bày tỏ trong thời cuối cùng. 6 Hãy vui mừng về việc này, mặc dù hiện nay anh chị em phải đau buồn vì bị thử thách nhiều bề trong ít lâu. 7 Mục đích là để chứng tỏ đức tin anh chị em quý hơn vàng, là vật có thể bị hủy diệt được thử trong lửa, để nhờ đó anh chị em được ngợi khen, vinh quang và tôn trọng khi Chúa Cứu Thế Giê-su hiện đến. 8 Anh chị em yêu kính Ngài, mặc dù không thấy Ngài, anh chị em tin Ngài dù hiện tại không thấy Ngài, nên anh chị em được tràn đầy niềm vui khôn tả và vinh quang rực rỡ, 9 vì anh chị em nhận được mục đích đức tin là sự cứu rỗi linh hồn anh chị em. (BDM)
Tôi hy vọng bài giảng này có thể trả lời phần nào một vấn đề lớn và khó trong niềm tin Cơ Đốc: sự đau khổ trong đời sống. Tại sao ĐCT lại để cho hoạn nạn, khổ đau, mất mát tiếp tục xảy ra trong thế gian này và cuộc đời người tin Chúa. Sự đau khổ trong đời sống là lý do khiến nhiều người phủ nhận sự hiện hữu của ĐCT và không tin Chúa.
Lý lẽ nêu ra như thế này: Nếu ĐCT là Đấng yêu thương, nhân từ thì Chúa sẽ không để cho những đau khổ xảy ra trong đời. Vì có đau khổ trong đời nên hoặc ĐCT không phải là Đấng yêu thương, nhân từ hoặc ĐCT không có quyền năng để làm cho con người không còn đau khổ. Tóm lại hoặc ĐCT không thể chấm dứt những đau khổ trong đời vì Ngài không đủ quyền năng, hoặc ĐCT không yêu thương, nhân từ nên cứ tiếp tục để đau khổ xảy ra.
Chúng ta trả lời thế nào trước lý luận này? KT dạy gì? Chúng ta có thể tìm câu trả lời cho câu hỏi lớn và khó này qua lý luận hay triết học. Tuy nhiên làm sao lý lẽ, triết lý khô khan, không tình cảm có thể đem lại yên ủi, khích lệ cho những người đang đau buồn trong hoạn nạn? Đau khổ trong đời sống không phải chỉ là câu hỏi thuần về trí thức, hay triết lý nhưng quan trọng hơn còn là câu hỏi của con tim.
Khi đau khổ, chúng ta không chỉ có những câu hỏi muốn được trả lời hợp lý, nhưng hơn hết con tim chúng ta đau nhức, mong muốn được yên ủi. Câu hỏi về sự đau khổ trong đời, không chỉ cần một người thầy với phấn và bản, nhưng còn cần một bờ vai để có thể tựa đầu vào khóc, để được yêu thương, yên ủi. Vậy câu trả lời về đau khổ trong đời sống có ích lợi gì nếu chỉ gồm những lý lẽ khô khan. Trong bài giảng hôm nay, tôi muốn nêu ra ba câu trả lời từ KT cho câu hỏi khó và lớn này. Ba câu trả lời này không chỉ hợp với lý lẽ nhưng còn đem đến yên ủi cho con tim của người đang trong nghịch cảnh, đang trải qua những đau buồn. Đó là: 1) Thập giá Chúa mang; 2) Thần Yên Ủi hay ĐTL Chúa ban cho con dân Ngài; 3) Hy vọng nước Trời qua sự Chúa sống lại.
THẬP GIÁ CHÚA MANG
KT dạy khổ đau là điều tất nhiên trong đời sống. Hễ còn sống là còn khổ. Vì hoạn nạn chẳng ra từ cát bụi, Và khổ nhọc cũng không nẩy mầm từ đất đai. 7 Nhưng con người sanh ra để đau khổ Như chớp lửa luôn bay xẹt lên cao. (Gióp 5:6-7 – BDM). Có người nói khỏi nhìn đâu xa, chỉ cần nhìn em bé mới sinh ra đời bắt đầu bằng tiếng khóc. Qv có thấy em bé nào vừa sinh cười tủm tỉm?
Một cách chúng ta có thể nhận biết mình từ trẻ con thành người lớn là một ngày khi chúng ta đọc tờ dán sau xe (sticker): Cuộc đời đầy khó khăn rồi mình sẽ chết! (Life is hard; then you die) thì ý thức rằng: Đây không phải là lời bi quan, nhưng là thực tế đời sống. Chúng ta thay đổi từ suy nghĩ của trẻ con sang nhận thức người lớn khi bắt đầu hiểu rằng đời sống dưới trời này chắc sẽ có mất mát, hoạn nạn, đau khổ và khi chúng ta bỏ đi ý nghĩ dại khờ là đau khổ chỉ xảy đến cho người khác chứ không cho mình.
