Đón Nhận Ân Điển
Trong bài giảng lần rồi Đến Với Sự Sáng, tôi có giải thích không ai có thể đước trước một ĐCT hoàn toàn thánh khiết, toàn thiện, toàn năng, đầy vinh hiển. Không ai có thể đến trực tiếp với Chúa. Lý do là bởi vì một Đấng thánh khiết, toàn thiện không thể chấp nhận con người tội lỗi, xấu xa. Lý do là bởi vì trước ánh sáng vinh hiển đó, mọi tội ác của con người sẽ bị phơi bày, những sâu kín nhất trong ý nghĩ, tư tưởng sẽ lộ rõ, không còn có thể che dấu, tấm lòng ích kỷ, dối trá, nhỏ nhen sẽ bị lột trần. A-đam & E-va sau khi đã phạm tội, biết mình lõa lồ, nên lấy lá cây mà che thân: một cách thức tạm bợ có thể lừa con người nhưng làm sao có thể lừa ĐCT.
Một câu chuyện kể về một thanh niên tên Janez Rus theo Đức quốc xã trong thời đệ nhị thế chiến và làm nhiều điều độc ác. Sau chiến tranh sợ bị bắt nên hắn lẫn trốn trong nông trại của chị suốt 32 năm trời. Đến nỗi không dám dự lễ tang của chính mẹ hắn. Khi nghe tiếng cười nói vui vẻ bên ngoài, hắn khóc vì tủi nhục, hối hận. Người ta khám phá ra bí mật này khi người chị mua một số bánh mì lớn. Khi bị bắt, người thanh niên xưa đã trở nên một người đàn ông tuổi gần 60, nói: Nếu tôi không bị bắt, tôi đã tiếp tục trốn trong bóng tối. Dù bị bắt, nhưng tôi mừng vì điều này xảy ra. Sau này người ta biết rằng trong suốt 32 năm dài đó, không một lần, ông rời khỏi nhà, mà chỉ có thể nhìn xuống làng gần bên trong thung lũng từ cánh cửa sổ nhỏ. Đây cũng thật là hình ảnh của con người phạm tội cố chạy trốn ĐCT nhưng cuối cùng cũng không thể thoát được.
Vì không ai có thể đến trực tiếp và đứng trước ĐCT thánh khiết, toàn thiện, đầy vinh hiển nên con người mới cần đến một Đấng Trung Bảo là ĐCJC. Vì chỉ có một Đức Chúa Trời và một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và nhân loại, là Chúa Cứu Thế Giê-su, cũng là người. 6 Ngài đã hiến chính mạng sống mình làm giá cứu chuộc mọi người (1 Tim 2:5-6 – BDM). Chú ý lời PL viết trong câu 5: Vì chỉ có một Đức Chúa Trời và một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và nhân loại, là Chúa Cứu Thế Giê-su, cũng là người.
Giăng dùng mấy danh xưng khác nhau về ĐCJC, Đấng Trung Bảo: Ngôi Lời đã trở nên xác thịt và ngự [đóng trại] giữa chúng ta. Chúng tôi đã chiêm ngưỡng vinh quang Ngài, thật là vinh quang của Con Một đến từ Ðức Chúa Cha, tràn đầy ân sủng và chân lý. (1:14 – BD2011). Ngôi lời, Con Một đến từ ĐCCha, Đấng tràn đầy ân điển (ân sủng) và lẽ thật (chân lý)
Nói rõ hơn là chính Đấng Trung Bảo, Ngôi Lời này đã đến thế gian, giáng sinh làm người để chịu chết cho tội lỗi của cả thế gian. Con Một ĐCT thánh khiết, toàn thiện, đầy vinh hiển, Đấng sáng tạo muôn vật và con người đã hạ mình thật thấp sinh ra trong chuồng chiên máng cỏ, làm con của một thiếu nữ và một người thợ mộc nghèo khó, tầm thường, phải làm người tị nạn khi còn là một trẻ thơ, rồi lớn lên trong một làng xóm quê mùa, Nazareth có gì tốt mà ra từ cái làng này! Trong 3 năm Ngôi Lời giảng dạy cho dân chúng và huấn luyện các môn đồ về nước Trời. Rồi Ngài chịu chết trên thập giá cho tội lỗi con người.
