Đấng Đầy Ơn và Lẽ Thật: Ân Điển Diệu Kỳ
Sứ điệp GS có thể được tóm tắt trong Giăng 1:14 14 Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha. GS là khi Ngôi Lời đã trở nên xác thịt. GS là một sự kiện lịch sử có thật đã xảy ra 2000 năm trước tại làng Bết-lê-hem khi Giê-xu giáng thế làm người, sinh ra trong chuồng chiên máng cỏ.
Ngôi Lời, ĐCJC là Đấng Sáng Tạo muôn loài, Đấng vô hạn, vô biên, biết tất cả, thấy tất cả, hiểu tất cả dù là trong ý nghĩ thầm kín nhất của con người đã tự hạ mình xuống để trở nên con người thấp hèn dù biết sẽ bị con người từ chối: 10 Ngôi Lời ở thế gian, và thế gian đã làm nên bởi Ngài; nhưng thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài. 11 Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy. (Giăng 1:10-11)
Ở giữa chúng ta có nghĩa là ĐCJC không chỉ xuất hiện trong vài ngày, vài tháng nhưng đã lớn lên, sinh sống trong vòng những người dân dã tầm thường, thấp hèn tại làng Na-xa-rét trong suốt 30 năm dài. ĐCJC không hề sống trong cung điện, xa cách thường dân, nhưng đã sống giữa nhiều người mà Giăng xưng là chúng ta. Ngôi Lời ở thế gian, và thế gian đã làm nên bởi Ngài; nhưng thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài. 11 Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy. (Giăng 1:10-11)
Chúng ta là ai? Là sứ đồ Giăng, người đã viết đoạn KT cùng với các môn đồ khác đã cùng chung sống, đi lại, đã chính mắt thấy, chính tai nghe, tay sờ: 1Nói về lời sự sống, là điều đã có từ ban đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến. 2Sự sống nầy đã được bày tỏ; chúng tôi đã thấy và làm chứng, nên chúng tôi công bố cho anh em sự sống đời đời vốn ở với Đức Chúa Cha, và đã được bày tỏ cho chúng tôi (1 Giăng 1:1-2 - BHĐ)
Giăng viết về ĐCJC, người ông đã nghe, thấy, chiêm ngưỡng, chạm đến là Đấng đầy ơn và lẽ thật. 17 Vì luật pháp đã ban cho bởi Môi-se, còn ơn và lẽ thật bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà đến. 18 Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giãi bày Cha cho chúng ta biết. 1:14-18
Trong mùa Giáng Sinh, hài nhi Giê-xu giáng sinh được gọi bằng nhiều danh xưng: Đấng Mưu Luận, Đấng Lạ Lùng, Cha đời đời, Chúa bình an, Ê-ma-nu-ên (Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta), Đấng chăn nhân lành, Vua muôn vua, Chúa muôn chúa. Trong Giăng 1, Giê-xu còn được gọi là Ngôi Lời, Sự sáng thế gian. Và một tên gọi quan trọng nhất cho biết rõ phẩm tính của Giê-xu: Đấng đầy ơn và lẽ thật.
NGÔI LỜI GIÁNG SINH LÀ LẼ THẬT
Nhiều người nói rằng điều quan trọng nhất của niềm tin là có đem lại lợi ích cho tôi, cho đời sống tôi hay không. Giáng sinh quan trọng và ý nghĩa không phải vì GS có thật, là vì Ngôi Hai Đức Chúa Trời đã xuống trần làm người sinh ra trong chuồng chiên máng cỏ thấp hèn, tối tăm, hôi hám. Không phải Chúa có sống trong vòng con người và được các môn đồ làm chứng hay không. Nhưng quan trọng, ý nghĩa vì mùa GS đem lại niềm vui, hy vọng, bình an cho tâm hồn cho chính tôi và cho thế giới.
Đây là quan điểm của rất nhiều người cả tín đồ. Dù Giê-xu có thật sự giáng sinh 2000 năm trước hay không thì cũng không quan trọng. Quan trọng là tin vào GS có đem lại phúc lợi cho tôi hay không. Đây là một suy nghĩ, quan điểm hết sức sai lầm, thậm chí nguy hiểm. Niềm tin này không đến từ KT hay ĐCT nhưng từ thế gian, từ ma quỉ, từ xác thịt. Niềm tin này có thể áp dụng với các tôn giáo, triết lý khác nhưng không thể với đạo Chúa. Tại sao?