KT cho biết tội lỗi là nguyên nhân chính đưa đến đau khổ trong đời sống. KT dạy rõ rằng sau khi A-đam, E-va phạm tội cùng ĐCT, tội lỗi xâm chiếm lòng dạ, tư tưởng con người. Tội lỗi như cỏ dại mọc đầy trong tư tưởng, tình cảm. Rễ tội lỗi chằn chịt trong tâm linh như rễ cỏ dại.
Tội lỗi khiến cho Ca-in sinh lòng ghen tức với em mình là A-bên khi ĐCT nhận của lễ dâng của em, nhưng từ chối của lễ dâng của Ca-in. Rồi Ca-in nhẫn tâm giết chết chính em ruột mình A-bên. Tội lỗi nẩy sinh ra lòng tham lam, ghen tị, thù ghét, oán hận trong quan hệ. Vì ghen tị mà vua Sau-lơ tìm mọi cách để bắt giết Đa-vít trong suốt 10 năm dài. Bao nhiêu ngày đêm Đa-vít phải khổ đau chỉ vì lòng ghen tị vô cớ này của vua Sau-lơ. Tội lỗi đem đến thù hận, chiến tranh, người giết hại người, dân tộc này tiêu diệt dân tộc khác. Ai có thể kể hết bao triệu người đã mất mạng, gia đình tan nát, nhà cửa, làng xóm hủy diệt vì chiến tranh nảy sinh từ lòng thù hận, tham lam giữa dân này và dân khác.
Thật đúng như Gia-cơ giải thích: Bởi đâu có sự xung đột và bởi đâu có sự tranh chấp giữa anh chị em? Chẳng phải là do những dục vọng đang đánh nhau trong các chi thể của anh chị em sao? 2Anh chị em thèm muốn nhưng không có được. Anh chị em giết người và tham muốn nhưng không thể đạt được. Anh chị em tranh chấp và xung đột với nhau. (Gia-cơ 4:1-2 – BD2011)
Tội lỗi không chỉ xâm chiếm lòng dạ, tư tưởng con người như cỏ dại, gây bất hòa, thù oán giữa người. Nhưng thiên nhiên cũng trở nên nghịch với loài người. Ánh nắng mặt trời ấm áp là nguồn sống cho muôn loài vật trên đất. Nhưng ánh nắng mặt trời cũng có thể thiêu đốt, tàn phá sự sống. Mưa gió đem lại nước mát, sự sống cho cây cối, các loài động vật trên đất. Nhưng mưa bão, lũ lụt gây vô số thiệt hại, khó khăn cho cuộc sống. Trong tuần qua hàng triệu người sinh sống trên xứ này cũng kinh nghiệm được nỗi khổ vì cơn lạnh tàn khốc làm cho mất điện, mất nước.
Khi đau khổ, phản ứng tự nhiên của con người là trách trời, trách người hay trách mình. Trách rồi sinh ra buồn giận, rồi quyết định không tin, bỏ Chúa. Đây là điều đầu tiên P. dạy, KT dạy chúng ta không nên làm. Không phải khi gặp đau khổ, chúng ta bỏ niềm tin vào ĐCT. Trái lại P. dạy người tin Chúa sẽ gặp thử thách, đau buồn trăm bề hầu cho đức tin càng nên mạnh mẽ, vững chắc, để có thể nhận được sự ngợi khen, vinh quang và tôn trọng trong ngày cuối khi gặp ĐCJC.
P. và nhiều nơi trong KT dạy hoạn nạn, thử thách không phải là cớ để chúng ta lui đi trong đức tin, để chúng ta hờn trách Chúa, hờn trách người. Trái lại thử thách là cớ để chúng ta càng nương cậy, tin tưởng hơn vào Chúa, vào gia đình, vào anh chị em trong hội thánh. Đau khổ có thể là cớ để đức tin thay đổi, càng mạnh mẽ, vững chắc hơn thay vì yếu đi hay mất đi. Hoạn nạn thử thách có thể giúp thay đổi tính hạnh, giúp chúng ta mềm mại, kiên nhẫn, nhân từ hơn thay vì phá hủy đức tin làm cho chúng ta trở nên cay đắng, chua chát, nghiệt ngã.