Đây là hình ảnh rõ ràng và cụ thể nhất của ân điển ĐCT dành cho tôi và qv. Nếu không bởi ân điển thì không ai đáng để được tha thứ, để được cứu tội. Ân điển là sự ban cho của ĐCT cho loài người không xứng đáng nhận lãnh, như sự cứu rỗi, như đời sống qv có hôm nay. Đây là lý do Giăng gọi ĐCJC là Đấng tràn đầy ân điển và lẽ thật.
Sự thật không ân điển, lòng nhân từ rất khó mà tin. Thậm chí sự thật không ân điển có thể trở nên tàn nhẫn, độc ác. Nhưng lòng thành, nhân từ không có sự thật thì thật vô nghĩa; có thể trở nên nguy hiểm vì sẽ đưa dẫn chúng ta đi con đường sai lầm như những chứng nhân Jehovah đối xử hết sức tử tế, ân cần nhưng dạy những điều tà giáo. Ân điển, ân hậu bắt cầu quan hệ vững chắc đến nỗi có thể chịu được sức nặng của sự thật. Bởi vì thuốc đắng giả tật, nên mỗi lần uống than thuốc đắng, cần trái táo ngọt. Vì sự thật mất lòng, nên phải nói trong tình yêu thương, với lòng nhân từ.
Giữ được sự quân bình được ân điển và lẽ thật rất khó. Có người quá chú tâm vào sự thật bất chấp cả tình cảm. Có người chỉ biết có tình cảm mà không màng đến sự thật. Nhưng trong ĐCJC ân điển và lẽ thật hiện diện cách trọn vẹn nhất, quân bình nhất, toàn mỹ nhất. Chúa không chỉ có lòng nhân từ, yêu thương mà không có sự thật; hay chỉ có sự thật mà thiếu sự nhân từ. Trong ĐCJC cả hai đức tính quan trọng và cần thiết này hiện diện và hòa hiệp với nhau.
Qv có thể hỏi: ân điển và lẽ thật, điều nào quan trọng hơn, cần thiết hơn? Câu trả lời: cả hai đều quan trọng, đều cần thiết, cả hai đều phải hiện diện trong đời sống tín đồ trưởng thành trong Chúa. Họ hiểu biết lẽ thật nhưng bày tỏ với lòng yêu thương, với sự kiên nhẩn, thậm chí nhịn nhục. Người thiếu trưởng thành nghĩ rằng hiểu rõ KT không quan trọng bằng tình cảm: chỉ cần thông công vui vẻ, tay bắt mặt mừng là đủ rồi; hay dùng lẽ thật như một cây gậy giáng lên người nghe, và nếu không nghe thì càng đánh mạnh.
Người trưởng thành học đòi theo Chúa và dưới sự hướng dẫn của ĐTL sáng suốt nhận biết đối tượng, hoàn cảnh, thời điểm để dung hòa, quân bình giữa ân điển và lẽ thật. Gương của chúng ta là ĐCJC: Chúa không đối với mọi người giống như nhau nhưng tùy từng người (dù là những người bệnh, phụ nữ, Pha-ri-si, thầy thông giáo, môn đồ…) Chúa biết nhu cầu của người đối diện và bày tỏ ân điển và lẽ thật cách thích hợp.
THỂ HIỆN CỦA ÂN ĐIỂN QUA GIA PHỔ ĐCJC
Một trong những bày tỏ cụ thể nhất về ân điển của Đấng tràn đầy ân điển và lẽ thật là gia phả ĐCJC theo Ma-thi-ơ 1:1-6, 12-17. Qv có thể vô cùng ngạc nhiên khi tôi nói ân điển và lẽ thật Chúa bày tỏ trong đoạn KT khô khan, và dường như không cần thiết này.
