Đưa Má Cho Kẻ Vả Mình
Một lần sau khi nghe Chúa Giê-xu giảng dạy tại nhà hội thành Ca-bê-na-um, các môn đồ nói với nhau: Ai ăn thịt và uống huyết Ta thì được sự sống đời đời; Ta sẽ khiến người ấy sống lại trong ngày cuối cùng. Lời nầy thật khó; ai nghe được? (Giăng 6:60). Sau đó một số quyết định không tiếp tục theo Ngài. Khi nói về những lời dạy khó của Đức Chúa Giê-xu, chúng ta có thể hiểu theo ba nghĩa chính sau đây.
Nghĩa thứ nhất là khó hiểu. Lời Chúa dạy về sự tái sinh cho Ni-cô-đem là một ví dụ. Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời. (Giăng 3:3). Dù Ni-cô-đem là thành viên của tòa công luận Do Thái thời bấy giờ, một người trí thức, quyền thế và tài giỏi, ông vẫn không hiểu được lời Chúa dạy về sự tái sanh nên hỏi: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao? (Giăng 3:4).
Nghĩa thứ hai của lời dạy khó là khó nghe hay khó tin. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều lời dạy của Chúa Giê-xu rõ ràng, dễ hiểu nhưng lại rất khó nghe, khó tin. Như lời Chúa dạy rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta. (Giăng 8:58). Lời dạy này hàm ý rằng Giê-xu từ làng Na-xa-rét đã hiện hữu từ trước khi Áp-ra-ham, tổ phụ của dân Do Thái, sinh ra hàng ngàn năm trước đó. Chúa Giê-xu lại còn tuyên bố Ngài hiện hữu từ trước khi Sa-tan phạm tội cùng Đức Chúa Trời, bị đuổi khỏi thiên đàng: “Ta đã thấy quỷ Sa-tan từ trời sa xuống như chớp”. (Lu-ca 10:18). Hay như lời dạy vô cùng khó tin rằng chính Ngài là con đường duy nhất để mọi người có thể đến với Đức Chúa Trời: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. (Giăng 14:6).
Nghĩa thứ ba là khó thực hiện. Nhiều lời Chúa dạy dễ hiểu, có thể tin được nhưng rất khó làm theo. Như khi Phi-e-rơ đến hỏi Chúa về sự tha thứ cho người anh em: Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng?22 Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy (Ma-thi-ơ 18:21-22). Hiếm có ai có thể tha thứ cho người phạm lỗi cùng mình năm bảy lần; nói chi đến việc tiếp tục tha thứ như lời Chúa dạy!
Dĩ nhiên cũng có những lời Chúa dạy vừa khó hiểu, khó tin và khó làm theo. Như lời dạy của Đức Chúa Giê-xu về việc yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, đưa má cho kẻ vả mình: Nhưng ta phán cùng các ngươi, là người nghe ta: Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, 28 chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình. 29 Ai vả ngươi má bên nầy, hãy đưa luôn má bên kia cho họ; còn nếu ai giựt áo ngoài của ngươi, thì cũng đừng ngăn họ lấy luôn áo trong. 30 Hễ ai xin, hãy cho, và nếu có ai đoạt lấy của các ngươi, thì đừng đòi lại. 31 Các ngươi muốn người ta làm cho mình thể nào, hãy làm cho người ta thể ấy. (Lu-ca 6:27-31).
Không ai có thể phủ nhận lời dạy này thật sự khó trong cả ba phương diện: khó hiểu, khó tin và khó thực hành.
MỘT LÝ THUYẾT VIỄN VONG?
Khi so sánh những lời dạy bảo, nguyên tắc đạo đức từ các nền văn hóa hay quốc gia khác nhau từ xưa đến nay, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng. Như những lời khuyên dạy mọi người phải ăn hiền ở lành, làm việc phúc thiện, giúp đở người nghèo đói, cấm giết hại người vô tội, có lòng từ bi, bác ái, độ lượng, phải tập tha thứ. Giáo Sư C.S. Lewis tóm tắt một số nguyên tắc đạo đức từ nhiều phong tục, tập quán, xã hội, quốc gia, tôn giáo trong phần phụ lục của quyển The Abolition of Man để chứng minh những điểm tương đồng về đạo đức.
Tuy nhiên không một lãnh tụ tôn giáo, triết gia hay hiền nhân nào trong lịch sử loài người từ xưa đến nay dạy phải yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình như Chúa Giê-xu đã dạy các môn đồ trong Kinh Thánh.
