Đấng Đi Giữa Hội Thánh
Sách KH được viết bởi sứ đồ Giăng khi ông bị đại đế Domitian đày sang một đảo nhỏ tên Patmos. Giăng của là người đã viết 1 trong 4 sách Phúc Âm, và 3 thư Giăng 1-3. Sách KH được viết vào khoảng năm 95, tức hơn 60 năm sau khi ĐCJC chịu chết.
Khi Chúa chết, Giăng là một thanh niên trẻ tuổi, nay hơn 60 năm đã qua. Lúc đó ngoại trừ Giu-đa Ít-ca-ri-ốt tự tử sau khi bán Chúa, 11 sứ đồ vẫn còn sống; Giăng vẫn còn có 10 anh em thân thiết đã cùng đi theo ĐCJC trong suốt 3 năm trời. Nhưng nay chỉ còn mỗi mình ông trên ốc đảo hoang vu hẽo lánh này. Khi Giăng viết thư này thì tất cả10 sứ đồ khác đã tử đạo.
60 năm theo Chúa, 60 năm trung tín hầu việc Ngài. Dù chịu khổ vì TL, vì danh Chúa nhưng Giăng không hề ta thán hay phiền trách Chúa. Còn chúng ta thì sao? Một ý chính yếu và quan trọng nhất trong KH là trung tín với Chúa dù gặp hoạn nạn, thử thách vì biết dù cảnh ngộ thế nào, Chúa luôn luôn là Đấng nắm giữ lịch sử và tương lai loài người.
Năm 70 một cơn cháy lớn xảy ra tại thành Giê-ru-sa-lem đốt trụi cả đền thờ. Nhiều sử gia cho rằng chính đại đế Nero là người đốt thành. Nhưng Nero lại đổ thừa vụ cháy lớn này cho người tin Chúa và bắt đầu một cuộc bắt bớ hết sức dữ dội, tàn nhẫn. Tín đồ bị tẩm nhựa đen rồi đóng đinh trên thập giá để làm đuốc ban đêm khi vua có dạ tiệc; hay bị bắt ra các đấu trường để thú dữ phanh thây. Cũng chính trong thời gian này mà sứ đồ PL bị chém đầu và Phi-e-rơ bị đóng đinh ngược trên thập giá.
20 năm sau đó, một đại đế khác tên Domitian lại bắt đầu một cuộc bắt bớ mới tàn nhẫn và hệ thống hơn cuộc bắt bớ trong thời vua Nero. Dù bị bắt bớ, tù đày nhưng đạo Chúa tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Rất nhiều người thuộc tầng lớp thấp trong xã hội như nô lệ, phụ nữ, thành phần lao động, tin Chúa, nhận lễ báp-tem, tham gia HT. Trong xứ Tiểu Á là vùng có 7 HT viết trong KH, đại đế Domitian ra lệnh cho các thành phố lớn phải lập đền thờ để dân chúng đến mà thờ lạy đại đế. Dân chúng phải quỳ lại mà tung hô Domitian là chúa và trời (lord and god). Tín đồ HT từ chối việc thờ lạy đại đế Domitian như chúa và trời. Đây là lý do khiến Domitian ra lệnh bắt bớ, tàn hại tín đồ Chúa tàn nhẫn và hệ thống hơn cuộc bắt bớ thời Nero.
Theo truyền thống thì sứ đồ Giăng cũng bị bắt và tra tấn. Quân lính La-mã bắt Giăng bỏ vào một chảo dầu lớn đang sôi. Nhưng một phép lạ xảy ra: Giăng không hề bị hại trong chảo dầu sôi sục đó. Không giết được Giăng bằng cách tra tấn trong chảo dầu sôi nên đại đế Domitian ra lệnh đày ông ra một hòn đảo hoang vu, hẽo lánh là đảo Bát-mô. Gần 2 năm sau đó khi đại đế Domitian bị ám sát, Nerva lên ngôi đại đế, sứ đồ Giăng được thả tự do. Cũng theo truyền thống sứ đồ Giăng trở lại thành Ê-phê-sô để tiếp tục làm giám mục cho đến chết lúc tuổi già.
