Đến Với Sự Sáng
Giáng sinh thường đem đến chúng ta cảm giác bình an, ấm áp, đặc biệt khi nhìn những ánh đèn lấp lánh trên cây giáng sinh, khi bước vào sảnh đường thờ phượng trang trí cho mùa lễ, khi nghe những bài thánh ca giáng sinh quen thuộc. Đêm xuống êm đềm, chuông thánh van rền… Một số nghĩ đây là mùa của gia đình sum họp, mùa của quà tặng. Số khác văn chương hơn cho rằng đây là mùa yêu thương vì sự sáng lớn đã đến thế gian. Không có gì sai khi chúng ta nghĩ về những điều này, khi cảm nhận sự bình an của mùa lễ. Nhưng đây không phải là tất cả ý nghĩa của Giáng Sinh theo lời KT.
Đoạn KT tôi vừa đọc trong Lu-ca 2 khác nhiều với hình ảnh chuồng chiên, máng cỏ thơ mộng, êm đềm, hài nhi Jesus nằm ngủ say trong máng cỏ bình an, bên cạnh là Mari và Giô-sép chăm chú nhìn nhắm con trai đầu lòng vừa sinh, trên cao thiên sứ bay lượn bảo vệ, chúc phước, và trước chuồng chiên là những người chăn chiên cùng các bác sĩ đông phương quì dâng lễ vật cho con trẻ mới sinh. Thật ra đây chỉ là những hình ảnh thi vị hoá, thơ mộng hoá, êm đềm hoá đêm Chúa giáng sinh hơn 2000 năm trước đây. Thực tế hoàn toàn khác biệt.
Thật tế là chuồng chiên là nơi chiên lừa ở hôi hám, tối tăm; thật tế là máng cỏ là nơi không một người mẹ nào muốn đặt con vừa sinh mình nằm; thật tế là vì nhà quán không có chỗ ở nên Mari và Giô-sép mới phải tạm trú nơi chuồng chiên tối tăm, hôi hám. Và cũng theo lời KT phản ứng đầu tiên của tất cả nhân vật trong câu chuyện theo Lu-ca, những kẻ chăn chiên, Mari & Giô-sép đều vô cùng sợ hãi khi thiên sứ hiện ra cùng họ. Một thiên sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh, họ rất sợ hãi. (Lu-ca 2:9).
Như khi đang ngủ say trong đêm thình lình một ánh sáng rực rỡ chiếu vào mắt khiến chúng ta giật mình, sợ hãi thì khi sự sáng lớn đến thế gian cũng đã khiến cho dân đi trong nơi tối tăm vô cùng sợ hãi trước khi hiểu được sự sáng đó là gì. PA Giăng cho chúng ta biết một sự thật là dù khi sự sáng lớn từ trời đã thế gian nhưng không phải cả thế gian này đều đón nhận sự sáng lớn đó. Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. 5 Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng. (Giăng 1:4-5). Án lý buộc tội là thế nầy: Ánh sáng đã chiếu vào thế gian nhưng người đời yêu chuộng bóng tối hơn ánh sáng vì hành vi của họ là gian ác. 20 Vì người làm ác thì ghét ánh sáng và không chịu đến cùng ánh sáng, sợ rằng hành vi của mình sẽ bị phơi bày ra. (3:19-20 – BDM). Đây cũng là một chủ đề chính của cả KT: loài người phạm tội và yêu thích bóng tối của tội lỗi hơn là ánh sáng phơi bày của ĐCT.