Khi nghe lời dạy này, người ta có thể xem đây chỉ là lý tưởng viễn vong, tách rời với thực tế đời sống, dạy chỉ để dạy, lý thuyết để nghe bùi tai nhưng không ai có thể làm theo, sống một cuộc đời như vậy. Thậm chí nhiều người còn cười nhạo, chế diễu: “Tôi còn chưa yêu được chồng tôi, vợ tôi, các con tôi, cha mẹ anh chị em trong gia đình huống chi đến yêu kẻ thù mình. Ai vả vào má tôi lẽ nào tôi lại để họ vả luôn má kia? Ai lấy áo ngoài tại sao tôi lại để họ lấy luôn áo trong? Tại sao lại dạy điều gì nhu nhược, thụ động đến như vậy?”
Tuy nhiên không ai có thể phủ nhận một sự thật là chính Đức Chúa Giê-xu Christ đã sống như lời Ngài dạy. Chính Chúa đã thực hiện tất cả những lời dạy khó này. Khi bị kẻ thù vu oan, bắt hại, tra tấn, nhổ trên người rồi cuối cùng đóng đinh cho đến chết, Chúa vẫn tiếp tục yêu thương, tha thứ, cầu nguyện cho họ. Dù biết Giu-đa Ít-ca-ri-ốt sẽ phản bội, bán mình, Phi-e-rơ sẽ từ chối không nhận mình, các môn đồ khác lìa bỏ mình, Chúa Giê-xu vẫn hạ mình rửa chân cho họ trong buổi ăn tối cuối đời. Trên thập giá dù biết mình sẽ chết cách đau đớn, tủi nhục, sẽ bị chính Cha từ bỏ, Chúa Giê-xu vẫn cầu nguyện xin Đức Chúa Trời tha thứ cho những kẻ thù nghịch, phản bội, hành hạ, làm nhục Ngài: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì (Lu-ca 23:34).
Đức Chúa Giê-xu cũng không dạy những lời này như một lý thuyết trừu tượng, viễn vong. Tại sao? Vì đối tượng của lời dạy này là các môn đồ và đoàn dân đông, những người dân lao động, ít học thức, những người nghèo khó, thuộc tầng lớp thấp hèn trong xã hội. Họ không thuộc thành phần trí thức sống trong “tháp ngà” tách rời khỏi thế giới thực tế bên ngoài, chỉ chú tâm vào những triết lý cao siêu, trừu tượng, như dân chúng và các triết gia thành A-thên chỉ muốn tranh luận về các học thuyết mới lạ nhất (Công Vụ 17:18-21). Trái lại đây là những người phải làm việc cực nhọc, vất vả mới có miếng ăn, manh áo. Họ hiểu rất rõ thực tế phủ phàng, tàn nhẫn trong quan hệ con người. Đời sống và kinh nghiệm hằng ngày của họ là “cá lớn nuốt cá bé”, “ăn miếng trả miếng”, “mắt đền mắt, răng đền răng, mạng đền mạng”.
Vậy câu hỏi chính yếu không phải là những lời dạy này có quá xa vời thực tế hay không, nhưng chúng ta có hiểu đúng hay không; không phải quá lý tưởng, trừu tượng nhưng có thể áp dụng thế nào cho đời sống của những dân dã bình thường, thậm chí nghèo khó, bần hàn trong xã hội. Câu hỏi là những lời dạy này có ý nghĩa gì và được áp dụng thế nào trong đời sống của tôi và quý độc giả.
QUÂN BÌNH GIỮA CÔNG CHÍNH VÀ NHÂN TỪ
Một chỉ trích thông thường nhất khi nghe lời dạy “ai vả ngươi má bên nầy, hãy đưa luôn má bên kia cho họ; còn nếu ai giựt áo ngoài của ngươi, thì cũng đừng ngăn họ lấy luôn áo trong”, là lời dạy này khuyến khích sự thụ động, cứ để người ta bức hiếp, bắt chẹt, làm hại mà đừng chống cự gì cả. Hoàn toàn sai lầm.
Thật sự Đức Chúa Giê-xu dạy các môn đồ và đoàn dân một bài học quan trọng và giá trị từ Cựu Ước theo tiên tri Mi-chê. Bài học đó là về sự quân bình trong đời sống đạo đức của người tin Chúa. Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện, điều mà Đức Giê-hô-va đòi hỏi ngươi. Đó chẳng phải là làm điều công chính, ưa sự nhân từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao? (Mi-chê 6:8 – BHĐ2010).