MẶC KHẢI VỀ NHỮNG VIỆC SẮP XẢY ĐẾN
Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài đặng đem tỏ ra cùng tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy đến, thì Ngài đã sai thiên sứ đến tỏ những điều đó cho Giăng, tôi tớ Ngài, 2 là kẻ đã rao truyền lời Đức Chúa Trời và chứng cớ của Đức Chúa Jêsus Christ, về mọi điều mình đã thấy. 3 Phước cho kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây. Vì thì giờ đã gần rồi. (1:1-3)
Khải Huyền có nghĩa là cho biết, giải thích những điều huyền nhiệm dấu kín mà mãi đến nay mới được tỏ ra. Dù có nhiều hình ảnh, biểu tượng lạ kỳ, khó hiểu nhưng mục đích của sách không phải để dấu kín những điều ĐCT muốn khải thị. Trái lại mục đích của sách là để cho người đọc, người nghe biết về những điều kíp phải xảy đến (những việc sắp phải xảy ra) vì thì giờ gần đến rồi.
1:1 cho biết tác giả chính của KH là ĐCJC. Từ mặc khải hay mặc thị cũng là từ KH. ĐCJC dùng thiên sứ để tỏ những điều này cho các tôi tớ Ngài, tức những người thuộc về Chúa. Tại sao Chúa lại dùng thiên sứ để khải thị cho Giăng? Để cho biết ĐCJC là ĐCT, Đấng có uy quyền trên các thiên sứ.
Khi xuống thế gian, ĐCJC tự hạ mình xuống như một tôi tớ, tự bỏ quyền hành của Đấng chí cao. Như lời PL viết: Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống (Phi-líp 2:6-8).
Nhưng hình ảnh của Đấng Christ trong KH hoàn toàn khác: Ngài là ĐCT uy quyền, Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa, Đấng có quyền trên các thiên sứ. Khi Chúa còn trên đất, Giăng gần gũi Ngài, trong buổi ăn cuối trên phòng cao, dựa vào ngực Chúa nhưng trong đoạn KT này, thái độ của sứ đồ Giăng hoàn toàn khác biệt khi nhìn thấy Chúa: Vừa thấy người, tôi ngã xuống chân người như chết (KH 1:17)
Trong thư này Giăng cũng xưng mình là tôi tớ Ngài. Chú ý câu 2: là kẻ đã rao truyền lời Đức Chúa Trời và chứng cớ của Đức Chúa Jêsus Christ, về mọi điều mình đã thấy. Câu mọi điều đã thấy cho biết rằng những điều Chúa bày tỏ cho Giăng khi ông được cảm nhận ĐTL gồm rất nhiều hình ảnh.
Có khoảng 44 lần trong sách Giăng dùng câu tôi thấy, trong khi chỉ có khoảng 27 lần ông dùng câu tôi nghe. Từ đoạn 4 trở đi, hầu như mỗi đoạn đều bắt với câu tôi thấy: kế đó tôi nhìn xem (4:1); rồi tôi thấy (5:1); tôi nhìn xem (6:1); sau việc ấy, tôi thấy (7:1); tôi thấy (8:2); thiên sứ thứ năm thổi kèn, tôi thấy (9:1); lúc ấy, tôi thấy (10:1)...
Chi tiết này quan trọng để hiểu thứ tự của những diễn tiến trong KH. Một cách giải thích các diễn tiến về 7 ấn, 7 kèn, 7 bát là theo thứ tự thời gian, có nghĩa là 7 ấn mở ra trước rồi mới đến 7 kèn, 7 kèn thổi ra rồi mới đến 7 bát thịnh nô. Nhưng theo lời Giăng viết thì các diễn tiến như xảy ra theo thứ tự của khải tượng ông thấy, chứ không nhất thiết theo thứ tự thời gian. Chúng ta sẽ trở lại điểm này sau.
Câu 1 và 3 có 2 cụm từ những việc sắp phải xảy ra và thì giờ gần đến rồi. Câu hỏi là sắp xảy ra và thì giờ gần đến có nghĩa gì? Việc sắp xảy ra và thì giờ gần đến liên quan đến tiên tri trong sách Đa-ni-ên. Sách Đa-niên, viết 600 năm trước đó, đã tiên tri về những điều xảy ra trong ngày sau (không phải sau rốt như BTT & BDM nhưng là những ngày tới – BD2011) hay sau này sẽ đến: Ngài đã bày tỏ cho Vua Nê-bu-cát-nê-xa biết những gì sẽ xảy đến trong những ngày tới (2:28 – BD2011) Ðức Chúa Trời vĩ đại trên trời đã bày tỏ cho hoàng thượng những gì sẽ xảy đến về sau nầy (2:45-BD2011). Một học giả (G.K. Beale) giải thích cấu trúc và từ dùng trong 2 câu KT này giống như cấu trúc và từ dùng trong 2 câu KT trong Đa-niên. Giăng thay từ sắp xảy ra và giờ gần đến cho từ trong những ngày sau trong Đ.
