Định Kỳ Cho Muôn Vật
Truyền Đạo là một quyển sách rất đặc biệt trong Kinh Thánh. Đặc biệt bởi vì đây là một quyển hồi ký ghi lại về một cuộc hành trình đi tìm ý nghĩa, mục đích và hạnh phúc cho đời sống dưới ánh mặt trời. Đặc biệt cũng bởi vì đây là quyển sách duy nhất trong Kinh Thánh viết theo quan niệm sống của một người chỉ chú tâm vào đời sống trên đất thay vì vào đời sống vĩnh viễn trên trời như các sách khác. Mới nghe qua về tên của hồi ký là Truyền Đạo qv có thể nghĩ rằng đây là sách của người giảng đạo nhưng từ truyền đạo có nghĩa là diễn giả cho một nhóm hội, người phát ngôn viên hay người thầy dạy. BDM & BD2011 dịch tên sách là Giáo Huấn và dùng chữ giảng sư, tức là thầy dạy thay cho truyền đạo.
Người thầy dạy này không phải là một người tầm thường nhưng là một vua của một quốc gia, một vị vua khôn ngoan, thông minh, giàu có, thành công không ai bằng, tên Sô-lô-môn. [Một số học giả ngày nay cho rằng tác giả sách không phải là vua S.]
VỀ VUA SÔ-LÔ-MÔN, NGƯỜI CÓ TẤT CẢ
S. là vua thứ 3 của xứ Y-sơ-ra-ên, là con trai của vua Đa-vít. Sách 1 Các vua 3 ghi lại câu chuyện khi S. mới lên ngôi thì trong đêm ĐCT hiện ra cùng ông trong giấc chiêm bao và nói: "Hãy cầu xin Ta bất cứ điều gì ngươi muốn, Ta sẽ ban cho." (3:5 – BDM).
Dù trẻ tuổi nhưng S. không cầu xin giàu sang, uy quyền, tài giỏi. S. trả lời ĐCT: Vậy, xin ban cho kẻ tôi tớ Chúa tấm lòng khôn sáng, để đoán xét dân sự Ngài và phân biệt điều lành điều dữ; vì ai có thể đoán xét dân rất lớn này của Chúa? (1CV 3:9). Lời cầu xin này đẹp ý Chúa: 11 Đức Chúa Trời phán với người rằng: Bởi vì ngươi đã cầu xin điều này, mà không xin sự sống lâu, không xin sự giàu có, cũng không xin mạng của những kẻ thù nghịch ngươi, nhưng xin sự thông minh để biết xét đoán, 12 nầy, ta đã làm theo lời cầu xin của ngươi, ban cho ngươi tấm lòng khôn ngoan thông sáng đến đỗi trước ngươi chẳng có ai bằng, và sau ngươi cũng sẽ chẳng có ai ngang. 13 Vả lại, ta cũng đã ban cho ngươi những điều ngươi không xin, tức là sự giàu có và sự vinh hiển, đến đỗi trọn đời ngươi, trong vòng các vua, sẽ chẳng có ai giống như ngươi. 14 Lại nếu ngươi đi trong đường lối ta, gìn giữ luật pháp và điều răn ta, như Đa-vít, cha ngươi, đã đi, thì ta sẽ khiến cho ngươi được sống lâu ngày thêm. (1 CV 3:11-14)
Không những ĐCT ban cho S. sự khôn ngoan và thông sáng nhưng còn vượt hơn tất cả mọi người trước và sau ông. Thêm vào đó, Chúa hứa ban cho ông những điều ông không xin: sự giàu có, vinh hiển (được nổi danh, tôn trọng) hơn mọi vua chúa thời đó và tuổi thọ.
Câu chuyện này là một bài học quan trọng cho người tin Chúa trong việc cầu nguyện. Lời cầu nguyện của S. cho thấy điều gì ưu tiên trong lòng ông. Cũng vậy lời cầu nguyện cho biết điều gì quan trọng nhất đối với chúng ta, biết ưu tiên trong đời sống. Tôi không nói về lời cầu nguyện bên ngoài khi mọi người nghe, nhưng khi chỉ có tôi và Chúa trong phòng kín là nơi không ai thấy, biết, nghe. Bởi vì khi có người nghe thì lời cầu nguyện chúng ta có thể chủ ý đến họ thay vì ĐCT.