Gia phả hay gia phổ là bản ghi chép lại danh sách của ông bà tổ tiên một người, một dòng họ theo thứ tự thời gian. Thời đó gia phả có thể được xem như lý lịch cá nhân của một người vì khi đọc có thể biết được nguồn gốc, dòng họ của cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Gia phả cho biết về dòng dõi người đó. Cho biết gốc gác, thân thế của ông bà, cha mẹ họ và cho biết về họ. Vì vậy không ai muốn có một gia phả có vết bẩn, vết dơ, vết xấu cả.
Một người có máu hoàng tộc thì cha mẹ, ông bà, tổ tiên của người đó phải là những người trong hoàng tộc, vua chúa. Như hoàng tử Williams của Anh quốc hay công chúa của xứ Monaco… Nếu trong vòng ông bà, tổ tiên tôi có người làm thủ tướng, bộ trưởng, thống đốc thì chắc tôi sẽ nêu tên những người đó với chữ hoa và đậm để làm nổi bật chi tiết đó. Tôi hãnh diện là con cháu trong dòng dõi đó. Trái lại nếu là con cháu của trùm băng đảng thì thật khổ khi phải làm gia phả mình! Xấu hổ, nhục nhả biết bao! Thử nghĩ phải viết “ông nội tôi là trùm băng đảng Khánh Hội bị bắn chết bởi trùm băng đảng Tôn Đảng!” T
Khi làm lý lịch để xin việc làm ai cũng muốn viết về những chi tiết nổi bật nhất như tốt nghiệp trường này trường nọ. Nhưng nếu khi học trường A bị đuổi phải học trường B thì không ai muốn ghi trong lý lịch về việc bị đuổi hay về trường A cả. Trái lại chúng ta chỉ muốn hit key delete để xóa chi tiết đó và cũng không muốn cho ai biết về điều đó cả.
Một nhân vật trong câu chuyện giáng sinh là vua Hê-rốt, người giết các con trẻ sau khi biết các học sĩ Đông Phương không cho biết con trẻ mới sinh tại đâu. Sử gia không hề biết rõ về gia phả của hắn vì hắn thường sửa đổi chi tiết. Mục đích là để dấu đi những điều không tốt trong gia đình, dòng họ và thêm thắt vào những chi tiết làm nổi bật. Điều này cũng không khác mấy với người làm lý lịch xin việc làm hôm nay. Nhưng trong gia phả ĐCJC có ba điều thật lạ lùng, kinh ngạc, không thể ngờ được.
Thứ nhất, gia phả có tên những người phụ nữ. Ngày xưa, gia phả thường không có tên phụ nữ. Tại sao? Rất đơn giản: vì phụ nữ không cùng vai vế với nam giới, thấp hơn nam giới. Khi Trung quốc có chính sách 1 con/1 gia đình, thì hầu hết cha mẹ đều muốn có con trai, dù có khi phải phá thai hay bỏ rơi con gái. Ngay cả một số nước hồi giáo hôm nay vẫn xem phụ nữ chỉ có giá trị 1/2 nam giới!
Thứ hai, gia phả Chúa có tên dân ngoại, gồm giống dân bị xem thường, khinh dễ như người Mô-áp, Ca-na-in. Như Tha-ma (người Ca-na-in), Ra-hab (Ca-na-in), Ru-tơ (Mô-áp). Những dân này cấm không được vào vòng sân thứ nhất của đền thờ, nhưng lại có tên trong gia phả Đấng Mê-si?