Vậy đối với Đa-ni-ên những khải tượng Chúa ban thuộc về những ngày sau chưa xảy ra nhưng với Giăng là những điều đang bắt đầu và sắp xảy ra. Có nghĩa là tiên tri về những ngày sau trong Đa-niên đã bắt đầu ứng nghiệm với sự chết và sống lại của ĐCJC. Đúng như lời chính ĐCJC đã phán khi bắt đầu giảng đạo: Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần (Mác 1:15). Hay trong lời cuối cùng của ĐCJC trong sách KH: Ðấng làm chứng về những điều nầy phán, “Phải, Ta đến mau chóng.
Trong cả 66 sách KT, chỉ có KH là có 1 lời hứa cụ thể cho người đọc, nghe, làm theo. Phước cho kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây. Vì thì giờ đã gần rồi. (1:3) Chú ý người đọc số ít nhưng người nghe lại số nhiều, bời vì trong thời đó không phải mọi tín đồ đều có KT để đọc và có thể đọc được. Đây là 1 trong 7 lời hứa về được phước trong KH. Câu giữ theo điều đã viết đây và vì thì giờ đã gần rồi, cho biết KH không chỉ để người đọc, người nghe có thêm kiến thức về tiên tri, về diễn tiến trong những ngày cuối cùng trước khi Chúa tái lâm, nhưng để làm theo lời dạy vì tiên tri về những ngày sau rốt đang được ứng nghiệm. Chính hy vọng này là nguồn động viên, khích lệ, an ủi lớn nhất cho các tín đồ HT đầu tiên và tín đồ trong bao nhiêu thế hệ khi phải trải qua bắt bớ, hoạn nạn, mất mát vì đức tin trong Chúa.
ALPHA & OMEGA - ĐẤNG LÀM CHỨNG THÀNH TÍN
Giăng gởi cho bảy Hội thánh ở xứ A-si: nguyền xin ân điển và sự bình an ban cho anh em từ nơi Đấng Hiện Có, Đã Có Và Còn Đến, cùng từ nơi bảy vị thần ở trước ngôi Ngài, 5 lại từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng làm chứng thành tín, sanh đầu nhất từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian! (1:4-5)
Câu 1:4 cho biết đối tượng của thư là 7 HT trong xứ A-si. Số 7 là con số rất thường dùng trong KH, 54 lần. Số 7 trong KT tượng trưng cho sự hoàn tất hay trọn vẹn. Như ĐCT sáng tạo trời đất trong 7 ngày. Các thầy tế lễ rảy huyết 7 lần khi làm lễ, 7 ngày dân Chúa đi quanh thành Giê-ri-cô, 7 ngày giữ mình cho sạch khi ô uế; như khi tiên tri Ê-li bảo quan xứ Sy-ria tên Na-a-man nhún mình xuống sông Giô-đanh 7 lần để được chửa lành bệnh phung cùi. Hình ảnh 7 HT tượng trưng cho tất cả HT trong mọi thời đại. 7 vị thần hay thần linh ở trước ngôi ĐCT là biểu tượng của ĐTL. 7 thần linh đây cũng có thể liên hệ đến Ê-sai 11:2: Thần của CHÚA sẽ ngự trên Ngài, Là thần khôn ngoan và hiểu biết, Thần mưu lược và quyền năng, Thần tri thức và kính sợ CHÚA.
Câu 5 dùng 3 hình ảnh để nói đến ĐCJC: 1) Đấng làm chứng thành tín (faithful witness); 2) Đấng đầu tiên sống lại từ kẻ chết; 3) Vua của các vua, Chúa của các chúa. Giăng trích dẫn 3 điều này từ TT 89:27, 37: Lại ta cũng sẽ làm người thành con trưởng nam ta, Vua cao hơn hết các vua trên đất... Ngôi ấy sẽ được lập vững bền mãi mãi như mặt trăng, Như đấng chứng thành tín tại trên trời vậy. Chúa gọi tất cả con dân Ngài làm chứng cách trung tín về Ngài cho những người chưa nghe, chưa biết Chúa. Chính ĐCJC đã làm chứng cách trung tín về ĐCT, về nước Trời cho đến chết.