Sự quân bình đây là giữa sự cứng cỏi và mềm mại, giữa công bình và nhân từ, giữa can đảm và ngọt ngào, giữa vũ lực và thuyết phục, giữa sự thật và tình yêu thương. Một người có đời sống giống Chúa sẽ học đòi để giữ sự quân bình rất khó nhưng quan trọng và cần thiết này. Chúng ta nhận thấy sự quân bình này trong cuộc đời của Chúa Giê-xu. Chúa lên án, buộc tội nặng nề những người Pha-ri-si và thông giáo. Nhưng lại mềm mại, nhu mì, hiền hòa, rộng lòng nhân từ tha thứ cho người có tội, như với người phụ nữ phạm tội tà dâm, người đàn bà Sa-ma-ri có năm đời chồng, hay với Xa-chê người thu thuế tội lỗi.
Ma-thi-ơ 23 cho thấy một hình ảnh của Giê-xu hoàn toàn tương phản với Giê-xu nhân từ, kiên nhẫn, giàu lòng tha thứ. Tám lần Chúa lên án những người Pha-ri-si và thông giáo: Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! (Ma-thi-ơ 23:13, 14, 15, 16, 23, 25, 27, 29). Hỡi loài rắn, dòng dõi rắn lục kia, thế nào mà tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được? (Ma-thi-ơ 23:13, 33). Chúa còn vạch rõ bộ mặt đạo đức giả của họ: Vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy. 28 Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi. (23:27-28).
Vậy rõ ràng lời dạy đưa má kia, để lấy luôn áo trong không thể là lời dạy rằng nạn nhân phải thụ động, im lặng, đừng chống cự gì cả. Yêu kẻ thù mình hoàn toàn không có nghĩa là để mặc họ muốn làm gì sai quấy, tội lỗi mà không hề lên tiếng phản đối, lên án, buộc tội.
Hai thí dụ cụ thể từ Chúa Giê-xu và Phao-lô.
Chúa biết mình sẽ bị bắt, bị xử chết trên thập giá cách bất công, vô lý. Tuy nhiên khi Ngài bị bắt đem ra xử trước thầy tế lễ thượng phẩm An-ne, một việc trái luật pháp xảy ra cho Ngài. Sau khi Chúa nói, một thuộc hạ của thầy tế lễ cả vả vào mặt Chúa. Chúa làm gì? Ngài hỏi họ: Ví thử ta nói quấy, hãy chỉ chỗ quấy cho ta xem; nhược bằng ta nói phải, làm sao ngươi đánh ta? (Giăng 18:23). Rõ ràng Chúa chống đối và khiếu nại điều bất công, trái luật pháp.
Một ví dụ khác từ sứ đồ Phao-lô. Sau khi bị bắt bỏ vào ngục và bị đánh đòn cách vô cớ, Phao-lô biết quyền công dân La-mã của ông bị xâm phạm. Phao-lô làm gì? Ông chống đối và lên án điều bất công, trái luật pháp đó. Phao-lô nói cùng lính rằng: Chúng ta vốn là quốc dân Rô-ma, khi chưa định tội, họ đã đánh đòn chúng ta giữa thiên hạ, rồi bỏ vào ngục; nay họ lại thả lén chúng ta ư! Điều đó không được. Chính các quan phải tới đây mà thả chúng ta mới phải! (Công Vụ 16:37).