Trong bài giảng trên núi, ĐCJC dạy các môn đồ và đoàn dân đông rằng những người không tin Chúa đặt ưu tiên hàng đầu cho đời là chạy đuổi tìm kiếm vật chất (hình ảnh của quần áo mặc, thức ăn). Nhưng người tin Chúa không nên đặt ưu tiên thứ nhất về vật chất, nhưng phải là ĐCT và sự công chính của Chúa thì mọi sự khác sẽ được ban thêm cho: Vì tất cả những điều này, người ngoại vẫn tìm kiếm và Cha các con ở trên trời biết các con cần tất cả những điều ấy. 33 Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, rồi Ngài sẽ ban thêm cho các con mọi điều ấy nữa. (Matt 6:32-33-BDM)
S. tìm kiếm sự công chính của ĐCT để giúp dân cư, đất nước. S. nghĩ về dân chúng, chứ không chỉ cho mình. Nên Chúa thêm cho ông mọi điều khác mà ông không tìm kiếm, cầu xin. Điều gì ưu tiên hàng đầu trong lời cầu nguyện qv?
Người có tất cả cho cuộc sống dưới trời
ĐCT hứa cùng S. sẽ ban cho vua: sự giàu có và sự vinh hiển, đến đỗi trọn đời ngươi, trong vòng các vua, sẽ chẳng có ai giống như ngươi. KT viết trong thời S. bạc coi như đá sỏi (tức là quá nhiều). Mọi vật dụng vua dùng đều làm bằng vàng, từ ngai ngồi cho đến ly uống, dĩa ăn. Danh tiến về sự kiến thức, thông minh của vua lan xa đến nỗi hoàng hậu Sê-ba từ phương xa đến để thử vua rồi kết luận: chẳng có câu nào ẩn bí quá cho Sô-lô-môn mà người không giải nghĩa nổi.
Về phần cung tần mỹ nữ thì vua là người có một không hai trong lịch sử với 700 hoàng hậu và 300 cung phi! Nói tóm lại đây là một người có tất cả. Vua Sô-lô-môn này có tất cả mọi điều mà chúng ta đều mong muốn, khao khát, thèm thuồng được có một phần, dù chỉ một phần cho cuộc đời dưới ánh mặt trời. Có ai lại không muốn có nhiều vàng, nhiều tiền của, có sự giàu sang như vua Sô-lô-môn? Có ai lại không muốn thông minh, tài giỏi như vua? Ai lại không muốn có sắc đẹp, kiến thức sâu rộng như vua?
Câu hỏi là đến cuối cuộc đời khi nhìn lại, vua thấy những gì mình có có đem lại hạnh phúc thật sự cho đời sống hay không?
CUỘC CHẠY TÌM VÀ BÓNG HẠNH PHÚC
Câu trả lời ở ngay những lời đầu tiên của sách: Lời của người truyền đạo, con trai của Đa-vít, vua tại Giê-ru-sa-lem. 2 Người truyền đạo nói: Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không. 3 Các việc lao khổ loài người làm ra dưới mặt trời, thì được ích lợi chi? Ta đã xem thấy mọi việc làm ra dưới mặt trời; kìa, thảy đều hư không, theo luồng gió thổi. (1:1-3, 14)
S. chạy tìm ý nghĩa, hạnh phúc cho cuộc đời bằng cách mà mọi người đều mong mỏi: qua sự hưởng thụ, khoái lạc của thể xác: "Này! Hãy thử điều vui sướng và nếm sự khoái lạc... Ta nghĩ trong lòng rằng phải uống rượu để cho thân mình vui sướng... Ta cất nhà cho mình, trồng vườn nho cho mình, lập cho mình vườn cây trái và vườn hoa, và trồng cây trái đủ thứ ở đó; ta đào hồ chứa nước đặng tưới rừng, là nơi cây cối lớn lên. Ta mua những tôi trai tớ gái, lại có nhiều đầy tớ sanh ra trong nhà ta... Ta lo sắm cho mình những con hát trai và gái, cùng sự khoái lạc của con trai loài người, tức là nhiều vợ và hầu" (TĐ 2:1,3,4-8).
