Đói Khát Công Bình – Ma-thi-ơ 5:6
Chúng ta đọc trong BGTN sáng nay lời ĐCJC về phước lành thứ tư [] “Phước cho những kẻ đói khát công bình, vì sẽ được no đủ!” (Ma-thi-ơ 5:6). Một lần nữa phước lành này hoàn toàn trái ngược, thậm chí nghịch lý với ý nghĩ, mong mỏi, ước vọng của con người chúng ta.
ĐCJC bắt đầu với phước lành cho những kẻ nghèo nàn cùng cực về tâm linh. Phước thứ hai dành cho người than khóc, ăn năn, hối hận về tội lỗi của mình và của người chung quanh. Phước thứ ba cho những người nhu mì, nhân hậu vì họ sẽ được hưởng đất của ĐCT. Phước thứ tư đến với những người đói khát sự công chính của ĐCT. Điều kiện của phước này “đói khát công bình” (công chính, lúc nào cũng cố gắng làm điều phải theo lời Chúa dạy – BDM) thật vô cùng khó khăn.
Khi ĐCJC dạy những lời này thì đa số dân sự sống trong xứ Giu-đa nghèo đói thường xuyên. Có thực phẩm để ăn, nước sạch để uống là điều họ phải tìm kiếm mỗi ngày, phải làm việc cực khổ lắm mới có được. Thức ăn hạn chế, nước sạch phải bỏ công đến giếng, chờ để lấy chỉ đủ dùng trong ngày. Nạn đói vẫn xảy ra thường xuyên trong thời đó. CVCSĐ nói đến hai nạn đói khắp xứ Ai-cập và Ca-na-an (7:11), nhiều nạn đói xảy ra trong thời cai trị của đại đế Claudius nhưng cơn đói lớn vì không đủ bắp (corn) vào ~46-47 AD trong xứ Giu-đê được ghi lại trong CV 11:27-28.
Hầu hết những người đến nghe ĐCJC là những người nghèo khó. Họ là những người chăn cừu, đánh cá, nông dân từ vùng Ga-li-lê và Giu-đa. Chắc rằng hầu hết đều có kinh nghiệm về sự đói khát vì không đủ thức ăn, không tìm được nước sạch để uống. Chính vì vậy khi nghe về sự đói khát, họ có thể liên hệ ngay lập tức; có thể cũng nhớ lại thời gian khó khăn khi bị đói khát trong đời.
Nạn Đói Thường Xảy Ra Hơn Chúng Ta Nghĩ
Khi chuẩn bị bài giảng này tôi có nghiên cứu về các nạn đói trong lịch sử. Điều tôi không ngờ được là từ khi loài người bắt đầu ghi lại lịch sử thì đã có nạn đói. Từ năm 108 BC cho đến 1911 AD đã có ít nhất 1,828 nạn đói xảy ra tại Trung Quốc hay gần như mỗi năm một lần tại vùng này hay vùng nọ. Theo Wikipedia thì từ 400 AD đến hôm nay gần như cứ vài năm là có nạn đói xảy ra trên một quốc gia, một vùng đất nào đó trên thế giới.
Đầu thế kỷ thứ 17 từ 1601-1603 chỉ trong vòng 3 năm, một nạn đói trầm trọng nhất trong lịch sử Nga Sô đã giết khoảng 2 triệu người, gồm ½ dân số xứ Estonian. Cũng trong thế kỷ đó 2 triệu người Ấn Độ, 2 triệu người Pháp chết vì đói. Đến cuối thế kỷ 17 nạn đói lớn tại xứ Phần Lan (Finland) làm chết gần 1/3 dân số. Tại Nhật Bản có 154 nạn đói, trong đó 21 nạn đói trầm trọng.
Thế kỷ 18: 11 triệu người chết vì đói tại Ấn Độ; 1/5 dân số tại xứ Tunisia (xứ bắt đầu phong tròng Arab Spring năm nay)
Thế kỷ 19: 4 nạn đói tại Trung Quốc giết 45 triệu; nạn đói lớn Ái Nhĩ Lan (Great Irish Famine) giết hơn 1 triệu người và khiến cho từ 1.5-2 triệu người phải bỏ xứ di cư đến xứ khác.