Người hoạn, hoặc vì ngoại thận bị dập, hay là bị cắt, sẽ không được phép vào hội của Đức Giê-hô-va. 2 Con ngoại tình không được phép vào hội của Đức Giê-hô-va, dầu đến đời thứ mười cũng chẳng vào được. 3 Dân Am-môn và dân Mô-áp sẽ không được phép vào hội Đức Giê-hô-va, dầu đến đời thứ mười cũng chẳng hề bao giờ vào được (PTLLK 23:1-3)
Thứ ba, gia phả Chúa có tên những người thiếu đạo đức, phẩm hạnh, xấu nết. Ra-háp là người kỵ nữ bán thân. Có thể nào Ma-thi-ơ không biết hay hiểu lầm? Tha-ma có con với cha chồng! Chú ý Ma-thi-ơ nêu tên hai người con của Giu-đa và Tha-ma là Pha-rê và Xa-ra. Lý do? Chủ ý nhắc lại quan hệ loạn luân này! Bát-sê-ba tà dâm cùng Đa-vít và sinh ra Sô-lô-môn. Tổ tiên ĐCJC gồm những người sinh ra bởi những quan hệ tội lỗi, không đạo đức. Qv có muốn trong gia phổ có bà cố, bà sơ là kỹ nữ hay ăn ở với cha chồng, hay phạm tội tà dâm rồi sinh ra ông ngoại không? Dĩ nhiên không, trăm ngàn lần không.
Cũng chú ý ĐCJC thuộc dòng dõi Gia-cốp, là người nắm gót chân anh mình, người thủ đoạn gạt anh và cha để lấy quyền trưởng nam. Và dòng dõi Giu-đa ăn ở cùng con dâu! Thay vì thuộc dòng dõi Giô-sép là người chân chính, đạo đức, thủ tướng xứ Ai-cập, người cứu cả dòng họ, gia đình, cha anh.
Chúa cũng không thuộc dòng hoàng gia như giữa Đa-vít và con gái vua Sau-lơ là Mi-canh nhưng lại là con cháu từ một vụ tà dâm giữa Đa-vít và Bát-sê-ba.
Hãy dừng lại và suy nghĩ. Quả thật đây là những điều hết sức ngạc nhiên, kinh ngạc. No way. Chắc Ma-thi-ơ ghi lộn rồi, hay ma quỉ xúi Ma-thi-ơ ghi lại những nhân vật xấu xa này trong gia phả Chúa? Mỗi nhân vật đã nêu lên theo luật pháp Mô-se đều bị đuổi ra khỏi sự hiện diện của ĐCT, bị xử chết. Loạn luân. Tà dâm. Bán thân. Hãy đọc PTLLK 22, 23, Lê-vi-ký 18 sẽ biết hậu quả của những tội này.
Theo luật pháp Mô-se không một người nào trong số này được vào sân đền thờ, nói chi đến bên trong đền thờ, nói chi đến được gặp ĐCT thánh khiết. Nhưng qua ĐCJC những người này giờ được vào trong nhà Chúa.
Chú ý gia phả khi nói về Sô-lô-môn, Đa-vít bởi vợ của U-ri sanh Sa-lô-môn (1:6). Vợ của U-ri, chớ không phải vợ của Đa-vít. Hai điều: 1) Dù là vua có thể chiếm vợ người, nhưng dưới mắt ĐCT Bát-sê-ba vẫn là vợ của U-ri [kể chuyện U-ri], 2) Sa-lô-môn, vị vua khôn ngoan nhất, giàu có nhất là con của một quan hệ tà dâm (như khi viết về Giu-đa bởi Tha-ma sanh Pha-rê và Xa-ra).
Đa-vít là vị vua nổi bật nhất trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Là người có công thống nhất đất nước. Anh hùng dân tộc từ lúc còn trẻ tuổi. Người được ĐCT gọi là người làm vừa lòng Chúa. Nếu trong dòng dõi gia phả ĐCJC hy vọng lớn nhất để chuộc lại những vết nhơ trước đó từ Tha-ma, Ra-háp chính là Đa-vít. Nhưng ngay cả Đa-vít cũng phạm tội tày trời, và Sa-lô-môn là kết quả của tội tà dâm.