Phao-lô cũng đã khiếu nại lên đến tận đại đế Sê-sa vì quân lính và quan chức đã bắt và bỏ tù ông vô cớ: “Tôi đang đứng trước tòa án Sê-sa là nơi tôi phải chịu xét xử; vì tôi chẳng có tội gì với người Do Thái cả, như ngài đã biết rõ. 11Nếu thật tôi có tội hay phạm điều gì đáng chết, tôi chẳng xin tha chết đâu; trái lại, nếu họ không có chứng cứ gì để buộc tội tôi thì không ai được nộp tôi cho họ. Tôi kêu nài đến Sê-sa.” (Công Vụ 25:10-11 – BHĐ)
Tình yêu thương không dựa trên sự thật là tình yêu giả tạo, gian dối. Nhưng sự thật không tình yêu thương, lòng nhân từ thì thật tàn nhẫn. Nhà thần học Đức Eberhard Arnold viết: Sự thật không tình yêu thương giết hại, nhưng tình yêu thương không sự thật dối gạt. Kinh Thánh dạy người tin Chúa phải nói sự thật trong tình yêu thương: Nhưng Ngài muốn chúng ta lấy tình yêu thương nói lên sự thật, để trong mọi sự chúng ta tăng trưởng, vươn lên Đấng làm đầu, tức là Chúa Cứu Thế. (Ê-phê-sô 4:15 - BDM)
Vì hiểu lầm lời dạy của Chúa Giê-xu trong Lu-ca 6:27-31 nên nhiều người chủ trương niềm tin bất bạo động (pacificist), giải thể quân đội. Chúa Giê-xu hoàn toàn không dạy rằng chính quyền phải bải bỏ quân đội, giải tán cảnh sát; hay khi đất nước, xã hội bị tấn công, phải hoàn toàn thụ động đừng chống trả. Chúa cũng không dạy rằng nếu ai đánh hại, chúng ta cứ để họ tiếp tục; ai uy hiếp, hãm hại những người thân yêu của chúng ta, chúng ta phải làm thinh, im lặng, chịu đựng. Đây là những suy nghĩ hoàn toàn sai lầm, thậm chí nguy hiểm. Lời Chúa dạy rất quân bình, có ý nghĩa sâu sắc và mang nhiều sắc thái tế nhị hơn chúng ta thường hiểu.
ĐƯA LUÔN MÁ KIA ĐỂ LÀM GÌ?
Ai vả ngươi má bên nầy, hãy đưa luôn má bên kia cho họ; còn nếu ai giựt áo ngoài của ngươi, thì cũng đừng ngăn họ lấy luôn áo trong (Lu-ca 6:29)
Trước hết tôi muốn cùng quý độc giả suy nghĩ về hành động của một người tát vào má người khác. Tôi không biết võ học hay kỷ thuật tự vệ. Tuy nhiên tôi biết chắc chắn một điều là không ai đánh gục kẻ nghịch mình bằng cách vả vào má cả. Không ai dạy võ đánh người mà nhắm vào gò má cả. Trái lại phải nhắm vào những chổ nhược, chổ yếu, những chổ gây thương tích trầm trọng, gây nhiều thiệt hại hơn hết cho kẻ nghịch, như nhắm vào mắt, vào cổ, vào mũi, vào hàm, hay vào đầu. Cho dù có nhắm vào má thì cũng không ai vả nhưng đấm thật mạnh!
Vậy ai vả má có nghĩa gì? Vả vào má là làm nhục. Vả vào má không phải là hành động tấn công gây ra thiệt hại về thể xác nhưng là một sỉ nhục đối với danh dự của người bị vả. Vả vào má là chủ yếu làm nhục một người, là muốn làm tổn thương danh dự, lòng tự trọng của một người.
Khi Chúa Giê-xu dạy ai vả ngươi má bên nầy, hãy đưa luôn má bên kia cho họ, Chúa muốn dạy rằng những người theo Chúa cần phải có một thái độ hoàn toàn khác với thái độ, phản ứng tự nhiên của chúng ta. Môn đồ Chúa Giê-xu phải làm khác với phản ứng tự nhiên khi bị vả vào má, khi bị người chủ ý làm nhục. Phản ứng tự nhiên khi bị vả vào má là gì? Là vả lại má người, không phải chỉ vả mà đấm cho rụng cả hàm răng, đánh cho gãy sống mũi. Phản ứng tự nhiên là bằng mọi cách phải trả thù, bằng mọi cách phải bảo vệ mặt mũi, danh dự cá nhân mình. Khi tôi bị làm nhục, tôi phải làm nhục kẻ nghịch tôi gấp mươi lần hơn. Không chỉ trả thù với mắt đền mắt, nhưng mắt phải đền cả mạng sống.
Chúa dạy thái độ đúng của môn đồ là dù chú tâm vào việc thực hiện sự công bình nhưng không quá chú tâm vào việc trả thù hay giữ mặt mũi, danh dự cá nhân. Đòi hỏi công bình nhưng không đòi hỏi phải trả thù hay thỏa mãn lòng thù ghét, cay đắng. Đòi hỏi công bình nhưng không ăn miếng trả miếng. Một thái độ, phản ứng hoàn toàn trái với tự nhiên của con người!