Nhiều tín đồ không oán trách Chúa, không bỏ Chúa khi gặp đau khổ. Nhưng hỏi Chúa nào nỡ vậy? Nếu Chúa yêu thương sao để những sự này xảy ra cho con, cho gia đình con, cho hội thánh con. Đây cũng chính là câu hỏi của P. khi ĐCJC nói với ông và các môn đồ rằng Ngài phải đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ trong tay người DT, rồi cuối cùng chịu chết trên thập giá.
KT viết về phản ứng của P. khi nghe những lời này: Từ đó, Đức Chúa Jêsus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại. Phi-e-rơ bèn đem Ngài riêng ra, mà can rằng: Hỡi Chúa, Đức Chúa Trời nào nỡ vậy! Sự đó sẽ không xảy đến cho Chúa đâu! (Ma-thi-ơ 16:22). ĐCT nào nỡ để Jesus phải chịu những khổ nhục như vầy!
Hơn 30 năm đã qua từ khi P. nói với ĐCJC rằng ĐCT nào nỡ vậy cho đến khi P. viết thư cho 1 P. gửi các tín đồ đang trải qua bao nhiêu thử thách, hoạn nạn, mất mát. Trong thời gian đó chính P. đã trải qua bao nhiêu thử thách, hoạn nạn, đau buồn vì tin Chúa, vì giảng Tin Lành, vì hầu việc Chúa. P. hiểu rằng những thử thách, hoạn nạn như lò lửa thử thách, rèn luyện đức tin. P. hiểu rõ hơn về ý nghĩa và giá trị của thử thách, của khổ đau trong cuộc đời người tin Chúa.
Khi P. dùng hình ảnh của lò lửa thử thách, tôi tin ông muốn nhắc các tín đồ về một câu chuyện quen thuộc trong sách Đa-ni-ên. Sau khi Đ. và hai bạn từ chối quì lạy tượng do vua Nê-bu-cát-nết-xa dựng, vua ra lệnh bỏ họ vào lò lửa hừng. Khi nhìn vào lò lửa hừng đang cháy đỏ, vua và quan không chỉ thấy 3 người, nhưng lại thấy thêm một người thứ 4 mà họ tả là hình dáng của người thứ tư giống như Con của Ðức Chúa Trời. (Đa-niên 3:25 – BDM). Chính ĐCJC cùng ở trong lò lửa thử thách với con dân Ngài.
Bây giờ, hỡi Gia-cốp! Đức Giê-hô-va là Đấng đã dựng nên ngươi, hỡi Y-sơ-ra-ên! Ngài là Đấng đã tạo thành ngươi, phán như vầy: Đừng sợ, vì ta đã chuộc ngươi. Ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi; ngươi thuộc về ta. 2 Khi ngươi vượt qua các dòng nước, ta sẽ ở cùng; khi ngươi lội qua sông, sẽ chẳng che lấp. Khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy, ngọn lửa chẳng đốt ngươi. (Ê-sai 43:1-2)
Trong thời ĐCJC, thập giá là biểu tượng của sự trừng phạt kinh khủng nhất của đế quốc La-mã cho những kẻ vi phạm tội trọng. Nhưng sau sự chết của ĐCJC, thập giá hôm nay trở nên biểu tượng của tình yêu thương, sự tha thứ, lòng nhân từ của ĐCT cho con người.
Thập giá Đấng Christ không trả lời mọi câu hỏi triết lý về sự đau khổ trong đời. Nhưng thập giá trả lời rất rõ cho thế gian này một điều chắc chắn: Sự đau khổ không phải vì ĐCT không yêu thương thế gian. Trái lại ĐCT gánh chịu nỗi khổ đau, tủi nhục cho tội lỗi con người. Đây là lý do tôi tin Chúa, tôi tin tin lành qua thập tự giá ĐCJC chịu chết.
Thập giá bày tỏ tình yêu thương của Chúa cho loài người ngay trong đau khổ. Người tin Chúa có thể cả quyết cách chắc chắn rằng khi họ đi trong trũng khóc than, trũng bóng chết, thì biết chắc rằng Chúa luôn ở cùng họ vì chính ĐCJC đã đi qua trũng khóc than, bóng chết để họ được cứu, được sống. Sự đau khổ là câu hỏi khó và lớn. Nhưng thập giá Đấng Christ là bằng chứng cụ thể, là câu trả lời cho những người hoài nghi về tình yêu thương của ĐCT cho loài người.