Nhưng kết quả thế nào? Kìa, mọi điều đó là sự hư không và theo luồng gió thổi, chẳng có ích lợi gì hết dưới mặt trời. (2:11)
Ba từ, cụm từ lập đi lập lại rất nhiều lần trong sách. Để nói về quan điểm sống là cụm từ: dưới trời hay dưới ánh mặt trời (>30 lần) có nghĩa là đời sống này là duy nhất, không luân hồi, cũng không có thiên đàng, địa ngục. Chết là hết. Và kết quả của cuộc chạy tìm hạnh phúc được tóm lại trong 2 cụm từ. Cụm từ thứ nhất là hư không (phù vân, hư ảo -BDM, vô nghĩa-BD2011) (>30 lần): Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không. Phù vân, hư ảo! Hư ảo, phù vân! BDM; Vô nghĩa của mọi vô nghĩa, tất cả chỉ là vô nghĩa. (BD2011). Dịch rõ nghĩa hơn là "Mọi việc trên đời đều vô nghĩa! Mọi sự đều hư ảo, phù hoa!
Cụm từ thứ hai diễn tả sự thất vọng của cuộc chạy tìm hạnh phúc dưới trời này, là theo luồng gió thổi (14 lần: Đoạn ta xem xét các công việc tay mình đã làm, và sự lao khổ mình đã chịu để làm nó; kìa, mọi điều đó là sự hư không và theo luồng gió thổi, chẳng có ích lợi gì hết dưới mặt trời. (2:11)
Nơi chúng ta đang sống có mùa gió rất dữ dội. Gió thổi mạnh cuốn theo bao nhiêu bụi đất. Đệ nhất ca sĩ của Anh Quốc tên Sarah Brightman từng trình diễn một bài nhạc với tựa đề "Dust in the wind", có nghĩa là "Bụi trong gió". Bài hát có những lời tôi tạm dịch như sau, "Tôi nhắm mắt mình lại, dù chỉ trong một giây phút và giây phút bay mất. Mọi giấc mơ hiện ra trước mắt tôi trong sự kinh ngạc. Bụi trong gió. Tất cả cũng chỉ là bụi trong gió. Cũng một bài hát cũ. Cũng chỉ là một giọt nước trong đại dương không cùng. Rồi mọi điều chúng ta làm đều sẽ đổ nát cho dù có từ chối để nhìn xem. Bụi trong gió. Tất cả cũng chỉ là bụi trong gió. Đừng nắm giữ. Không có gì tồn tại đời đời ngoài trời và đất. Thời gian vụt khỏi tay và mọi tiền của đều không mua thêm được một giây phút. Bụi trong gió. Tất cả cũng chỉ là bụi trong gió". Có bao giờ qv cảm thấy thời gian vụt khỏi tay mình rồi như bụi trong gió bay đi không tìm lại được như lời của bài hát?
S. kết luận trong sách TĐ: hạnh phúc cũng chỉ là một cái bóng. Nhìn thấy đó nhưng l bao giờ nắm bắt được, giữ được trong tay.
Tôi cũng thấy những câu S. viết trong 2:17-20 như một lời tiên tri về nguời con trai kế ngôi cha làm vua. Hay cho những người cố hết sức làm lụng cực nhọc, vất vả cả đời với mục đích để lại cho con, cho cháu, thế hệ sau này.