Thế kỷ 20: 1921 tại Nga Sô khiến 5 triệu người chết; tại Trung Quốc: 1936 5 triệu, 1942-43 1 triệu, 1959-61 15-43 triệu; từ 450 ngàn đến 2 triệu tại Việt Nam (Nạn Đói Ất Dậu) từ tháng 09/1944 đến tháng 05/1945; 1996 từ 200 ngàn đến 3.5 triệu tại Bắc Hàn; 1998-2004 3.8 triệu tại xứ Congo, Phi Châu.
Tuần lễ này Cao Ủy Liên Hiệp Quốc kêu gọi các quốc gia góp 1.6 tỉ đồng để giúp 3.7 triệu người Somalia đang đói, trong số đó có độ 300 ngàn trẻ em thiếu dinh dưỡng trầm trọng.
KT cũng đề cập đến nhiều nạn đói: Áp-ra-ham phải xuống Ai-cập (STK 12:10, 26:1), các nước trong thời Giô-sép (STK 41:56), Ru-tơ, 3 năm trong thời vua Đa-vít (2 Sa-mu-ên 21:1), thời tiên tri Ê-li trong xứ Sa-ma-ri (1 Các vua 18:2), và ngay trong CVCSĐ trong xứ Ai-cập và Ca-na-an (7:11), trong thời Claudius (11:28).
Chúng Ta Thường Nghĩ Về Nạn Đói Thể Xác
Vì sống trong thế giới vật chất, hữu hình nên chúng ta thường chỉ nghĩ về sự đói khát thể xác, về thức ăn, nước uống để nuôi sống cơ thể này. Nhưng bên cạnh đời sống vật chất, chúng ta còn có đời sống tâm linh. Và lời dạy này của ĐCJC nhằm về nhu cầu cần thiết cho đời sống tâm linh. Cũng như đời sống thể xác này cần thức ăn, thức uống để tồn tại, đời sống tâm linh cũng cần thức ăn, thức uống thục linh để tồn tại. Và thức ăn, nước uống cho đời sống tâm linh của người thật sự theo Chúa là lòng khát khao, mong mỏi làm điều công chính, điều phải lẽ theo lời dạy của Ngài trong KT. Thiếu điều này đời sống tâm linh sẽ nghẹt ngòi, èo uột rồi sẽ chết đi như một người chết đói, chết khát.
ĐIỀU THẾ GIAN ĐÓI KHÁT []
Lời ĐCJC trong câu KT này không nói về một cái đói bình thường như khi chúng ta nói “tôi đói bụng” hay “tôi khát nước”. Cơn đói và khát đó có thể làm cho chúng ta khó chịu hay mệt mỏi nhưng không làm giảm đi dinh dưỡng hay giết chết chúng ta. Khi tôi và quý vị nói rằng “tôi đói” hay “tôi khát”, chúng ta vẫn biết rằng sự đói khát này chỉ là tạm thời và rồi chắc chắn sẽ có thức ăn, uống.
Nhưng sự đói khát trong phước lành này là sự đói khát của một người sắp chết đói vì thiếu ăn, sắp chết khát vì thiếu nước. Sự đói khát này có tính cách khẩn cấp và phải được đáp ứng ngay lập tức nếu không người đó sẽ chết. ĐCJC muốn nói với người nghe rằng họ chỉ sẽ được phước từ ĐCT khi chính họ khao khát mãnh liệt sự công chính từ Chúa, khao khát như người sẽ chết nếu không có được.
Một điều quan trọng được học giả William Barkley nêu ra trong câu KT này. Trong văn phạm Hy Lạp theo sau động từ “đói”, “khát” là thuộc cách (genitive case) nghĩa là “của” như “của anh chị”. Thuộc cách này được gọi là “thuộc cách bán phần”, nghĩa là khi họ nói “tôi đói bánh” thì có nghĩa là người đó chỉ muốn một phần ổ bánh, chứ không phải tất cả ổ bánh.
Nhưng trong phước lành thứ tư này thì từ “công chính” được dùng trong thể “trực thái cách” (direct accusative) chứ không dùng theo cách thông thường. Khi dùng trong thể này thì động từ đói và khát có nghĩa là đói khát tất cả, hoàn toàn, không chỉ một phần. Vậy câu KT này có thể được dịch như sau:
“Phước cho người khao khát tất cả sự công chính, công chính hoàn toàn, công chính trọn vẹn của ĐCT như người sắp chết đói thèm thức ăn và sắp chết khát thèm có nước uống vì người ấy sẽ được Chúa làm cho no đủ đến dư dật.”
Lời dạy này cũng nhắc cho chúng ta nhớ về lời Chúa với HT Lao-đi-xê trong KH 3:15-17 “Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay! Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta. Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lỏa lồ.”