Bởi vì nếu ĐCJC không có thật, không thật sinh ra 2000 năm trước đây, nếu lời dạy của Chúa trong KT chỉ là những bài học hay, bài học tốt cho đời, đem lại niềm tin, hy vọng, bình an thì như PL viết nếu sự sống lại không thật: điều tôi giảng dạy cho qv đều hoàn toàn giả dối, đức tin của qv cũng vô ích, qv vẫn còn trong tội mình (không được sự sống đời đời), và trong tất cả mọi người qv là những người đáng thương hại hơn hết. 19Nếu hi vọng của chúng ta trong Đấng Christ chỉ hướng về cuộc sống nầy mà thôi, thì trong tất cả mọi người, chúng ta là những người thảm hại hơn hết. (1 Cô-rinh-tô 15:19)
Đây là lý do trong các danh xưng, tên gọi của ĐCJC, danh xưng Đấng đầy ơn và lẽ thật quan trọng hơn hết. Vì chính Chúa tự nhận Ta là đường đi, là lẽ thật, là sự sống; Ta là nước hằng sống ai tin Ta sẽ không bao giờ khát; Ta là sự sống, và là sự sống lại, ai tin Ta sẽ sống dù đã chết rồi; Ai thấy Ta là thấy ĐCT; ai biết Ta là biết ĐCT; ai tin Ta sẽ được sự sống đời đời.
Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. 7 Ví bằng các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta; và từ bây giờ các ngươi biết và đã thấy Ngài. (Giăng 14:6-7)
ĐỪNG HIỂU LẦM LẼ THẬT
ĐCJC, con trẻ giáng sinh là Đấng đầy ơn và lẽ thật: Ơn hay ân điển và lẽ thật như hai mặt của một đồng tiền. Lẽ thật không chưa đủ, phải cần ân điển. Lẽ thật không có ân điển trở nên tàn nhẫn, có thể dùng như một vũ khí để tấn công, để hạ nhục. Tánh tôi là vậy đó, thấy sao nói vậy, ai hiểu sao thì hiểu, ai buồn cũng ráng chịu! Ân điển không có lẽ thật chỉ là giả dối, chỉ là đem lại hy vọng giả tạo, mơ mộng hão huyền rồi sẽ tan vỡ khi đối diện với sự thật phủ phàng của đời sống. Tin Chúa đi rồi Chúa sẽ ban phước. Cầu xin điều gì Chúa cũng ban cho: sức khỏe, giàu có, thành công.
Tôi đã giải thích về lẽ thật là gì trong bài giảng trước nên sẽ không lập lại, chỉ một vài điều quan trọng và cần thiết khi tìm hiểu về ân điển diệu kỳ của Chúa ban cho trong mùa GS này. Khi một người chân thành nói lên điều họ tin là sự thật thì không có nghĩa điều họ nói, điều họ tin là lẽ thật. Nói ra với tất cả lòng thành không có nghĩa là lời nói ra là lẽ thật. Tin với tất cả lòng thành không có nghĩa là điều mình tin là lẽ thật.
KT Giăng 1:45-51 ghi lại câu chuyện về cuộc gặp gỡ và kêu gọi theo Ngài với các môn đồ đầu tiên là Si-môn Phie-rơ, Phi-líp và Na-tha-na-ên. Đức Chúa Jêsus thấy Na-tha-na-ên đến với Ngài thì nói về ông rằng: “Đây là một người Y-sơ-ra-ên thật, trong người không có điều dối trá.” (Giăng 1:47). Khi ĐCJC nhận xét rằng N. là người thật, không có gì dối trá trong lòng thì không có nghĩa là mọi điều N. nói ra điều là thật. Lòng thành thật, lời nói thành thật nhưng lời nói đó không hẳn là lẽ thật.