Con trai của vua là Rô-bô-am ngu xuẩn nghe lời bạn đồng lứa tuổi thay vì nghe lời khuyên của những người trưởng lão đã hầu vua S., rồi có lời tự phụ, tự đắt: Ngón tay út của ta còn lớn hơn cái lưng của cha ta (1Các Vua 12:10). Hậu quả là dân chúng nổi loạn, đất nước chia cắt làm hai. 80 năm dài với biết bao nhiêu khó nhọc của ông là vua Đa-vít và cha là vua S. để thống nhất đất nước, làm cho Israel trở nên một đất nước an bình, thịnh vượng. Chỉ ít hơn một năm trời thì con vua S. phá đổ tất cả: Vả, ai biết rằng người ấy sẽ khôn ngoan hay là ngu dại? Dầu thế nào, hắn sẽ cai quản mọi việc ta đã lấy sự lao khổ và khôn ngoan mà làm ở dưới mặt trời. Điều đó cũng là hư không. Suốt lịch sử xứ Ỵ mãi cho đến năm 1948 tức hơn 2000 năm, không lúc nào có sự thống nhất. Chỉ vì sự nghiệp để lại cho một đứa con ngu dại!
Sách Truyền Đạo được viết vào cuối đời của vua Sô-lô-môn sau khi ông đã sống, đã từng trải, kinh nghiệm mọi điều mà loài người ao ước cho cuộc sống dưới ánh mặt trời này. Sô-lô-môn không hề nhìn lên trên trời để tìm sự động viên, yên ủi hay ý nghĩa cho đời sống mà chỉ chú tâm hoàn toàn 100% vào cuộc sống dưới trời.
Ghi lại trong quyển hồi ký là nổ lực của một người có tất cả, được tất cả từ sắc diện, trí tuệ, đến tiền của, chức vị, tự đi tìm hạnh phúc cho cuộc sống dưới trời bằng mọi giá, với mọi cách dưới ánh mặt trời. Thượng Đế, Đức Chúa Trời hoặc không có chỗ, hoặc vắng mặt trong cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc này. Như Sô-lô-môn, biết bao người trong chúng ta cũng đã và đang đi tìm hạnh phúc dưới trời theo những phương cách dưới trời để rồi chỉ kinh nghiệm được thất vọng, trống vắng. Khi Thượng Đế vắng mặt khỏi đời sống dưới trời, cuối cùng không có gì thoả mãn.
Có người trở nên như khủng hoảng vào lứa tuổi 30-40 khi một sáng thức dậy thấy đời mình sao trống vắng, khi nhìn lại mình đời đã sanh rêu!" Người Mỹ gọi là mid-life crisis hay cơn khủng hoảng của tuổi trung niên. Để bớt nhàm chán, họ thay đổi. Có người mua xe sport hai cửa đắt tiền. Có người có mèo mở, cặp với ông này bà nọ. Có người đi viếng thẩm mỹ viện. Mục đích là để tìm một hấp dẫn mới cho đời. Nhưng rồi cũng không thoả mãn, rồi lại thay đổi với những điều mới khác. Có gì mới mãi trong đời. Chờ một vài tuần, một vài tháng, một vài năm điều mới biến cũ, điều hấp dẫn trước đây nay trở nên nhàm chán. Sự nhàm chán, trống vắng trong cuộc sống dưới trời không giới hạn tuổi tác, địa vị, tài của. Thiếu niên, trung niên, tráng niên, bác sĩ, công nhân, hay làm nail, tất cả đều có lần tự bảo như Sô-lô-môn: "Con người làm lụng khó nhọc suốt đời hưởng được gì?", hay "Cười là điên rồ, vui sướng chẳng đi tới đâu!"