Sau khi A-đam & E-va phạm tội cùng ĐCT, nghe tiếng ĐCT gọi thì họ làm gì? Cả hai chạy trốn giữa các bụi cây. Khi Chúa hỏi ngươi ở đâu, A-đam trả lời: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lõa lồ, nên đi ẩn mình. (STK 2:10). Trước khi phạm tội cả hai người đều không xấu hổ và sợ hãi khi Chúa gọi họ. Trái lại KT cho biết họ đi dạo cùng ĐCT trong vườn Ê-đen khi chiều mát. Họ bước đi trong ánh sáng và vinh hiển của ĐCT. Họ yêu thích ánh sáng và vinh hiển Chúa. Như trong KH viết: Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng để soi sáng; vì vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lói cho, và Chiên Con là ngọn đèn của thành. 24 Các dân sẽ đi giữa sự sáng thành đó và các vua trên đất sẽ đem vinh hiển mình vào đó. (KH 21:23-24)
Nhưng sau khi sa ngã, A-đam và E-va sợ hãi khi phải đối diện với ĐCT thánh khiết vì tội lỗi của họ. Hình ảnh loã lồ không chỉ nói về thể xác nhưng còn nói lên tội lỗi phơi bày trần trụi trước mắt Chúa. Trước sự hiện ra của ĐCT trong bụi cây cháy hoài không tắt, KT viết: Môi-se liền che mặt, vì sợ nhìn đến Đức Chúa Trời. (XEDTK 3:6). Trước sự vinh hiển và thánh khiết của ĐCT, Ê-sai phải nói: Khốn nạn cho tôi! Tôi chết mất! Vì tôi là người có môi bẩn thỉu, sống giữa một dân có môi bẩn thỉu; vì mắt tôi đã thấy Vua, tức là CHÚA Vạn Quân. (Ê-sai 6:5 - BDM) Trước ĐCJC, sự sáng trời đã đến thế gian, Phi-e-rơ quỳ dưới chân Ngài và nói: Lạy Chúa, xin lìa khỏi con, vì con là người tội lỗi! (Lu-ca 5:8) Tội lỗi khiến cho tất cả chúng ta trở nên sợ hãi trước ánh sáng và vinh hiển ĐCT.
Thiên sứ phán cùng những người chăn chiên: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; 11 ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. (Lu-ca 2:10-11). Chỉ có qua Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa mới có thể đem con người tội lỗi đến với ĐCT thánh khiết. Thật đúng như vậy vì trước khi tin Chúa nghĩ đến Trời là thấy sợ. Người VN mình nói sợ Trời, chứ không ai nói yêu Trời cả. Chỉ khi biết Chúa chúng ta mới có thể nói con yêu mến ĐCT vì Ngài đã yêu thương con.
Phản ứng sợ hãi vô cùng của những người chăn chiên cũng là phản ứng tự nhiên của mọi người khi phải dối diện với sự sáng. Như A-đam & E-va khi đã ý thức họ trần truồng nên tìm lá cây vả làm khố che thân. Ngày nay không ai che thân bằng lá cây vả cả ngoại trừ những người mẫu trên báo chí, phim ảnh khỏa thân! Ngày nay chúng ta che dấu sự sợ hãi của mình bằng những cách thức tinh vi hơn. Chúng ta không muốn ai biết sự lo lắng, thiếu tự tin nên ra vẻ hiểu biết. Không muốn ai biết mình thiếu tình yêu thương nên thay lấp vào đó bằng vật chất: xe cộ, tiệc tùng, các chuyến đi xa. Mọi người, mỗi người đều có lúc như một rùa núp trong cái vỏ cứng để mong không ai thấy được. Khi rút mình vào vỏ chúng ta cảm thấy an toàn.
KT dạy ma quỉ muốn con người tìm đến sự an toàn, tự tin qua những điều trong thế gian này, thần tượng, anh hùng, lực sĩ, minh tinh, nghệ sĩ hay vật chất, nhà cửa, công việc, tiền của, sắc đẹp thay vì tìm đến ĐCT, tìm đến sự sáng thật là ĐCJC để được Ngài lấy đi nỗi lo sợ, bất an trong đời sống. ĐCT đã dùng tiên tri Giê-rê-mi để giải thích về tội này của dân sự: Vì dân Ta đã phạm hai tội ác: Chúng đã lìa bỏ Ta, Là nguồn nước trào tuôn, Và tự đào cho mình những bể chứa nước, Những bể nứt nẻ không chứa nước được. (2:13)
Thật như lời tiên tri Giê-rê-mi, tất cả những điều trong thế gian này mà ma quỉ muốn qv lấy làm sự an toàn cho đời sống đều như những hồ chứa nước nức mẻ không chứa nước được. Càng sống lâu qv chắc càng nghiệm rõ điều này. Công việc làm đem đến lợi tức nhiều nhưng cũng làm cho người ta ăn không ngon, ngủ không yên, thân xác mệt mõi, rã rời. Người thân yêu rồi cũng sẽ qua đời. Bạn hôm nay thân thiết, ngày mai lại trở nên nghịch. Vui mừng, hớn hở vì thành công hôm nay nhưng rồi vài năm sau đó nhìn lại phải chi đừng có sự thành công này thì gia đình đâu phải có chuyện lục đục, tình bạn rạn nứt.