KT qua gia phả ghi lại bởi Ma-thi-ơ cho chúng ta biết một điều vô cùng quan trọng: Trong gia đình của Chúa Jesus không một ai xứng đáng về công đức, nhưng chỉ bởi ân điển. Hãy xem lại gia phả: người gạt gẫm cha anh, người ăn ở cùng cha chồng, phụ nữ, kỵ nữ, người Mô-áp, người Ca-na-in, vua, người phạm tội tà dâm, người có chồng bị giết. Tất cả đều ngồi trong bàn của gia đình ĐCJC. Lý do? Chỉ bởi ân điển. Duy ân điển.
Về tiêu chuẩn, không ai có thể đủ để được nhận vào gia đình Chúa. Nhưng qua ân điển những tội nhân mà xã hội khinh bỉ nhất, xa lánh nhất, tồi tệ nhất sẽ được vào nước Trời. Đây chính là ý nghĩa sâu sắc và yên ủi của mùa Giáng Sinh: qua ĐCJC, mọi người, dù bất cứ giống dân nào, địa vị nào, đạo đức quá khứ thế nào, giòng dõi thế nào vẫn được nhận là con trai, con gái của ĐCT. Qua ĐCJC có nghĩa là gì? Khi Chúa đổ huyết trên thập giá cho tội lỗi nhân loại, huyết đó như một cái áo công chính mà ai được mặc vào sẽ được xưng là công bình. ĐCT nhìn thấy tấm áo công chính của Con Độc Sinh và không còn nhìn thấy tội lỗi chúng ta. Chính vì lý do này, PL viết về sự cứu rỗi là ân điển, một món quà vô giá từ ĐCT qv không xứng đáng được nhận: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình;
ĐỂ ĐÓN NHẬN ÂN ĐIỂN
Khi nghe nói sự cứu rỗi đến từ ân điển bởi đức tin, là món quà tặng của ĐCT cho con người tội lỗi, nhiều người cười thầm, nghĩ rằng đạo gì mà dễ như vậy. Dễ cho những người khiêm nhường, ý thức mình là người có tội, không thể tự cứu mình. Nhưng rất khó cho những người kiêu ngạo nghĩ rằng tự công sức, đạo đức của họ có thể cứu họ. Cản trở chính để một người đón nhận ân điển là sự kiêu ngạo.
Trước hết tôi muốn phân biệt rõ hai từ: hãnh diện và kiêu ngạo. Theo tự điển VN hãnh diện là cảm thấy hài lòng về điều mình được hay làm và sung sướng để lộ bên ngoài. Hãnh diện là một cảm xúc thật và thông thường khi thực hiện được điều gì tốt đẹp. Như khi một người bà nhìn cháu mình hát cho Chúa thấy lòng thật vui và hãnh diện. Như khi tôi hãnh diện về HT Chúa vì niềm vui khi bước vào nhà Chúa và sự hiệp một trong Chúa trong vòng tín đồ. Một tác giả viết: Sự hãnh diện là niềm tin vào ý tưởng ĐCT đã có khi Ngài tạo ra chúng ta.”
Hãnh diện sẽ biến thành kiêu ngạo khi bắt đầu so sánh kết quả của mình với người và chỉ hài lòng (vui) khi hơn người. Định nghĩa của kiêu hãnh là tỏ ra tự hào với người khác về giá trị của mình, về những cái mình có so với người.
Một người có thể hãnh diện về chiếc xe cũ nhưng chạy rất tốt vì mình đã bỏ công sức bảo trì thường xuyên; nhưng một người kiêu hãnh muốn một chiếc xe mắt tiền hơn, có nhãn hiệu hơn để được hơn người. Một người có thể hãnh diện vì công việc khó nhọc mình làm hết lòng, hết sức như lời Chúa dạy; nhưng một người kiêu ngạo muốn công việc mình làm phải nổi bật hơn người khác, phải được chú ý, tôn trọng. Một người hãnh diện về điều mình có và hài lòng với những điều đó; nhưng một người kiêu hãnh chỉ vui khi những gì họ có hơn người. Satan không chỉ hãnh diện về những gì ĐCT ban cho nó; nhưng trở nên kiêu ngạo khi muốn như ĐCT.