Không phải vì ghét bỏ con dân Ngài mà Chúa để chúng ta qua lò lửa thử thách. Nhưng trái lại vì tình yêu thương Chúa biết chúng ta cần được tôi luyện, thay đổi. Có những thay đổi chỉ có thể xảy ra trong thử thách. Đức tin trong lửa mới là đức tin thật sự và đáng quí trọng.
THẦN YÊN ỦI CHÚA BAN CHO CON DÂN NGÀI
Thập giá Chúa mang là bằng chứng cụ thể, là câu trả lời cho câu hỏi lớn và khó về sự đau khổ trong đời sống rằng ĐCT yêu thương con người, hy sinh cho con người. ĐCJC hiểu và cảm thông cho những người chịu thử thách, hoạn nạn, đau buồn vì chính Ngài đã trải qua những điều đó.
Câu trả lời thứ hai là qua chính sự ban cho của Ngôi Ba ĐCT tức ĐTL hay Thần Yên Ủi cho những ai tin nhận Ngài. Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta. 16 Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, 17 tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. (Giăng 14:15-17)
Trong đêm cuối đời, ĐCJC hứa cùng các môn đồ không để họ mồ côi. Khi Chúa đi, Ngài sẽ nài xin Cha ban cho họ một Đấng Yên Ủi, paraklētos. ĐTL ban cho chúng ta không chỉ để dạy dỗ chúng ta lẽ thật từ lời Chúa trong KT, để bẻ trách, sửa trị, nhưng cũng để khích lệ, yên ủi. Đặc biệt trong những lúc đau buồn, khi trải qua hoạn nạn, mất mát.
Thư 1P. viết gởi những tín đồ đang phải chịu đau buồn vì bị thử thách nhiều bề trong ít lâu. Theo BTT thì đây là những thử thách trăm bề, hay muôn vàn thử thách, từ trăm phía khác nhau. Thử thách xảy ra quá nhiều không đếm hết nỗi, quá đột ngột, mau chóng đến không kip thở! P. không hề vẽ một bức tranh màu hồng về cuộc đời người theo Chúa. P. xác nhận rằng những thử thách này đem lại nhiều đau buồn. Vậy KT không hề dạy khi chúng ta gặp hoạn nạn, mất mát chúng ta phải bình thản, dững dưng như một chuyện không đáng, hay phải can trường không bày tỏ cảm xúc sầu khổ, đau buồn. Trái lại KT dạy Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc. (Rô-ma 12:15).
Một ân tứ lớn lao và quan trọng trong HT Chúa là ân tứ khích lệ (khuyên bảo theo bản cũ). Ai gánh việc khuyên bảo, hãy khuyên bảo [parakaleō] (Rô-ma 12:8) Từ khích lệ là parakaleō, có nghĩa là gọi đến bên cạnh một người. Chúng ta muốn ai đến bên cạnh mình? Người chúng ta yêu thương, tín cẩn, người cảm thông, yên ủi chúng ta.
ĐTL là Đấng Yên Ủi, paraklētos. Đấng đến bên cạnh chúng ta để yên ủi, khích lệ, nâng đở khi đau buồn, khi than khóc. Nếu Ngôi Hai ĐCT bày tỏ tình yêu thương qua thập tự giá, Ngôi Ba ĐCT bày tỏ tình yêu thương qua sự hiện diện trong đời sống của người tin Chúa.
Một tín đồ người Nhật Bản tên Toyohiko Kagawa không lâu sau đệ nhị thế chiến khi Nhật phải đầu hàng vô điều kiện, được Nhật hoàng mời vào hoàn cung để giải thích về ý nghĩa của thập tự giá. Cuộc đời của Kagawa là bằng chứng về thay đổi qua thập tự giá.
Cha ông là một người có quyền thế và giàu có, bộ trưởng và cố vấn cho nhật hoàng nhưng mẹ ông là một gái hát geisha. Cha mẹ ông chết khi ông chỉ mới 4 tuổi và phải ở với mẹ ghẻ.
Khi đi học ông được một giáo sĩ HK hệ phái Trưởng Lão TS Harry Myers dạy về đạo Chúa. Sau khi nhận lễ Báp-tem tuổi 15, ông bị gia đình, họ hàng từ bỏ. Từ đó ông sống cuộc đời nghèo khó trong những khu vực bẩn thiểu nhất, giúp đở cho những người bần hàn nhất trong xã hội. Theo ông thì thập tự giá là biểu tượng cụ thể nhất của tình yêu thương, thập tự giá là trung tâm của niềm tin Cơ đốc.