Danh xưng Đấng đầu tiên sống lại và Chúa các vua đem lại hy vọng và niềm tin rằng dù tình hình thế giới trong mọi thời đại biến đổi như bởi những lãnh tụ quốc gia, những thể chế hay chính quyền, nhưng Đấng thực sự quyết định vận mạng những lãnh tụ đó và lịch sử nhân loại chính là ĐCJC. Hơn nữa sự chết về thể xác không còn là kẻ thù đáng kinh sợ với người tin Chúa vì chúng ta sẽ sống lại với Đấng Christ để được hưởng phước đời đời.
Chúng ta sẽ trở lại câu 7 trong phần kết thúc bài giảng.
Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Hiện Có, Đã Có, Và Còn Đến, là Đấng Toàn năng, phán rằng: Ta là An-pha và Ô-mê-ga. (1:8) Trong 1:8, ĐCJC tự xưng Ngài “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Ðấng Hiện Có, Ðã Có, và Sắp Ðến, là Ðấng Toàn Năng.” An-pha & Ô-mê-ga là 2 mẫu tự đầu tiên & cuối cùng trong tiếng Hy-lạp như A-V trong tiếng Việt. An-pha & Ô-mê-ga tượng trưng cho Đấng hằng có từ đời đời cho đến mãi đời đời, Đấng bắt đầu mọi sự trong lịch sử loài người và cũng là Đấng sẽ kết thúc mọi sự của lịch sử loài người, Đấng thấy & biết từ đầu cho đến cuối của mọi công việc chúng ta làm, của mọi ước muốn, động cơ thầm kín trong lòng mà không ai biết được. An-pha & Ô-mê-ga cũng được gọi Đấng trước hết và là Đấng sau cùng trong câu 17.
ANH EM TRONG HOẠN NẠN
Tôi là Giăng, là anh em và bạn của các anh em về hoạn nạn, về nước, về sự nhịn nhục trong Đức Chúa Jêsus, tôi đã ở trong đảo gọi là Bát-mô, vì cớ lời Đức Chúa Trời và chứng của Đức Chúa Jêsus. (1:9) Giăng tự xưng mình là: anh em và bạn cùng chia sẻ hoạn nạn, cùng hưởng vương quốc, và cùng kiên trì chịu khổ với anh em trong ĐCJC. Chúng ta nhớ Giăng là người sứ đồ Chúa yêu, 1 trong 3 sứ đồ hiện diện khi ĐCJC hóa hình, khi Mô-se & Ê-li hiện ra trò chuyện cùng ĐCJC trên núi. Giăng không hề kiêu ngạo hay lấy làm hảnh diện, lên mình về những điều đó. Trái lại, với sự khiêm nhường và chan hòa tình cảm, ông xưng mình là anh em và bạn cùng chia sẻ hoạn nạn và cùng kiên trì chịu khổ. Từ bạn có nghĩa là người cùng dự phần, người đồng cam cộng khổ trong hoạn nạn, bắt bớ, thử thách. Vì cớ lời Chúa và làm chứng về ĐCJC mà Giăng bị bắt đày đến một hoang đảo nhỏ Bát-mô.
Đây là bài học cho những người lãnh đạo HT, những người hầu việc Chúa. ĐCT giao phó mỗi môn đồ Đấng Christ một trách nhiệm và công việc, dù là lãnh đạo hay tín đồ; chính Chúa sẽ ban thưởng công bình cho mọi người làm công việc Ngài giao phó. Người lãnh đạo HT không thể xem mình ở một tầng lớp riêng biệt, tách rời với anh chị em trong Chúa, vì tất cả đều đồng công, cộng tác cho công việc Chúa.
Trong 3 điều Giăng liệt ra: bạn cùng chia sẻ hoạn nạn, cùng hưởng vương quốc, và cùng kiên trì chịu khổ, tín đồ thường chọn cùng hưởng vương quốc, cùng nhận được phước, bình an, thịnh vượng. Nhưng sứ điệp chính của KH là sẽ có hoạn nạn trong thế gian nên môn đồ ĐCJC phải chia sẻ hoạn nạn, phải cùng kiên trì chịu khổ. Dù đây là một lời dạy không phổ thông nhưng chúng ta không thể đọc KH mà làm ngơ trước lời dạy.
Nhằm ngày của Chúa, tôi được Đức Thánh Linh cảm hóa, nghe đằng sau có tiếng kêu vang, như tiếng loa, 11 rằng: Điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách mà gởi cho bảy Hội Thánh tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê. (1:10-11)
Ngày của Chúa tức ngày đầu tuần, hay Chúa nhật. Có lẽ khi ông đang thờ phượng Chúa trong ngày Chúa nhật như thường lệ thì được ĐTL cảm nhập và nhận được những khải thị từ thiên sứ. Về thể xác Giăng bị giam hãm, tù đày trên một hoang đảo; nhưng về tâm thần ông lên đến tận đền thánh trên trời, mắt tâm linh thấy những cảnh lạ thường mà mắt trần không hề thấy được. Và đây là cũng là một chủ đề chính của KH: nhìn những hoạn nạn, bắt bớ, mất mát dưới mắt tâm linh hướng về nước Trời với đức tin và hy vọng. Một điều vô cùng khó khăn cho tín đồ!