ĐỊNH KỲ CHO MUÔN VẬT
Phàm sự gì có thì tiết; mọi việc dưới trời có kỳ định. 2 Có kỳ sanh ra, và có kỳ chết; có kỳ trồng, và có kỳ nhổ vật đã trồng; 3 Có kỳ giết, và có kỳ chữa lành; có kỳ phá dỡ, và có kỳ xây cất; 4 có kỳ khóc, và có kỳ cười; có kỳ than vãn, và có kỳ nhảy múa; 5 có kỳ ném đá, và có kỳ nhóm đá lại; có kỳ ôm ấp, và có kỳ chẳng ôm ấp; 6 có kỳ tìm, và có kỳ mất; có kỳ giữ lấy, và có kỳ ném bỏ; 7 có kỳ xé rách, và có kỳ may; có kỳ nín lặng, có kỳ nói ra; 8 có kỳ yêu, có kỳ ghét; có kỳ đánh giặc, và có kỳ hòa bình. 9 Kẻ làm việc có được ích lợi gì về lao khổ mình chăng? 10 Ta đã thấy công việc mà Đức Chúa Trời ban cho loài người là loài người dùng tập rèn lấy mình. 11 Phàm vật Đức Chúa Trời đã làm nên đều là tốt lành trong thì nó. Lại, Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người; dầu vậy, công việc Đức Chúa Trời làm từ ban đầu đến cuối cùng, người không thế hiểu được. (TĐ 3:1-11)
Thời gian hoàn toàn giống nhau cho tất cả mọi người từ khi mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn, từ đông sang hè. Không ai có nhiều hơn, cũng không ai có ít hơn 24 tiếng mỗi ngày dù người đó là hoa hậu, minh tinh, bác sĩ, luật sư, tỉ phú gia, tổng thống, vua chúa, hay bác học gia tài giỏi xuất chúng hay bình thường như hằng tỉ người trên địa cầu. Mọi người đều hoàn toàn bình đẳng khi nói về số lượng thời gian trong một ngày, một năm cho cuộc sống dưới trời này.
Thời gian ấn định tuổi tác con người, mùa màng trong năm. Thời gian sẽ định sự bắt đầu và sự kết thúc của mọi cuộc sống, mọi hoạt động cho cuộc sống dưới ánh mặt trời này. Thời gian cũng thiết lập thì tiết và kỳ định cho muôn loài, muôn vật trên đất. Không ai làm chủ được thời gian cũng không ai thu ngắn hay kéo dài nó lại được. Khi thời gian trôi qua, một khi giờ phút, năm tháng đã qua đi, thì sẽ biến mất vĩnh viễn, không bao giờ trở lại. Không ai có thể nắm giữ, kéo níu thời gian trở lại. Vương vấn đến mấy rồi năm tháng, rồi ngày vui cũng sẽ qua đi. Quyến luyến thế nào cũng không mua lại được tuổi xuân!
Chỉ trong 8 câu ngắn ngủi, vua Sô-lô-môn đề cập đến 14 thì tiết, kỳ định khác nhau. Đây là những thời gian hoàn toàn đối nghịch, tương phản nhau, như sinh và tử, giết hại và chữa lành, phá dỡ và xây cất, hay chiến tranh và hòa bình. Dù đây không phải là một danh sách hoàn toàn đầy đủ nhưng nó hết sức quan trọng và tiêu biểu cho các thời điểm khác nhau trong đời sống chúng ta. Không ai sống trong đời lại không một lần kinh nghiệm điều Sô-lô-môn đã viết. Vua không cố vấn chúng ta trong cách thức tìm chọn thời gian nào đúng đắn, thích hợp. Vua chỉ quan sát rằng trong cuộc sống, chắc chắn chúng ta sẽ phải trải qua những thời điểm này.
Nếu có sự lựa chọn, hầu hết tất cả chúng ta đều chọn cho mình một bên của thời điểm, của kỳ định. Giữa sự sống và sự chết, dĩ nhiên chúng ta thích chọn sự sống. Giữa giết hại và chữa lành, chúng ta sẽ chọn chữa lành. Giữa phá dỡ và xây cất, chúng ta chọn xây cất. Ai lại không muốn chọn tiếng cười để thay cho tiếng khóc. Giữa than vãn và nhảy múa, dĩ nhiên ta thích nhảy múa, vui mừng. Giữa yêu thương và thù ghét, có ai lại không muốn được yêu thương. Và dĩ nhiên giữa chiến tranh và hòa bình, mọi người đều ao ước hòa bình.