Khi bị đối xử bất công, nghiệt ngã, khi bị làm nhục, con tim, trí ức chúng ta thường bảo mình làm gì? Hai phản ứng phổ thông:
Phản ứng thứ nhất là thụ động. Khi bị vả má, người thụ động làm thinh, cắn răng chịu đựng. Đặc biệt là khi yêu thương người vả má mình. Có thể họ nghĩ rằng sự thụ động mới thật là thái độ của người can trường, dũng cảm, hay là hành động đúng đắn của lòng yêu thương chân thật. Có thể vì lo sợ hay hèn nhát, không can đảm để phản ứng, để đòi hỏi sự công bình. Có thể họ nghĩ rằng khi lên tiếng đòi hỏi công bình, hậu quả có thể tệ hơn, nên tốt hơn cứ tiếp tục để người vả má. Phản ứng thứ hai là trả thù, bằng mọi cách, dù có phải chờ đợi bao lâu, phải trả thù. Như vua Câu Tiển chịu nằm gai nếm mật, ngậm đắng nuốt cay, nhục nhã để nuôi chí khí, lòng quyết tâm chờ cơ hội trả mối thù xưa.
Dĩ nhiên cũng có người phản ứng với cả hai thái độ. Ban đầu im lặng, làm thinh, không kêu ca hay lên tiếng đúng sai, nhưng trong lòng lại dồn nén, đầy hận thù, cay đắng. Đến một lúc nào đó họ bùng nổ. Đây là những người tưởng như rất bình thường, im lìm nhưng bỗng nhiên một ngày nào đó đem súng đến trường học hay công sở bắn chết người.
Đức Chúa Giê-xu dạy rằng cả hai thái độ, thụ động hay trả thù, hay đầu tiên thụ động sau lại bùng nổ hay bùng nổ rồi thụ động đều không đúng. Hai cách này không đem lại kết quả hay lợi ích tốt đẹp gì. Trái lại chỉ đem lại sầu khổ, đau đớn, đắng cay, thù hận. Thử nhìn xem thế giới hiện tại đầy tràn hậu quả từ hai phản ứng này chỉ làm tăng thêm biết bao nhiêu đau khổ, chiến tranh, thù ghét, oán hận.
Thay vì làm theo phản ứng tự nhiên khi chịu nhận bất công, khi bị làm nhục, khi danh dự bị bôi bác thì im lặng, bình thản bên ngoài mặt nhưng bên trong lòng đầy oán hận, căm thù, môn đồ Đấng Christ cần thẳng thắng lên tiếng đòi hỏi công bình nhưng trong lòng bình an, tha thứ. Đây mới chính thật là làm điều công chính, ưa sự nhân từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời. Hoàn toàn tương phản với phản ứng, thái độ tự nhiên.
Chúng ta thường không dám đối chất, giải thích, đòi hỏi công bình vì sợ mất tình bạn. Dù biết sai vẫn làm thinh. Lý luận rằng tôi chỉ muốn giữ tình bạn, tình yêu. Nhưng dù làm thinh bên ngoài thì trong lòng đầy hờn giận, cay đắng hay khinh thường. Trái lại khi bị người đối xử tệ bạc với mình, người tin Chúa phải lên tiếng để giải thích, đối chất, đòi hỏi công bình nhưng tránh để sự thù hận hay khinh khi thành rễ cay đắng mọc sâu trong lòng mình.
Nhưng tại sao Chúa lại dạy đưa luôn má bên kia cho họ? Hầu hết mọi người khi đọc câu này thì lập tức nghĩ rằng Chúa dạy đưa má để người ta tiếp tục vả mình. Chúng ta hỏi: Khi một người đưa má cho chúng ta thì thường họ có ý gì? Muốn chúng ta vả họ hay muốn chúng ta hôn họ? Lời dạy đưa luôn má kia có nghĩa là để cho người vả má một cơ hội mới để hàn gắn lại quan hệ, để có thể hôn thay vì tiếp tục vả. Đây mới chính là ý nghĩa của lời Chúa dạy.
Khi đưa má bên kia, khi đưa luôn áo trong, chúng ta nói với người làm tổn thương mình, tôi sẵn sàng cho anh chị một cơ hội mới để chúng ta có thể bắt đầu lại quan hệ, để hàn gắn lại quan hệ; tôi mong anh chị thấy rõ được thiện chí, tấm lòng chân thành của tôi, thay vì vả má, hãy hôn tôi. Quả thật là một lời dạy tuyệt vời, với ý nghĩa thật sâu nhiệm.