Theo truyền thống sau khi PL bị đại đế Nê-rô chém đầu, sứ đồ Giăng đến thành Ê-phê-sô để làm giám mục cho đến khi ông bị đày sang đảo Bát-mô. Nên khi nghe Chúa thư đầu tiên đến HT tại Ê-phê-sô, có lẽ Giăng rất vui mừng. Đảo Bát-mô cách Ê-phê-sô độ 40-50 miles đường biển. Và 7 thành phố trong danh sách đều cách nhau từ 30-40 miles theo thứ tự từ Ê-phê-sô đến Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê.
Khi Giăng viết KH thì vùng Tiểu Á (A-si) đã có hơn 7 HT tại các thành phố khác nhau. Nhưng 7 thành phố trong danh sách là những địa điểm nổi tiếng và quan trọng nhất trong vùng. CV 19:31 đề cập đến các viên chức lãnh đạo trong vùng A-si. Những viên chức lãnh đạo trong vùng này mỗi năm lần lượt nhóm tại 1 trong 7 thành phố trong danh sách các HT ngoại trừ 1 thành phố tên Cyzicus, xa trên phía bắc của Bẹt-ga-mun mà Giăng thay thế với Thyatira.
ĐẤNG ĐI GIỮA HỘI THÁNH
Tôi xoay người lại xem tiếng nói đã bảo tôi. Vừa xoay lại, tôi thấy bảy giá đèn bằng vàng, 13 và giữa các giá đèn có ai giống như Con Người, mặc áo dài chấm chân, thắt đai vàng ngang ngực, 14 đầu và tóc Ngài trắng như lông chiên, trắng tựa tuyết, mắt Ngài sáng rực như ngọn lửa, 15 hai chân Ngài bóng loáng như đồng luyện trong lò và tiếng Ngài như tiếng nhiều dòng thác. 16 Tay phải Ngài cầm bảy vì sao, miệng Ngài hé lộ một thanh gươm hai lưỡi sắc bén. Mặt Ngài như mặt trời chiếu sáng rực rỡ.(12-16)
7 giá đèn tượng trưng cho 7 HT và Con Người ở giữa các giá đèn là ĐCT ở giữa các HT. Chi tiết về 7 giá đèn bằng vàng và Con Người ở giữa các giá đèn sẽ được giải thích rõ hơn phần tới. Những chi tiết Giăng ghi lại trong đoạn KT này về ĐCJC cũng đã được viết trong Đa-niên 7:9,13; 10:6 và Ê-xê 1:27.
Khi tôi đang nhìn tôi thấy các ngai được đặt vào chỗ; Ðấng Thái Cổ ngồi vào ngai Ngài. Y phục Ngài trắng như tuyết; tóc trên đầu Ngài tựa lông chiên tinh khiết... Kìa, một Ðấng giống như Con Người ngự trên mây trời đến. Ngài đến trước mặt Ðấng Thái Cổ, và được đưa ra trình diện trước Ðấng ấy. 14 Ngài được ban cho quyền trị vì, vinh hiển, và vương quyền, để mọi dân tộc, mọi quốc gia, và mọi ngữ tộc phải phục vụ Ngài. Quyền trị vì của Ngài là quyền trị vì đời đời, không bao giờ dứt; vương quyền của Ngài không bao giờ bị hủy diệt.
Thân hình người ấy như lục bích ngọc, mặt người ấy tỏa rạng hào quang như sét chớp, đôi mắt người ấy như hai đuốc đang rực cháy, hai tay và hai chân người ấy như đồng đánh bóng, và tiếng nói của người ấy như tiếng gào của một đám đông. (10:6)
Danh xưng Con Người (Son of Man) là từ Đ. 7:9. Đây cũng là danh xưng mà chỉ có ĐCJC dùng cho chính Ngài, 81 lần trong 4 sách PA. Hình ảnh áo dài chấm chân, thắt đai vàng ngang ngực cho biết ĐCJC là thầy tế lễ thượng phẩm chỉ dâng của lễ 1 lần để chuộc tội cho mọi người qua sự chết của Ngài. Đầu & tóc trắng như lông chiên, như tuyết tương xứng với danh xưng Đấng Thái Cổ (Thượng Cổ -BTT) trong Đa-niên, tức Đấng từ đời đời, từ trước vô cùng. Mặt sáng rực, chân như đồng, tiếng như thác đổ để nói lên vinh hiển, uy quyền, công chính của ĐCJC.