Năm Điều Thế Gian Đói Khát
Nếu hỏi quý vị, những người hiện diện tại đây trong lúc này, đói khát điều gì thì câu trả lời sẽ thế nào? Nếu không đủ ăn, đủ mặc thì có lẽ câu trả lời sẽ là đói khát về thức ăn, về đồ mặc. Nhưng theo tôi biết không ai trong vòng quý vị đói khát về đồ ăn thức uống đến độ không có sẽ phải chết cả. Tất cả chúng ta đều đầy đủ thức ăn. Vậy cơn đói khát này là gì?
[] Điều thế gian đói khát được sứ đồ Giăng tóm lại như mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời (1 Giăng 2:16).
Tựu chung những điều này có thể tóm lại gồm năm điều sau đây []: 1) Sắc đẹp, 2) Thông minh, khôn ngoan, 3) Thành công, 4) Giàu có, 5) Quyền thế.
Điều quý vị thèm khát nhất, thèm khát đến độ nằm ngủ mơ đến, thức dậy thì luôn luôn nghĩ đến, đến độ chiếm hữu toàn bộ suy nghĩ, thời gian, công sức hiện đang là gì? Thiết nghĩ không ai dám tự bảo rằng tôi luôn luôn thèm khát được công chính như lời Chúa dạy. Nhưng hễ đã tin nhận Chúa, được nhận ĐTL vào đời sống thì phải có sự thay đổi. Nếu chúng ta lúc nào cũng chỉ có những khao khát về vật chất, nếu đây là điều chiếm hữu mọi thời gian, công sức, nổ lực thì chúng ta nên tự xét lại xem mình có thực là người đã thực sự tin Chúa.
Dù lời dạy của ĐCJC vô cùng khó khăn, như hoàn toàn không thể nào thực hiện, nhưng có phải vì vậy mà lời dạy nào vô ích, không thực tế hay chỉ có tính cách lý thuyết? Một tác giả giải thích thế này: “Đây không phải chỉ là phước lành thách thức, đòi hỏi chúng ta nhiều nhất mà nó cũng là một phước lành đem lại an ủi nhiều nhất. Nó còn một nghĩa phía sau là người được phước không nhất thiết phải đạt được sự thiện, nhưng là người hết lòng khao khát nó. [Bởi] vì nếu phước đó chỉ dành cho những người nào đã đạt đến sự thiện thì sẽ không ai được cả. Nhưng phước lành đến với người dù thất bại, vẫn giữ lòng tha thiết khao khát điều cao quí nhất.”
Điều Người Tin Chúa Nên Nghĩ Đến
Người tin Chúa chắc sẽ có những thay đổi trong lòng. Không phải thay đổi lời nói, hành động tùy theo hoàn cảnh chung quanh để làm cho người yêu thích mình, nhưng thay đổi từ bên trong tâm hồn.
Chú tâm hơn về đời sống tâm linh hơn đời sống vật chất.
Chú tâm hơn đến những tính hạnh theo lời Chúa dạy trong KT
Chú tâm hơn đến những điều cao thượng hơn, có tính vĩnh cữu hơn thay vì những việc nhỏ nhen, không ích lợi gì cho công việc Chúa.
[] Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên, bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy. (2 Cô-rinh-tô 4:171-8)
Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ. Sự cuối cùng của họ là hư mất; họ lấy sự xấu hổ của mình làm vinh hiển, chỉ tư tưởng về các việc thế gian mà thôi. Nhưng chúng ta là công dân trên trời; ấy là từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình là Đức Chúa Jêsus Christ. (Phi-líp 3:18-19)
[] Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều cho chơn thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến. (Phi-líp 4:8)
ĐÓI KHÁT CÔNG CHÍNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Một nhà thơ viết “Chỉ có thuyền mới biết biển mênh mông dường nào; chỉ có biển mới biết thuyền đi đâu về đâu”. Hai câu thơ này nói lên một ý rằng chỉ có chiếc thuyền này thực sự ra biển mới có thể biết rõ được sự mênh mông, sâu thẩm của biển khơi. Nếu hình ảnh của thuyền là những tín đồ đói khát, luôn tìm kiếm Chúa thì chính họ mới có thể hiểu được phần nào sự mênh mông, sâu thẩm của sự công chính của Chúa. Mới thấy được cái nhỏ nhoi, vô nghĩa của sự công chính của loài người trước Chúa.