Chỉ vì một bài hát của các phụ nữ trong xứ Y-sơ-ra-ên khen tặng người anh hùng trẻ tuổi Đa-vít Sau-lơ giết hàng ngàn, còn Đa-vít giết hàng vạn! (1 Sa-mu-ên 18:7) nên vua Sau-lơ nên vua sinh lòng ghen tức. Từ ghen tức vua sinh lòng thù hận, tìm đủ mọi cách để bắt giết Đa-vít. Trong khoảng 10 năm dài, Đa-vít phải chạy trốn Sau-lơ nơi đồng vắng, trong sa mạc, nơi hang động và cả vào xứ kẻ thù để giữ mạng sống chính mình và gia đình. Hai lần Đa-vít có cơ hội để giết Sau-lơ nhưng lại tha mạng sống cho vua (1 Sa-mu-ên 24, 26). Đa-vít giải thích lý do ông tha mạng sống cho Sau-lơ: Đức Giê-hô-va sẽ làm quan xét, sẽ đoán xét cha và tôi; Ngài sẽ xem xét, binh vực cớ lý tôi, và xử cách công bình mà giải cứu tôi khỏi tay cha. (1 Sa-mu-ên 24:16). Dù sau khi được tha mạng lần thứ nhất, Sau-lơ vẫn tiếp tục đuổi bắt để giết Đa-vít, vẫn tiếp tục xem Đa-vít như kẻ thù. Khi có cơ hội lần nữa để giết Sau-lơ, Đa-vít tiếp tục cho vua một cơ hội mới để ăn năn, thay đổi. Đây là một bài học cụ thể cho việc yêu kẻ thù mình, đưa luôn má kia dù khi bị vả má bên đây.
Một người chồng, người cha hay nặng lời mắng nhiếc vợ con khi có chuyện không như ý mình muốn hay đòi hỏi. Người con cố gắng khuyên giải với hy vọng cha sẽ thay đổi, bỏ đi lời lẽ lớn tiếng, nặng nhẹ vợ con mình. Đưa luôn má kia cho cha mình là cố gắng cho cha mình cơ hội mới để ông thay đổi trong khi nói rõ mọi sai lầm của cha với thái độ khiêm nhường, trong tình yêu thương.
Sau đây là lời đối thoại của người con đưa luôn má kia cho cha mình: Con muốn cha hiểu rõ điều con đã giải thích nhiều lần: cha không thể tiếp tục làm tổn thương danh dự mẹ hay mắng nhiếc con trong điện thoại hay trước mặt mọi người như các lần trước. Con muốn cha hiểu rõ rằng mẹ và con không thể tiếp tục chấp nhận thái độ này của cha. Con sẽ cúp điện thoại ngay lập tức nếu cha tiếp tục lớn tiếng, nặng lời mắng nhiếc. Tuy nhiên con muốn cha hiểu rõ rằng mẹ và con luôn muốn được hồi phục quan hệ với cha. Mẹ sẵn sàng cho cha một cơ hội nữa để thay đổi. Mẹ và con vẫn thương yêu cha và cầu nguyện cho cha. Khi nào cha thay đổi, mẹ và con luôn sẵn sàng nối lại quan hệ. Con sẽ gọi lại trong vài ngày tới sau khi cha có thời gian suy nghĩ và bình tâm lại. Con thật lòng mong cha thay đổi bởi vì con luôn yêu thương cha.
Một ý nghĩ rất phổ thông nhưng hoàn toàn sai lầm là để giữ tình cảm, tốt nhất chúng ta nên làm thinh dù khi biết điều xảy ra là sai quấy, nghịch lý, tội lỗi. Đừng giải thích, đừng phân minh, đừng chỉ ra điều đúng sai, phải quấy. Thậm chí nhiều người nghĩ đây là thái độ của người can đảm và nhân từ. Tôi thương người bạn tôi, người gia đình tôi nên thà tôi làm thinh, chịu đựng để khỏi mất tình cảm còn hơn. Nếu nói ra sẽ đổ vỡ, sẽ mất đi tình cảm mà tôi đã cố xây dựng trong bao nhiêu năm tháng qua. Tôi không muốn mất quan hệ này nên im lặng, dù khi biết bạn làm sai.