Tất cả chúng ta đều ao ước được chọn lựa, sinh sống trong thời điểm này hơn là thời điểm khác. Tuy nhiên không ai có thể sống như chỉ có một thời điểm, một kỳ định trong cuộc sống dưới ánh mặt trời. Tất cả chúng ta đều yêu chuộng cuộc sống, hòa bình, tiếng cười, nhảy múa, tình yêu, và sự ôm ấp. Thế nhưng, mọi người rồi sẽ kinh nghiệm sự chết, chiến tranh, than khóc, than vãn, thù ghét. Đây là tất cả những điều trái lại điều mà con tim chúng ta thầm ước nguyện. Không ai dự tính cho những thời điểm này xảy ra nhưng chúng vẫn xảy ra, ngoài dự tính, ngoài ý định, ngoài khả năng kiểm soát của tôi và qv.
Vua S. muốn nhắc tất cả chúng ta rằng thời gian và những kỳ định trong cuộc sống nằm trong quyền quyết định, kiểm soát của ĐCT, chứ không tùy thuộc vào con người. Chúng ta có những mơ ước, muốn thế này thế nọ, nhưng không ai có thể định chắc cho mình khi nào điều đó sẽ xảy ra hay sẽ xảy ra thế nào. Bao nhiêu lần chúng ta dự tính một đàng, nhưng khi sự việc xảy ra lại hoàn toàn trái với ý định của mình.
Khi còn trẻ chúng ta có thể khăng khăng, cả quyết rằng thời điểm này, định kỳ nọ tốt hơn, đúng hơn, phải hơn. Nhưng đến khi lớn tuổi chúng ta hiểu được nhiều điều mà trước đây chưa hiểu. Chúng ta ý thức rằng lắm khi cả hai thái cực đều có mục đích, ý nghĩa, giá trị riêng của nó. Một cuộc đời chỉ kinh nghiệm một cực đoan của những định kỳ mà Sô-lô-môn đã ghi lại thì hoặc sẽ trở nên nông cạn hoặc sẽ trở nên cay đắng.
Nếu cuộc sống lúc nào cũng dư dật, bình lặng, không bao giờ biết khổ cực, mất mát thì con người cũng sẽ trở nên yếu đuối trước khó khăn, thử thách, sẽ hời hợt, dững dưng trước nỗi khổ của người chung quanh. Nhưng nếu đời sống chỉ toàn những mất mát, xung đột, tranh chấp, nếu phải sống triền miên trong chiến tranh hay bệnh tật thì hiếm ai có thể giữ được lòng nhân từ, sự quan tâm đến những người chung quanh họ; trái lại hầu hết sẽ trở nên cay đắng trong lòng hay trách móc, oán hận Chúa và người.
Trẻ em sung sướng quá dễ sinh ra lười biếng, ỷ lại nhưng khổ quá sẽ sinh ra bất mãn, thù ghét đời và người. Người vợ, người mẹ mà phải sống âm thầm, nín lặng trước những ngược đãi, hành hung của chồng con mãi rồi trong lòng rồi sẽ sinh ra cay đắng, oán hờn. Thế nhưng cũng không ai muốn nghe một người nói hoài không dứt. Trong các xứ nghèo khó, hay chiến tranh, chúng ta thấy những đứa bé gái tuổi 10, 12 ẳm em mình, lo lắng, chăm sóc cho em như một người mẹ trong gia đình. Sự khổ cực, hoàn cảnh thiếu thốn khiến cho em trưởng thành trước tuổi. So lại với trẻ em sống tại xứ này, bao nhiêu trẻ em trong lứa tuổi đó có thể chăm sóc cho chính mình, huống chi cho các em của mình.
ĐCT có định kỳ cho muôn vật để nhắc loài người rằng không có gì là mãi mãi, vĩnh cửu trong cuộc sống dưới trời này. Để không ai có thể tự hào, hảnh diện về điều mình đang có.