Thanh gươm hai lưỡi sắc bén từ miệng Chúa tượng trưng cho lời Chúa. Như khi PL viết trong Ê-phê-sô 6:17: cầm gươm của Đức Thánh Linh, là lời Đức Chúa Trời. Hay như sách Hê-bơ-rơ 4:12 Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. D.A. Carson giải thích hai lưỡi có nghĩa là lời Chúa có khả năng để cắt thấu đến hồn linh, cốt tủy nhưng cũng còn có khả năng để chửa lành. Vì nếu chúng ta chỉ dùng lời Chúa trong KT như một vũ khí để tấn công, để chỉ trích tội lỗi, để lên án, buộc tội, thì chưa đủ. Lời Chúa còn đem lại hy vọng, yên ủi, đem lại tình yêu thương, sự tha thứ, hồi phục tâm linh. Tôi hoàn toàn đồng ý với lời giải thích, nhận xét này.
Mặt Ngài như mặt trời chiếu sáng rực rỡ. Một câu chuyện kể trong thế kỷ 2 thời đại đế Trajan. Trajan vấn hỏi một người trưởng lão DT Chỉ cho ta xem ĐCT ngươi thế nào. Lý do là vì điều răn thứ 1 nên dân DT không hề có hình ảnh hay hình tượng gì về ĐCT. Trái lại mọi tôn giáo trong thời đó đều có hình tượng về đấng người ta tôn thờ. Khi bị vấn hỏi phải chỉ cho xem ĐCT, vị trưởng lão đó thưa với đại đế: Thưa đại đế, tôi sẽ chỉ cho Ngài mặt của ĐCT sau khi Ngài nhìn thật lâu, thật rõ 1 trong những sứ giả của ĐCT. Trajan lập tức trả lời: Ta sẵn sàng làm điều đó. Hãy chỉ cho ta sứ giả đó đi rồi sau đó cho ta xem mặt ĐCT ngươi. Vị trưởng lão nói với đại đế Trajan: Vậy thưa Ngài hãy nhìn vào mặt trời!
Không ai có thể nhìn vào mặt trời mà không bị mù mắt. Cũng vậy không ai có thể nhìn mặt ĐCT. Đây là lý do mà sê-pha-rim đứng hầu cạnh ngai ĐCT cũng phải che mặt với 2 cánh như viết trong Ê-sai 6:2: Những sê-ra-phin đứng bên trên Ngài; mỗi sê-ra-phin có sáu cánh, hai cái che mặt, hai cái che chơn và hai cái dùng để bay. Trong đoạn sau của KH chúng ta sẽ thấy cả thiên sứ cũng phải che mặt với cánh trước ĐCT.
Trong KT mỗi khi con người thấy thiên sứ hay vinh quang của ĐCT thì đều kinh hãi, run sợ. Đây cũng là phản ứng của Giăng khi thấy ĐCJC trong khải tượng: Vừa thấy người, tôi ngã xuống chân người như chết. Hình ảnh ĐCJC trong KH là Đấng uy quyền, vinh hiển như hình ảnh ĐCT hiện ra trên núi Si-nai khi Mô-se nhận 10 điều răn đầy vinh hiển đến nỗi dân sự sợ hãi không dám đến gần núi, mà xin Mô-se gặp Chúa cho họ. Lắm lúc chúng ta chỉ nói về ĐCT yêu thương, tha thứ, nhưng quên đi ĐCT trên núi Si-nai, ĐCT như trong KH mà mọi người đều phải cúi đầu quỳ lại, Đấng sẽ phán xét mọi người, ban quyền sự sống hay sự chết cho mọi người, Đấng sẽ cai trị đời đời.
Chúa trấn an và ra lệnh cho ông chép lại những điều đã thấy, hiện có và sẽ đến: nhưng người đặt tay hữu lên trên tôi, mà rằng: Đừng sợ chi, ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng, 18 là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ. 19 Vậy hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy, những việc nay hiện có và những việc sau sẽ đến, 20 tức là sự mầu nhiệm của bảy ngôi sao mà ngươi thấy trong tay hữu ta, và của bảy chân đèn vàng. Bảy ngôi sao là các thiên sứ của bảy Hội thánh, còn bảy chân đèn là bảy Hội thánh vậy. (1:17-20).