Qv nói tôi bình an vì có việc làm tốt; tôi an toàn vì có gia đình, bè bạn yêu thương; tôi an toàn vì có sắc đẹp, hay tài giỏi. Đây là cám dỗ đầu tiên của ma quỉ đối với ĐCJC: Nếu ngươi phải là Con Đức Chúa Trời, thì hãy khiến đá nầy trở nên bánh đi. (Ma-thi-ơ 4:3) Biến đá thành bánh còn có nghĩa là đầy đủ vật chất, những điều thỏa mãn nhu cầu thể xác này. Chúa trả lời: Có lời chép rằng: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời. (4:4) Chúng ta sống không phải chỉ biết thỏa mãn những nhu cầu thể xác, nhưng còn sống nhờ lời dạy của ĐCT. Nói cách khác bên cạnh đời sống vật chất, còn có đời sống tâm linh quan trọng hơn bao lần vì thể xác này chết sẽ trở về với bụi đất nhưng tâm linh còn sống đến đời đời.
Chúng ta lo sợ cho con cái, gia đình; cho tương lai; cho công việc. Sợ thất bại. Sợ bị chê cười. Hơn hết sợ chết. Ai lại không sợ chết, hay ít nhất sự đau đớn trước khi chết. Sợ bị Chúa phán xét. Nhưng tôi nghĩ nỗi lo sợ rõ hơn hết khi đến với sự sáng là sợ rằng tin Chúa rồi chúng ta sẽ không còn cuộc sống như ý mình muốn, sợ Chúa bắt mình phải thay đổi mất hết niềm vui trong cuộc sống. Sợ mình phải dâng hiến tiền của hay phải đi truyền giáo ở nơi xứ xa xôi nào đó. Nói cách khác chúng ta không hoàn toàn tin tưởng (trust) ĐCT. Chúng ta thà biết trong nhà băng đủ tiền về hưu còn hơn biết có Chúa ở cùng. Chúng ta thà tránh sự sáng lớn còn hơn ở trong ánh sáng phơi bày tội lỗi, thói hư tật xấu mình. Như Giê-rê-mi viết, chúng ta bỏ ĐCT, là nguồn nước tuôn trào để tự đào những hồ chứa nước mà không giữ được nước vì nức mẻ.
KHI ĐẾN VỚI SỰ SÁNG
Các nhà tâm lý xã hội cho biết hầu hết mọi người đều nghĩ tốt hơn, cao hơn về mình. 94% các giáo sư đại học đều nghĩ rằng họ ở trong mức đầu 10% của nghề. 70% các sinh viên năm thứ 4 đại học nghĩ rằng họ ở mức đầu 20% của số người luôn luôn sống hòa thuận với người khác. 99% người dự phần vào việc xác xuất này tin rằng thế giới này sẽ là nơi tốt đẹp hơn nếu mọi người đều sống theo luật vàng (Golden Rule), đối với người như mình muốn người đối với mình. Và 95% người đều tin rằng họ sống theo luật vàng. Nếu vậy thì thế giới này làm gì có chiến tranh, mọi người đều vui vẻ, hòa thuận, hiệp một với nhau; dĩ nhiên thực tế không như vậy.
Đúng như ĐCJC dạy trong bài giảng trên núi: không ai có thể thấy hết được bao lớn cây cột trong mắt mình, nhưng thấy rõ cái dằm trong mắt người, hầu hết mọi người đều nghĩ rằng khi có lục đục trong gia đình, trong quan hệ thì lỗi là ở người kia chứ không phải ở mình. Khi đến với Chúa, chúng ta phải ý thức rõ chính tôi là người có lỗi, có tội cùng ĐCT, cùng những người chung quanh tôi.