Sự kiêu ngạo là một tội rất lớn trước Chúa. Dưới đây là một vài câu KT về tội kiêu ngạo.
Tuy nhiên Ngài lại ban ân sủng nhiều hơn, vì thế có lời chép rằng, “Ðức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, Nhưng ban ân sủng cho người khiêm nhường. (Gia-cơ 4:6 – BD2011); Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là ghét điều ác; Ta ghét sự kiêu ngạo, xấc xược, con đường ác, và miệng gian tà. (CN 8:13); Khi kiêu ngạo đến, sỉ nhục cũng đến nữa; Nhưng sự khôn ngoan vẫn ở với người khiêm nhượng. (CN 11:2); Mọi tấm lòng tự cao đều ghê tởm đối với CHÚA; Chắc chắn chúng sẽ không tránh khỏi hình phạt. (CN 16:5 - BDM); Hãy để người khác khen con, chứ không phải miệng con; Hãy để người ngoài khen con chứ không phải môi con. (CN 27:3);
Ngươi khá vào nơi vầng đá, ẩn mình trong bụi đất, đặng tránh khỏi sự kinh khiếp Đức Giê-hô-va và sự chói sáng của uy nghiêm Ngài. 11 Con mắt ngó cao của loài người sẽ bị thấp xuống, sự kiêu ngạo của người ta sẽ bị hạ đi; trong ngày đó chỉ Đức Giê-hô-va là tôn trọng. 12 Vì sẽ có một ngày của Đức Giê-hô-va vạn quân đến trên mọi vật kiêu căng, ngạo mạn, tự cao; nó sẽ bị hạ xuống (Ê-sai 2:10-12)
Con người từ chối Đấng đầy ơn và lẽ thật, từ chối ân điển khi họ kiêu ngạo, tự hào rằng tự tôi có thể tạo nên mọi điều tôi đang có trong đời nên không cần gì đến Chúa. Họ tự bảo rằng tôi là chủ của đời tôi; tại sao tôi phải để ĐCT là chủ, là chúa của cuộc đời tôi. Con người từ chối Chúa vì như những dân đã họp lại với nhau để cất cái tháp cao đến tận trời để làm cho rạn danh mình thay vì rạn danh ĐCT. Vì tự hào rằng họ có những cái áo do chính họ tạo ra, không cần đến cái áo do chính ĐCT ban cho như đã ban cho A-đam & E-va: những cái áo của sự thành công, danh vọng, quyền chức, tài của, sắc đẹp, học vấn…
Dĩ nhiên có nhiều dấu hiệu để biết sự kiêu ngạo, tôi chỉ xin nêu ra bốn điều:
Tìm lỗi của người. Sự kiêu ngạo làm cho người ta mù trước lỗi của mình, nhưng cũng mù trước điều tốt của người. Khó cho người kiêu ngạo thật sự khen ngợi ai, hay nhận lấy sự khen ngợi từ những người họ nghĩ hiểu biết ít hơn mình. Khi nghe lời Chúa dạy không nghĩ rằng Chúa dạy tôi, nhưng anh này, chị nọ cần nghe những điều này để biết sai, để thay đổi. John Edwards viết: Người kiêu ngạo về tâm linh bày tỏ qua việc tìm lỗi của anh chị em trong Chúa… Người tin Chúa khiêm nhường là người có nhiều việc nhà phải làm vì thấy quá nhiều tội lỗi của chính mình nên không có thời gian để tìm lỗi của người.