Đấng trước hết và sau cùng là cùng 1 ý với 1:8 An-pha & Ô-ma-ga. Đấng cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ cho biết Ngài cai trị cả sự sống và sự chết đời đời, quyết định ai sống, ai chết. Dù thể xác này rồi sẽ chết, vì tuổi già, bệnh tật, vì tai nạn, vì chiến tranh hay vì xử chết như các tín đồ thời Giăng, nhưng ĐCJC có thể mở cánh cửa của sự chết để khiến người chết sống lại đời đời. Vì Ngài là Đấng cầm giữ chìa khóa của sự chết và âm phủ.
Từ mầu nhiệm đây có nghĩa là những điều dấu kín từ xưa đến nay được tiết lộ. Chúa bảo Giăng viết về sự mầu nhiệm của HT Chúa và các thiên sứ của HT. Chúa giải thích cho Giăng về sự mầu nhiệm về 7 vì sao và 7 giá đèn bằng vàng: 7 vì sao là thiên sứ của 7 HT, và 7 giá đèn là 7 HT. Một số học giả giải thích 7 thiên sứ của HT là các trưởng lão hay mục sư của HT. Nhưng tôi tin hình ảnh thiên sứ của HT không phải là trưởng lão hay mục sư nhưng thật là thiên sứ quan phòng HT, để nói lên trận chiến tâm linh vô hình giữa ma quỉ và thiên sứ ĐCT trong HT Chúa.
Trong Ma-thi-ơ 18:10 ĐCJC nói về thiên sứ của các con trẻ: Hãy giữ mình đừng khinh dể một đứa nào trong những đứa trẻ nầy; vì ta bảo các ngươi, các thiên sứ của chúng nó trên trời thường thấy mặt Cha ta, là Đấng ở trên trời. Đa-niên 10:13 cũng viết về cuộc chiến giữa thiên sứ và ma quỉ của các nước: Nhưng thủ lĩnh của vương quốc Ba-tư đã cản trở ta hai mươi mốt ngày. Vì thế Mi-chên, một trong những vị thống soái, đã đến giúp ta, vì ta đã bị bỏ lại đó với các vua Ba-tư. PL viết trong 1 Cô-rin-tô 11:10 về thiên sứ trong HT Bởi đó vì các thiên sứ, phụ nữ nên mang trên đầu một dấu hiệu của uy quyền.
Trong bài giảng trên núi ĐCJC dùng hình ảnh muối của đất và ánh sáng của thế gian để nói về người tin Chúa: Các ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành ở trên núi thì không khi nào bị khuất được: 15 cũng không ai thắp đèn mà để dưới cái thùng, song người ta để trên chân đèn, thì nó soi sáng mọi người ở trong nhà. (Ma-thi-ơ 5:14-15). Nên không ngạc nhiên khi hình ảnh giá đèn tượng trưng cho HT ĐCT trên đất này.
Cũng chú ý một chi tiết quan trọng là ĐCJC đi giữa 7 HT chân đèn, tức 7 HT khác biệt. Nhưng trong tay Chúa, Ngài nắm 7 ngôi sao, tức 7 thiên sứ. ĐCJC hiện diện trong vòng các HT trên đất qua hình ảnh ở giữa, đi giữa 7 chân đèn như lời Chúa hứa khi ban phát ĐML: Ta ở cùng các ngươi cho đến tận thế. Nhưng hình ảnh Chúa nắm giữ 7 ngôi sao trong tay phải cho biết chính Ngài là Đấng gìn giữ HT, có quyền hành ngay trên các thiên sứ quan phòng HT.
Nếu 7 HT này tượng trưng cho toàn thể HT của ĐCT qua suốt các thời đại thì có nghĩa là chính ĐCJC hiện diện trong vòng HT của Ngài bên cạnh thiên sứ của mỗi HT trong suốt các thời đại, từ HT đầu tiên cho đến HT ngày nay và mãi cho đến Chúa trở lại. Chính vì sự bảo vệ của thiên sứ và sự hiện diện của ĐCT mà qua suốt hơn 2000 năm qua, HT của ĐCT vẫn tồn tại khi các đế quốc đều tan biến.