Nhiều người sợ khi đến với sự sáng lớn họ phải từ bỏ tất cả thú vui đang có, từ bỏ thói quen trước đây để sống như một tu sĩ. Thật sự thì họ đang là nô lệ cho những thú vui và thói quen này như lời KT dạy. Khi ĐCJC nói với những người Giu-đa đã tin Ngài nếu họ tiếp tục vâng giữ lời Chúa thì họ sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải thoát họ. Nghe lời này những người đó nói với Chúa: Chúng tôi là dòng dõi của Áp-ra-ham và chưa hề làm nô lệ ai. Làm thế nào Thầy bảo ‘Các ngươi sẽ được tự do’? (Giăng 8:33 – BD2011). KT viết ĐCJC trả lời họ: Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi, ai phạm tội là nô lệ của tội lỗi. 35 Nô lệ không ở mãi trong gia đình, nhưng con cái ở mãi trong gia đình. (8:34 – BD2011).
Tôi xin giải thích lời ĐCJC dạy họ: Khi còn phạm tội là còn sống trong tội lỗi, là còn sống trong sự thống trị của ma quỉ nhắc nhở, sầm sì, thúc dục con người phạm tội; và he càng tiếp tục sống trong tội lỗi, con người sẽ trở nên nô lệ của ma quỉ, của tội lỗi, bởi vì ma quỉ muốn con người tiếp tục phạm tội xa lìa ĐCT. Người làm nô lệ ngày xưa không thuộc về gia đình chủ nhưng chỉ có thể bị trao đổi, bán đi, nhưng chỉ có con cái trong gia đình mới được ở luôn trong gia đình. Khi qv thật sự ý thức mình là người có tội, là nô lệ của tội lỗi, và chân thành đón nhận sự sáng lớn của ĐCJC vào tâm hồn, ĐTL và lời Chúa trong KT sẽ thay đổi qv, giúp qv biết sự thật và giúp giải thoát qv khỏi vòng nô lệ của tội lỗi. Khi tin nhận Chúa, qv sẽ trở nên con trai và con gái của ĐCT và sẽ được Ngài tha thứ và đón nhận vào nước Thiên Đàng sáng láng đời đời. PL cũng giải thích về nô lệ của tội lỗi như sau: Vả, chúng ta biết luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi là tánh xác thịt đã bị bán cho tội lỗi. 15 Vì tôi không hiểu điều mình làm: tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét (Rô-ma 7:14-15)
Chắc chắn tất cả chúng ta đều kinh nghiệm được điều PL giải thích: dù cố gắng để làm điều tốt, điều đúng, điều phải, điều thiện đến mấy thì vẫn tiếp tục làm điều sai quấy. Đâu ai muốn trở nên ích kỷ, ghen tị, mau so sánh, mau nóng giận, dễ buồn giận, thù ghét, oán trách… Ai muốn sống với những thói quen, tính tình này, như PL gọi là những việc làm của xác thịt: gian dâm, ô uế, luông tuồng, 20 thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, 21 ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy (Ga-la-ti 5: 19-21). Mọi người đều muốn trở nên người cao thượng, đầy dẫy trái TL: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ (5:22). Nhưng mấy ai làm được điều này.
Vậy để đón nhận sự sáng vào đời sống, qv phải đồng ý với lời KT dạy, chết đi con người cũ của mình để có thể sống lại trong con người mới với Đấng Christ. Tôi chắc chắn qv sẽ không mất gì, sẽ không còn tiếc nuối gì về những thú vui, thói quen trước khi tin nhận Chúa. Trái lại qv sẽ nhận từ nơi Chúa ơn phước bội phần.
ĐCJC là sự sáng thật và lớn từ trời đã đến thế gian để đem chân lý và bình an cho loài người. ĐCJC là chân lý, là lẽ thật, là sự sống. Khi đến với sự sáng, Chúa sẽ vạch trần, phô bày cái tôi, con người thật ích kỷ mà chúng ta muốn dấu mọi người. Ánh sáng của Chúa sẽ cho thấy chúng ta đang mặc cái khố bằng lá cây vả mong manh, tạm bợ, cái khố tạm bợ, mong manh của việc làm, sắc đẹp, thông minh, tài của, địa vị, quan hệ. Ánh sáng của Chúa cho thấy sự thánh khiết, toàn thiện của ĐCT không thể chấp nhận sự giả tạo, mặt nạ, tội lỗi trong đời sống chúng ta, dù cố che đậy khéo léo cho đến mấy. Cái lớp sơn hào nhoáng bên ngoài bị ánh sáng lột trần, phơi bày con người thật xấu xa. Vì vậy mà bao nhiêu người từ chối đón nhận ánh sáng vào đời sống. Họ sợ: sợ bị phơi bày, sợ bị người ta thấy, biết con người thật, sợ sẽ mất cái khố lá tạm bợ. Khi đã quen sống trong bóng tối, ánh sáng làm cho chúng ta khó chịu.