Tác giả Thi Thiên viết Đức Chúa Trời ôi! linh hồn tôi mơ ước Chúa, Như con nai cái thèm khát khe nước. Linh hồn tôi khát khao Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời hằng sống (TT 42:1-2). Người viết bày tỏ nỗi khao khát như không bao giờ có thể thoả mãn được. Lúc nào cũng có trong lòng. Đây không phải là điều đã đạt được, bởi vì nếu đã có, đã đạt được thì có gì phải mơ ước, phải thèm khát. Chính vì chưa có đủ, không bao giờ có đủ nên tác giả mới mơ ước, mới thèm khát.
Người đói khát công chính của ĐCT là người ý thức rõ mình chưa có sự công chính trọn vẹn đó, không bao giờ có sự công chính hoàn toàn đó. Và chính sự ý thức rõ về khoảng cách rộng lớn đó, về chiều sâu của sự công chính Chúa không bao giờ đạt tới mà chúng ta luôn khao khát điều đó.
Có ai chỉ ăn một lần, uống một lần trong đời sống hay mỗi tuần lễ? Vậy tại sao chúng ta lại nghĩ rằng chúng ta chỉ cần đến với Chúa, tìm cầu sự công chính của Ngài mỗi tuần, mỗi tháng một lần? Tại sao không phải là mỗi giờ, mỗi ngày trong cuộc sống?
PL viết Ấy không phải tôi đã giựt giải rồi, hay là đă đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đương chạy hầu cho giựt được, vì chính tôi đă được Đức Chúa Jêsus Christ giựt lấy rồi. (Phi-líp 3:12) Khi viết những lời này trong thư gởi HT thành Phi-líp thì PL đang ở trong tù tại thành La-mã vì công việc Chúa. Nếu một người như PL, hầu việc Chúa tận trung, khuyên tín đồ nên nghĩ về những việc thanh sạch, cao thượng, đáng quí, đáng trọng, làm vinh hiển Chúa, mà còn tự nhận rằng chưa hoàn tất cuộc chạy, thì có thể nào chúng ta dám nói vì đã đủ sự công chính của ĐCT?
Một tiên tri Cựu Ước tên A-mốt, là một người chăn cừu tầm thường, được ĐCT khải thị và viết ra những lời sau đây gần 800 năm trước khi ĐCJC dạy về phước lành thứ tư này []: Chúa Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày sẽ đến, là khi ta khiến sự đói kém đến trong đất, chẳng phải là đói về bánh, cũng chẳng phải khát về nước, bèn là về nghe lời của Đức Giê-hô-va. (A-mốt 8:11)
Trong thời gian hành đạo ĐCJC hóa bánh và cá cho đoàn dân đông để họ có thức ăn. Nhưng Ngài cũng trả lời Sa-tan khi bị cám dỗ rằng hãy hóa đá thành bánh: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời. (Ma-thi-ơ 4:4).
ĐCJC dạy các môn đồ chớ làm việc cho đồ ăn hay hư nát nhưng cho đồ ăn không bao giờ hư nát và còn đến đời đời trong Giăng 6. Các môn đồ nghĩ về bánh ma-na từ trời mà tổ phụ họ đã ăn khi đi trong đồng vắng. Nhưng ĐCJC giải thích: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, Môi-se chưa hề cho các ngươi bánh từ trên trời đâu; nhưng Cha ta ban cho các ngươi bánh thật, là bánh từ trên trời xuống. Bởi chưng bánh Đức Chúa Trời là bánh từ trên trời giáng xuống, ban sự sống cho thế gian… (Giăng 6:33,25). Và rồi chính ĐCJC cũng tự nhận rằng Ngài chính là bánh [] Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát… Ta là bánh từ trên trời xuống; nếu ai ăn bánh ấy, thì sẽ sống vô cùng.
Sau khi xin nước uống múc từ giếng của người đàn bà Sa-ma-ri, chính ĐCJC đã phán cùng bà: Ví bằng ngươi biết sự ban cho của Đức Chúa Trời, và biết người nói: "Hăy cho ta uống" là ai, thì chắc ngươi sẽ xin người cho uống, và người sẽ cho ngươi nước sống. Bà hỏi: Hỡi Chúa, Chúa không có gì mà múc, và giếng thì sâu, vậy bởi đâu có nước sống ấy? ĐCJC trả lời []: Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi; nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó văng ra cho đến sự sống đời đời. (Giăng 4:11,14).