Tình yêu thương không đặt trên nền lẽ thật chỉ là sự giả dối. Nếu biết người mình thương làm sai mà vẫn im lặng thì có nghĩa rằng mình đã đồng lõa với người đó trong sai lầm, tội lỗi. Kinh Thánh dạy: Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc, 15 nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ. (Ê-phê-sô 4:14-15).
Yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, đưa luôn má kia, đưa luôn áo trong không có nghĩa là phủ nhận lẽ thật, đúng sai, phải quấy, hay chấp nhận mọi bất công, sai trái. Làm sao chúng ta có thể nói tôi yêu một người nếu cứ tiếp tục làm ngơ, giả vờ không biết, không nghe, không thấy những sai quấy, tội lỗi của người. Hay yêu thương là tiếp tục để người đó phạm tội? Để người đó tiếp tục làm điều sai trái, độc ác? Nếu vậy cần gì người tin Chúa phải ăn năn tội, xin Chúa tha thứ? Chính vì Chúa yêu thương, nên sửa phạt con dân Ngài.
Tục ngữ Việt Nam dạy thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi. Yêu người bạn, người thân hay kẻ thù trước hết phải giải thích, cắt nghĩa, chỉ ra những điều sai quấy họ phạm: đây là làm điều công bình. Nhưng không giải thích, cắt nghĩa, chỉ ra trong sự cay đắng, thù hận hay với ý để ăn miếng trả miếng, để trả thù nhưng với lòng khiêm nhường, nhân từ, với ý muốn hồi phục, muốn đưa má để người hôn chứ không phải để người tiếp tục hành hung: đây là ưa sự nhân từ và bước đi trong sự khiêm nhường với Chúa.
Đưa luôn má kia, để lấy luôn áo trong là nói tôi sẵn lòng tha thứ, tôi vẫn muốn tiếp tục quan hệ, tôi muốn tạo cơ hội mới để chúng ta có thể nối lại tình thân. Không phải để người đó tiếp tục vả má, tiếp tục hành hung hay bạo lực, nhưng để tình cảm được phục hồi dựa trên nền tảng của lẽ thật, của sự công bình.
Tuy nhiên đưa luôn má kia không có nghĩa là hoàn toàn tin tưởng người đó ngay sau khi họ tiếp tục phạm tội. Thậm chí có trường hợp tốt nhất là cách ly với người vả má mình một thời gian. Trong thời gian đó, chúng ta vẫn thường xuyên cho họ biết: tôi sẵn sàng đưa má bên kia để anh chị hôn. Tôi luôn chờ đợi để nối lại quan hệ khi nào anh chị sẵn sàng. Đây cũng chính là thái độ của Đa-vít đối với vua Sau-lơ: tiếp tục cho cơ hội để hồi phục quan hệ nhưng vẫn giữ một khoảng cách an toàn cho đến khi có sự thay đổi.
ĐỂ YÊU KẺ THÙ MÌNH
Song các ngươi hãy yêu kẻ thù mình; hãy làm ơn, hãy cho mượn, mà đừng ngã lòng. Vậy, phần thưởng của các ngươi sẽ lớn, và các ngươi sẽ làm con của Đấng Rất Cao, vì Ngài lấy nhân từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ. 36 Hãy thương xót như Cha các ngươi hay thương xót. (Lu-ca 6:35)
Làm thế nào chúng ta có thể làm theo lời dạy của Chúa Giê-xu để yêu kẻ thù mình, đưa má kia cho kẻ vả má mình? Khó vô cùng! Không phải mọi người gọi mình là tín đồ hay môn đồ Đấng Christ đều quyết tâm để chọn làm theo lời Chúa dạy. Tha thứ cho người ghét mình, và cho họ cơ hội mới để hồi phục quan hệ sẽ không đến một cách tự nhiên hay dễ dàng. Đây là một chọn lựa, một quyết tâm của người tin Chúa với sự trợ giúp của Đức Thánh Linh. Chúa biết rõ điều này nên khuyên bảo các môn đồ đừng ngã lòng, hãy vững tin rằng phần thưởng của các ngươi sẽ lớn, và quan trọng hơn hết là đặc ân được làm con của Đấng Rất Cao.
Người thật tâm tin nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa đời mình không chỉ được tha thứ mọi tội lỗi vi phạm trong quá khứ, hiện tại và tương lai, nhưng còn được ban cho đặc ân làm con trai, con gái Đức Chúa Trời, là kể đồng kế tự với Đấng Christ (Rô-ma 8:16-17). Ngài là Cha chúng ta, chúng ta là con yêu dấu của Ngài. Sự cứu rỗi thay đổi cả vị trí và chức phận của người tin Chúa: trước là tội nhân mặc áo nhơ nhớp của tội lỗi, nay là người được xưng công bình mặc áo công chính sáng láng của Đấng Christ; trước là nô lệ của ma quỉ và tội lỗi, nay là người tự do trong Chúa, là con cái Đức Chúa Trời.