Vì biết nỗi lo sợ của những người chăn chiên, thiên sứ nói cùng họ: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; 11 ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. 12 Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. (Lu-ca 2:10-12). Tôi đọc lại câu KT này nhiều lần và tự hỏi tại sao thiên sứ lại bảo cùng các mục tử Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. Tôi nghĩ câu trả lời rất đơn giản: bởi vì một con trẻ vừa sinh nằm trong máng cỏ nghèo nàn thích hợp với địa vị thấp hèn của những kẻ chăn chiên. Với các bác sĩ từ Đông phương, Chúa báo cho họ bằng ánh sao sáng lớn, phù hợp với sự hiểu biết của họ. Bài học là gì? Dù ĐCJC là ánh sáng lớn, nhưng khi đến thế gian Ngài đến cách khiêm nhường, thích hợp với đối tượng; nói cách khác Chúa không muốn ánh sáng lớn làm người đón nhận Ngài phải sợ hãi. Những lời Chúa dạy dù bao la và thâm sâu đến nỗi các học giả bỏ cả đời nghiên cứu vẫn chưa hiểu hết, nhưng cũng đơn giản để một con trẻ năm bảy tuổi vẫn có thể hiểu để tin nhận Ngài.
Rồi những kẻ chăn chiên làm gì? Họ quyết định đi đến gặp con trẻ: Chúng ta hãy tới thành Bết-lê-hem, xem việc đã xảy đến mà Chúa cho chúng ta hay. 16 Vậy, họ vội vàng đi đến đó, thấy Ma-ri, Giô-sép, và thấy con trẻ đang nằm trong máng cỏ. 17 Đã thấy vậy, họ bèn thuật lại những lời thiên sứ nói về con trẻ đó. (Lu-ca 2:15-17). Các bác sĩ đông phương cũng lặn lội đường xa đến tìm cho được ánh sáng lớn vừa mới hạ sinh. KT dạy rõ: quyết định nhận ánh sáng vào đời sống phải thể hiện qua hành động cụ thể, tâm trí quyết định, nhưng chân phải đi, cả thân phải quỳ xuống thờ lạy Chúa. Nếu không hành động, nếu không như các mục tử quyết định, dù có phải bỏ bầy chiên nơi đồng, để đến thành Bết-lê-hem, mà tìm con trẻ vừa hạ sinh như lời thiên sứ đã phán thì dù lòng qv có cảm động đến mấy cũng vô ích. Qv phải tự nguyện đến với Chúa để nhận sự sáng vào đời. Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy. (Giăng 1:9-10).
Tôi muốn kết thúc bài giảng này với 2 câu KT, một trong CU viết bởi tiên tri Ê-sai 700 năm trước khi ánh sáng lớn đến thế gian, và một câu do chính sự sáng lớn đó phán cùng dân sự.
“Hỡi tất cả những ai khao khát, Hãy đến nơi các nguồn nước. Và người không tiền bạc, Hãy đến mua và ăn. Hãy đến mua rượu và sữa Mà không cần tiền và không phải trả phí tổn. 2 Tại sao các ngươi tiêu phí tiền cho vật không phải là bánh, Lao lực cho vật không làm cho mãn nguyện. Hãy lắng nghe Ta, hãy ăn vật ngon, Thì linh hồn các ngươi sẽ vui với đồ béo bổ. 3 Hãy nghiêng tai và đến cùng Ta, Hãy nghe thì linh hồn các ngươi sẽ sống. Ta sẽ lập một giao ước đời đời với các ngươi, Tức là tình yêu trung kiên Ta đã hứa cùng Đa-vít. (Ê-sai 55:1-3 - BDM)
Đừng khổ vì miếng ăn hay hư nát nhưng vì thức ăn còn đến sự sống vĩnh phúc mà Con Người sẽ ban cho các người… Đức Giê-su đáp: "Chính Ta là bánh hằng sống, ai đến với Ta sẽ không bao giờ đói, còn ai tin Ta sẽ chẳng bao giờ khát! (Giăng 6:27, 35 - BDM)