Ông viết: Tôi biết ơn đạo Shinto, đạo Phật, và đạo Khổng. Tôi nợ 3 đạo giáo này rất nhiều… Tuy nhiên 3 đạo giáo này đã hoàn toàn không thể đáp ứng ước nguyện sâu kín nhất của tâm hồn, con tim tôi. Tôi là người hành hương trên cuộc đời dài lê thê, đăng đẳng mà không nơi quay đầu lại. Tôi đã hết sức mệt mỏi, kiệt sức, chân đau đớn. Tôi đi trong thế giới tối tăm, đau thương nơi những thảm cảnh dầy đặc. Nước mắt đã là thức ăn ngày và đêm… Phật giáo dạy về lòng nhân từ… Nhưng từ xưa đến nay có ai dạy như Jêsus: Vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội. (Matt 26:28).
HY VỌNG VỀ NƯỚC TRỜI QUA SỰ CHÚA SỐNG LẠI
Hãy vui mừng về việc này, mặc dù hiện nay anh chị em phải đau buồn vì bị thử thách nhiều bề trong ít lâu. 7 Mục đích là để chứng tỏ đức tin anh chị em quý hơn vàng, là vật có thể bị hủy diệt được thử trong lửa, để nhờ đó anh chị em được ngợi khen, vinh quang và tôn trọng khi Chúa Cứu Thế Giê-su hiện đến.
P. kêu gọi tín đồ hãy vui mừng. Qv đừng hiểu lầm rằng P. khuyên chúng ta hãy vui mừng vì hoạn nạn, thử thách. Không ông khuyên chúng ta dù trong thử thách vẫn có thể vui mừng vì 3 lý do nêu ra từ câu 3-5: Vì lòng thương xót lớn lao, Ngài đã cho chúng ta được tái sinh với đầy hy vọng sống nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su sống lại từ kẻ chết, 4 để thừa hưởng gia tài không thể bị phá hủy, không hư hoại hay phai tàn đã dành cho anh chị em trên trời, 5 là những người nhờ đức tin được quyền năng của Đức Chúa Trời gìn giữ cho sự cứu rỗi, là điều sẵn sàng để được bày tỏ trong thời cuối cùng. 6 Hãy vui mừng về việc này, mặc dù hiện nay anh chị em phải đau buồn vì bị thử thách nhiều bề trong ít lâu.
1) Vì chúng ta được tái sinh trong hy vọng sống; 2) Vì chúng ta sẽ thừa hưởng gia tài không thể bị phá hủy, không hư hoại hay phai tàn đã dành cho anh chị em trên trời; 3) Vì chính quyền năng của ĐCT gìn giữ cho sự cứu rỗi và bảo đảm cho gia tài trên thiên đàng.
Nếu sự chết của ĐCJC trên thập giá bày tỏ tình yêu thương của ĐCT cho loài người đang khi còn mắc tội, thì sự sống lại của ĐCJC từ mồ tối đem lại hy vọng cho những ai đau khổ trong hoạn nạn. Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, 52 trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa. 53 Vả, thể hay hư nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết. 54 Khi nào thể hay hư nát nầy mặc lấy sự không hay hư nát, thể hay chết nầy mặc lấy sự không hay chết, thì được ứng nghiệm lời Kinh thánh rằng: Sự chết đã bị nuốt mất trong sự thắng (1 Cô-rinh-tô 15:51-54)
KT hứa về một trời mới, đất mới nơi sẽ không còn than khóc, đau khổ, bệnh tật, chết chóc. Nơi mọi giọt nước mắt sẽ được chính tay ĐCT lau ráo, mọi khổ đau sẽ đổi sang hạnh phúc. Chính hy vọng này giúp chúng ta biết chắc rằng sự than khóc chỉ ở trọ trong đêm, nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng (TT 30:5)
Những điều quí báu nhất trong cuộc đời thường là kết quả của nỗi khổ, niềm đau, từ những khó khăn, gian nan, thử thách. Nếu ĐCJC không chịu thương khó, không chịu chết trên thập giá, thì làm sao chúng ta được cứu tội? Nếu người mẹ không chịu khó, chịu khổ cưu mang con 9 tháng 10 ngày, rồi phải chịu đau đớn, banh da xé thịt sanh con ra, làm sao con có sự sống trên đời này? Nếu cha mẹ không đổ mồ hôi, nước mắt làm việc khó nhọc, làm sao con có miếng ăn, manh áo, nhà ở ấm áp, đời sống tiện nghi?
Chính những đau buồn, khó khăn, thử thách tạm thời khiến cho niềm vui rạn rỡ hơn, hạnh phúc trọn vẹn trong ngày chúng ta gặp Chúa.