Thái độ khó khăn, khắc nghiệt. Người kiêu ngạo phê bình, khinh khi, lên án, chỉ trích tội người cách khắc nghiệt. Sự kiêu ngạo bày tỏ qua sự khi dễ, coi thường nỗ lực, cố gắng của người, có vậy mà làm không được, mà cũng không hiểu. Không muốn hay tránh làm việc chung với những người xem là kém hơn mình. Nếu ĐCJC phán xét tôi và qv cách khắc khe, nghiệt ngã như chúng ta đối với anh chị mình thì ai trong chúng ta có thể vào thiên đàng?
Mau tự bào chửa, không thấy lỗi mình. Khi người khác làm lỗi thì họ thật là tệ, hay dở, hay ấu trỉ. Nhưng khi tôi làm lỗi thì bởi vì người khác tệ, dở hay ấu trỉ.
Thèm khát sự chú ý, tôn trọng, ca ngợi. Tại sao không ai để ý đến việc tôi làm mà chỉ để ý đến việc người này, người nọ; bộ tôi kém hơn họ hay sao? Họ ăn không ngon, ngủ không yên vì không ai để ý đến tôi, không ai biết quí công ơn của tôi. Tôi thú thật nhiều lúc tôi buồn tức vì chia sẻ điều này điều nọ nhưng không ai để ý nghe, nhưng sau đó họ lại đến nói với tôi: ồ tôi mới học được điều mới này khi nghe bài giảng của mục sư trên mạng!
Làm sao để tránh được những điều này? Để những lời dạy này của Phao-lô nhắc nhở thường xuyên: Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. (Phi-líp 2:5-8)
Người kiêm nhường là người đón nhận cái áo công chính từ ĐCJC. Cũng chính vì lý do này trong gia đình Chúa, không ai khoe mình. Khi vào nhà Chúa, hãy để mọi bằng cấp, mọi tài của, mọi chức vị bên ngoài và đến với Chúa, với anh chị em trong Chúa với con người thật, tội lỗi, xấu xa, nhưng được che phủ bởi áo công chính của ĐCJC. Nếu chúng ta đã nhận ân điển thì cũng phải học đối xử với người cách nhân hậu. Ân điển dạy chúng ta hai điều:
1) Qv và tôi và tất cả mọi người đều không xứng đáng vào gia đình Chúa. Tội của chúng ta sâu hơn, nặng hơn, đậm hơn, tồi tệ hơn chúng ta nghĩ. Gia đình Chúa gồm tội nhân, ai từ chối sự thật này từ chối gia phả Jesus. Nhưng Tin Lành là ĐCT qua ĐCJC yêu thương chúng ta hơn chúng ta hy vọng. Chúa cứu qv và tôi qua ân điển bởi đức tin, như ĐCT đã nhận Tha-ma, Ra-háp, Ru-tơ, Đa-vít, vợ U-ri vào gia đình dù họ là những người hoàn toàn không xứng đáng. ĐCJC giáng sinh đã phá bỏ mọi ranh giới, hàng rào, bờ tường của chủng tộc, màu da, giới tính, học thức, địa vị, quá khứ, gia phả.
2) ĐCJC là đường đi, lẽ thật, sự sống, nhưng cũng là Đấng đầy ân điển. Chúa là Đấng sẽ phán xét tội nhân trong ngày cuối nhưng cũng là Đấng đã chết cho người có tội. Chúa buộc tội nhưng cũng tha tội cho những ai thật sự ăn năn. Vậy là người theo Chúa chúng ta cần học biết và thực hành cả hai: lẽ thật và ân điển.
Đây là Tin Lành, tin vui mừng khi Đấng đầy ơn và lẽ thật giáng sinh. Phụ nữ ngồi cùng bàn trong gia đình Chúa. Dân ngoại ngồi cùng bàn trong gia đình Chúa với dân tuyển. Vua ngồi cùng với kỹ nữ. Người mắc tội loạn luân ngồi cùng với người mắc tội tà dâm. Người lừa dối cha anh, cướp quyền trưởng nam ngồi cùng bàn với người làm vui lòng ĐCT. Mọi người, bất kể mọi người đều có thể được dự tiệc chiên Con và nhận được sự tha thứ và ân điển từ Chúa.