[Câu chuyện về người lính từ VN trở về, con trai 1 gia đình giàu có, quyền quí tại Boston: cụt 1 tay, 1 chân, mù 1 mắt và mặt biến dạng xấu xí. Gọi mẹ từ CA có ý đem “người bạn đó” về nhà ở luôn. Mẹ viện cớ, từ chối. Vài giờ sau đó, người mẹ nhận được điện thoại từ cảnh sát tại CA. “Chúng tôi vừa tìm thấy một thanh niên 1tay, 1 chân, 1 mắt, mặt biến dạng vừa tự bắn vào đầu. Giấy tờ cho biết người đó là con bà!]
Chỉ khi ý thức và chấp nhận lời của Sô-lô-môn rằng "Phàm sự gì có thì tiết; mọi việc dưới trời có kỳ định", thì chúng ta mới có thể chấp nhận trong cuộc sống dưới trời này không có gì là mãi mãi, vĩnh cửu.
Chúng ta sẽ, lúc sinh, lúc tử; lúc gieo, lúc gặt; lúc giết hại, lúc chữa lành; lúc phá, lúc dựng; lúc khóc, lúc khóc, lúc cười; lúc ôm ấp, lúc ruồng rẫy; lúc đánh mất, lúc tìm được; lúc gìn giữ, lúc loại bỏ; lúc xé, lúc vá; lúc câm nín, lúc lên tiếng; lúc yêu, lúc ghét; lúc chiến tranh, lúc hòa bình.
Kinh nghiệm đó khiến trở nên thông cảm hơn, mềm mại hơn, nhân từ hơn, hiểu biết hơn sau khi đã khi trãi qua các thì tiết và định kỳ vua viết. Và cũng giúp chúng ta khiêm nhường hơn. Nhắc chúng ta rằng tiếng cười, sự ôm ấp, cuộc sống, hòa bình, sự trù phú không phải là vĩnh viễn nhưng những điều này có thể mất bất cứ lúc nào. Thay vào đó là tiếng khóc, sự chết, chiến tranh, mất mát. Những kỳ định này cũng dạy chúng ta rằng Thượng Đế, Đức Chúa Trời, chớ không phải loài người là Đấng Chủ tể, Đấng kiểm soát thời gian và mọi định kỳ trong cuộc sống. Người đã sống qua những thời điểm khác nhau biết quý trọng những gì mình đang có và bớt phàn nàn về những gì chưa có hay không có.
Một ông lão sống với người con trai trên đỉnh của một ngọn đồi. Hai cha con có một con ngựa để chở những vật thực đem bán và để di chuyển đến làng gần bên. Một ngày bỗng nhiên con ngựa quý giá đó của cha con lại bỏ đi đâu không biết. Tìm hoài cũng không ra. Những người bạn và hàng xóm đến an ủi hai cha con về con ngựa lạc mất. Ông lão cám ơn nhưng hỏi lại, "Làm sao quý vị biết rằng đây là điều rũi?" Không lâu sau đó, một ngày thình lình con ngựa trở về. Không chỉ một mình nó mà với nhiều con ngựa hoang khác. Lần này những người bạn và hàng xóm đến để chúc mừng cho hai cha con về bầy ngựa mới. Ông lão cảm ơn nhưng hỏi lại, "Làm sao quý vị biết rằng đây là điều may?" Rồi người con trai của ông thử một con ngựa rừng, té xuống và gẫy chân sinh tàn tật. Bạn và hàng xóm lại đến để chia buồn với ông lão về sự tật nguyền của người con. Ông lão cảm ơn nhưng rồi như những lần trước vặn hỏi, "Làm sao quý vị biết rằng đây là điều rũi?" Sau đó chiến tranh xảy ra, tất cả trai tráng trong làng gồm cả con cháu các bạn và hàng xóm của ông lão phải nhập ngũ. Người con trai của ông được miễn dịch vì cái chân tàn tật của anh.
Tất cả chúng ta đều bị giới hạn bởi thời gian. Chúng ta chỉ biết về quá khứ và thấy được hiện tại. Không một ai biết trước tương lai, ngoại trừ Đấng tạo ra thời gian, kỳ định. Chúng ta đánh giá mỗi sự việc, biến cố xảy ra trong đời sống theo cái nhìn hữu hạn của hiện tại. Nhưng S. viết: Tôi quan sát những công việc Đức Chúa Trời ban cho loài người để họ làm. 11 Mọi sự Ngài làm đều đúng thời, đúng lúc.