Hơn thế nữa, Thánh Linh của Đức Chúa Trời đến ngự trong cuộc đời người tin Chúa: Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, 17 tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. (Giăng 14:16-17)
Vì sự thay đổi vị trí, chức phận và sự hiện diện của Đức Thánh Linh trong đời sống nên người tin Chúa mới có thể sống, làm theo lời Chúa Giê-xu dạy. Đặc biệt có thể quyết tâm chọn làm theo lời dạy rất khó về sự tha thứ và cho cơ hội mới cho kẻ thù ghét mình.
Nhiều người biết câu Kinh Thánh quen thuộc về tình yêu thương bao la của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta: Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. (Rô-ma 5:8). Điều lạ lùng nhất trong câu Kinh Thánh này là đang khi chúng ta vẫn còn phạm tội, Chúa Giê-xu yêu thương, chịu chết cho chúng ta. Khi chúng ta vẫn còn tiếp tục phạm tội, Chúa vẫn tiếp tục tha thứ, yêu thương, ban cho cơ hội để hồi phục quan hệ.
Tuy nhiên ít người hơn nhớ đến Rô-ma 5:10: Vì nếu khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà đã được hòa thuận với Ngài bởi sự chết của Con Ngài, thì huống chi nay đã hòa thuận rồi, chúng ta sẽ nhờ sự sống của Con ấy mà được cứu là dường nào! Câu Kinh Thánh này cho biết thêm một điều quan trọng: đang khi chúng ta còn là kẻ thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, Đức Chúa Giê-xu yêu thương, chịu chết cho tội chúng ta.
Hai câu Kinh Thánh trong Rô-ma 5:8,10 nói lên một sự thật diệu kỳ: đang khi chúng ta vẫn còn là kẻ thù nghịch, vẫn còn vô tình hay chủ ý phạm tội cùng Đức Chúa Trời thì Ngài vẫn tiếp tục yêu thương, tiếp tục tha thứ. Chúa tiếp tục yêu kẻ thù nghịch, làm ơn cho kẻ ghét Ngài, tiếp tục đưa luôn má kia, tiếp tục để chúng ta lấy luôn áo trong: tức là tiếp tục ban cho cơ hội này, đến cơ hội khác để chúng ta ăn năn, nhận tội và được hồi phục lại trong quan hệ với Ngài.
Chỉ khi nào chúng ta hiểu rõ và kinh nghiệm được tình yêu thương, sự tha thứ này từ trong tận cùng đáy lòng, chúng ta mới có thể yêu thương kẻ thù nghịch mình, đưa má kia cho họ. Nếu không tin điều này, không tin rằng tôi là người đang tiếp tục phạm tội cùng Đức Chúa Trời, tôi đã từng là kẻ thù nghịch cùng Đức Chúa Trời nhưng Chúa vẫn tiếp tục yêu thương, tha thứ, ban cho cơ hội để ăn năn thay đổi thì không bao giờ có thể thực hiện lời Đức Chúa Giê-xu dạy về sự yêu thương kẻ thù mình.
Mức độ chúng ta tiêu dùng hay cho đi tương xứng với mức độ chúng ta nhận vào, đang có. Nếu chỉ có vài ba đồng trong túi, tôi không thể đổ đầy một bình xăng! Nhưng một tỉ phú như Jeff Bezos hay Elon Musk dù có tiêu xài hay cho đi vài ba triệu vẫn chỉ là một phần rất nhỏ, không đáng kể. Một người không thể tha thứ nếu chưa bao giờ đón nhận và kinh nghiệm được sự tha thứ.
Chỉ khi nào chúng ta đã đón nhận được sự giàu có của sự tha thứ và lòng nhân từ Đấng Christ, nếm biết được vị ngọt ngào của sự kiên nhẫn hồi phục của Đức Thánh Linh, kinh nghiệm được món quà vô giá được làm con của Đấng Rất Cao, thì chúng ta mới có thể quyết tâm thực hiện lời dạy vô cùng quí báu nhưng khó khăn này của Đức Chúa Giê-xu Christ.