Xa-cha-ri 4:2 viết về khải tượng của một chân đèn bằng vàng với 7 ngọn đèn và giải thích ý nghĩa của 7 ngọn đèn tượng trưng cho mắt ĐCT nhìn khắp cả thế gian. Hình ảnh giá đèn cũng liên hệ trực tiếp đến hình ảnh cây đèn trong đền thờ tạm khi dân sự đi trong đồng vắng, sau đó đặt trong đền thờ thành Giê-ru-sa-lem [hình]. Ngươi cũng hãy làm chân đèn bằng vàng ròng. Cái chân, cái thân, cái đài, cái bầu cùng cái hoa của đèn đều làm bằng vàng đánh giát. 32 Hai bên thân đèn sẽ có sáu nhánh nứt ra, ba nhánh ở bên nầy và ba nhánh ở bên kia. (Xuất 25:31-32). Chú ý 7 nhánh nhưng chỉ có 1 thân. Như các HT Chúa trên đất này, dù riêng rẽ, cách biệt, cũng chỉ có 1 thân là Đấng Christ: Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được. (Jn 15:5)
Trên đất này HT Chúa như riêng rẽ, cách biệt, thậm chí bị hủy diệt (7 HT trong sách KH ngày nay không còn nữa), nhưng trên thiên đàng, nơi đền thánh Chúa thì HT hiệp một, cùng một thân, và sẽ chiến thắng. Vì Chúa nắm giữ HT Ngài nên không một quyền lực nào có thể thắng được, hủy diệt được dù HT có trải qua biết bao nhiêu thử thách, khó khăn từ trong đến ngoài: Ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó. (Ma-thi-ơ 16:18)
Đây là một ý chính yếu và quan trọng trong KH. Sách KH không phải để người đọc, người nghe biết về những sự kiện trong tương lai của lịch sử loài người nhưng về những sự kiện đã, đang và sẽ xảy ra liên quan trực tiếp đến HT Chúa từ khi ĐCJC về trời cho đến khi Chúa trở lại. KH viết về HT Chúa, về tín đồ HT trong suốt các thời đại từ HT đầu tiên cho đến HT khi ĐCJC trở lại. Chính vì lý do này mà KH bắt đầu với 7 lá thư Chúa răn dạy, khen thưởng, cáo trách, động viên, khích lệ 7 HT của Ngài.
Tôi muốn kết thúc bài giảng với KH 1:7 - Kìa, Ngài ngự đến với các đám mây. Mọi mắt sẽ trông thấy Ngài, kể cả những kẻ đã đâm Ngài. Tất cả các dân tộc trên thế giới sẽ than khóc vì Ngài, thật thế, A-men! Trong trí của hầu hết tín đồ là hình ảnh của ĐCJC nhân từ, hiền lành chịu chết cho tội chúng ta; người chăn chiên dịu dàng, yêu thương bầy chiên. Không có gì sai về hình ảnh này cả. Nhưng hình ảnh của ĐCJC trong KH hoàn, toàn khác với hình ảnh người chăn chiên hiền lành. KH 1:7 dựa theo đoạn KTCU trong sách Xa-cha-ri viết gần 600 năm trước khi sứ đồ Giăng được Chúa khải thị viết KH: Ta sẽ đổ Thần Ta xuống nhà Đa-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem, ban cho chúng tấm lòng đau thương khẩn cầu, để khi chúng nhìn xem Ta là Đấng chúng đã đâm, chúng sẽ than khóc Đấng ấy như người ta than khóc đứa con một. Chúng sẽ thương tiếc như người ta thương tiếc đứa con đầu lòng. 11 Ngày ấy, dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ than khóc thảm thiết như người ta than khóc tại Ha-đát Rim-môn ở vùng đồng bằng Mê-ghi-đô. 12 Đất nước sẽ than khóc, từng chi tộc riêng rẽ [sẽ than khóc] (12:10-11)
ĐCJC sẽ trở lại trong sự vinh hiển và uy quyền của Đấng phán xét, cai trị mọi dân trên đất. Kẻ chết sẽ sống lại để ứng hầu trước Chúa, cả những kẻ đã tra tấn, đóng đinh Chúa. Họ sẽ khóc vì ăn năn. Bao nhiêu người cũng sẽ khóc vì đã từ chối tin nhận Chúa. Cả tín đồ cũng sẽ khóc vì hối tiếc đã không trọn lòng, trung tín mà phục vụ Ngài. Nhưng Giăng và những người trung tín với Chúa sẽ hân hoan, nức lòng mừng rỡ như lời ông kết thúc sách KH khi nghe lời Chúa phán Ngài sẽ mau trở lại: Đấng làm chứng cho những điều này phán: "Phải, Ta đến mau chóng!" A-men. Lạy Chúa Giê-su, xin Ngài đến! (KH 22:20)