Khi ý thức rằng mọi sự việc đều có thì tiết, có kỳ định, chúng ta sẽ biết kiên nhẫn chờ đợi, chịu đựng và hơn hết tin cậy vào Đức Chúa Trời. Kinh Thánh cũng nhắc dạy rằng, "Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng". Từ đến trọ trong câu Kinh Thánh hết sức ý nghĩa vì nó hàm ý rằng sự than khóc chỉ tạm thời. Khi buổi sáng đến thì sự vui mừng sẽ trở lại. Một số qv có thể đang trải qua những thử thách, khó khăn, đau buồn, mất mát. Một số khác có thể đang trải qua sự than khóc, thù ghét, oán hận, chiến tranh. Hay có thể những gì qv đã dày công xây dựng đang bị phá hủy, vất bỏ, ruồng rẫy. Nỗi đau thương, sự mất mát của qv có thể rất lớn, tưởng như không có gì trong cuộc đời này có thể hoàn trả hay bồi đấp lại. Xin hãy nhớ lại lời của Sô-lô-môn về các kỳ định trong đời sống. Và cũng xin nhớ về lời viết của thánh đồ Phao Lô trong sách Rô-ma 8:28, "Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định".
Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo và thiết lập thời gian, kỳ định cho đời sống mỗi người. Mỗi thì tiết, kỳ định đều có mục đích, giá trị và ý nghĩa cho những người hết lòng đặt trọn niềm tin nơi Chúa. Chính Chúa sẽ làm mọi điều tốt đẹp trong thời điểm đã định trước bởi Ngài. Đây là một hy vọng rất lớn để qv có thể trông cậy.
S. cũng nhận xét một điều khác vô cùng quang trọng: Mọi sự Ngài làm đều đúng thời, đúng lúc. Tuy Đức Chúa Trời có đặt vào tâm trí loài người ý niệm về cõi đời đời, cũng không một ai thấu hiểu được đầu đuôi gốc ngọn công việc Ngài làm. Chúa đặt trong lòng mỗi người một ý niệm về cõi đời đời, vĩnh hằng. Có nghĩa là trái với kỳ định cho muôn vật dưới trời này thì sẽ có một nơi khác, thế giới khác, thời điểm khác mọi việc sẽ còn đến đời đời.
Hồi ký của Sô-lô-môn hay sách Truyền Đạo là một quyển sách dù xưa nhưng hết sức thực tế để giúp chúng ta suy nghĩ về cuộc sống dưới trời này. Trong cuộc sống tất bật hiện tại hiếm khi chúng ta có cơ hội để dừng lại lắng nghe kinh nghiệm của người từng trải. Đến cuối quyển hồi ký, vua Sô-lô-môn có lời khuyên nhắc đọc giả: " Hãy suy tưởng đến Đấng Tạo Hóa khi còn trong tuổi thanh xuân, Trước khi những ngày hoạn nạn chưa đến, Trước những năm mà con không còn thấy vui thỏa nữa" (12:1-BDM). Một lời khuyên khôn ngoan của một người từng trải, đáng để chúng ta ghi nhớ và làm theo.
Hạnh phúc đến khi chúng ta biết cám ơn Thượng Đế vì những gì mình đang có thay vì nuối tiếc, cay đắng về những gì không có. Khi chúng ta ý thức rằng suối mơ hay thiên thai khác với thực tế của cuộc sống dưới trời này. Quan trọng hơn hết khi chúng ta dù sống dưới trời vẫn ngước mắt lên trời để nhận sự trợ giúp, nhận ý nghĩa từ Đấng Sáng Tạo chúng ta. Như một tác giả trong Kinh Thánh đã viết: "Tôi ngước mắt lên trên núi: sự tiếp trợ tôi đến từ đâu? Sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Chúa Trời, là Đấng đã dựng nên trời và đất" (TT 121:1).