Khi Phie-rơ nghe ĐCJC nói với các môn đồ rằng Ngài sẽ bị phản, bị bắt, chịu xử rồi chịu đóng đinh trên thập giá cho đến chết, ông nói với ĐCJC rằng: nỡ nào ĐCT lại làm điều này, để cho những điều độc ác này xảy ra cho một người hoàn toàn không hề có tội. Phi-e-rơ bèn đem Ngài riêng ra, mà can rằng: Hỡi Chúa, Đức Chúa Trời nào nỡ vậy! Sự đó sẽ không xảy đến cho Chúa đâu! 23 Nhưng Ngài xây mặt lại mà phán cùng Phi-e-rơ rằng: Ớ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi làm gương xấu cho ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta. (Ma-thi-ơ 16:22-23)
ĐCJC dạy rất rõ: ngày giờ Chúa trở lại không ai biết được, ngoại trừ ĐCCha. Trong lịch sử đạo Chúa mãi đến hôm nay vẫn còn nhiều người tin Chúa sẽ trở vào ngày tháng này. Họ tin cách chân thành, nói ra với tấm lòng thành nhưng điều họ nói không phải là lẽ thật. Vì vậy chỉ có một lẽ thật, một con đường duy nhất để được cứu tội, được lên thiên đàng là ăn năn tội, xin tha thứ và đặt trọn niềm tin vào ĐCJC. Vì vậy GS là một sự kiện lịch sử có thật đã xảy ra 2000 năm trước đây; thật sự là Ngôi Hai đã giáng thế làm người, sinh ra trong chuồng chiên máng cỏ tại làng Bết-lê-hem.
LẼ THẬT CẦN ÂN ĐIỂN - ÂN ĐIỂN LÀ GÌ?
Từ ân điển (charis) trong KTTU có nghĩa là sự làm ơn, món quà tặng, sự tử tế, lòng nhân từ, hiền hòa mà người nhận không xứng đáng được nhận. Giải thích rõ hơn: Ân điển là món quà tặng ĐCT ban cho cách tự nguyện, dồi dào mà người nhận không xứng đáng nhận, để đem lại sự cứu rỗi và sự thay đổi đời sống. Ân điển là sự ban cho mà chúng ta không đáng nhận lãnh hay không bao giờ có thể trả hết được. Ân điển còn được gọi là đặc ân, ân trạch, ân huệ. Ba điều chính yếu và quan trọng theo định nghĩa này:
1) Ân điển là quà tặng từ ĐCT. Vì là quà nên người nhận không có chút gì công sức trong đó cả nhưng hoàn toàn đến từ ĐCT. 2) người nhận không xứng đáng để nhận. 3) vì đem lại sứ cứu rỗi nên ân điển dù không tốn gì cho người nhận nhưng tốn ĐCT vô cùng: Giáng sinh + thương khó (sỉ nhục, nhổ trên người, Cha từ bỏ lúc cuối đời) + chết trên thập giá.
Vì ba điều này nên sự cứu rỗi cho con người có tội hoàn toàn bởi ân điển, không bởi việc làm, đạo đức, công sức con người. Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình (Ê-phê-sô 2:8-9)
Bởi vì nếu bởi việc làm của con người thì sự cứu rỗi không thể gọi là món quà; sự cứu rỗi sẽ tùy thuộc vào sự cố gắng, nổ lực của con người. Nếu xứng đáng được nhận, chúng ta không thể gọi là ân điển hay ân huệ. Một chiến sĩ can trường xã thân cho quê hương trong thời giặc giả xứng đáng được nhận huy chương khen tặng. Huy chương ấy không thể gọi là ân điển. Hằng ngày chúng ta làm việc để kiếm sống. Tiền lương nhận được từ công việc cũng không thể gọi là ân điển. Nhưng nếu một phạm nhân gây ra các tội ác tầy trời, được tha bổng trước khi hoàn tất bản án chung thân như tổng thống HK ân xá người có tội, đó mới là ân điển. Ân điển là Mẹ nuôi dưỡng con mới sinh chịu hy sinh đời mình cho phúc lợi của con dù nó chỉ biết khóc, đòi hỏi, hoàn toàn không làm được một điều gì, dù là điều nhỏ nhất cho mẹ. Công ơn dưỡng dục sinh thành, sự hy sinh vô bờ bến của cha mẹ, ông bà đối với chúng ta cũng có thể gọi là ân điển vì biết đến khi nào chúng ta mới trả hết được.
Vậy nếu ân điển là sự ban cho mà chúng ta không đáng nhận hay không thể trả nổi, chúng ta chẳng thể khoe khoang, tự hào về thành tích hay công sức của mình khi được ân điển. Người nhận ân điển mang lòng biết ơn sâu sắc và luôn ghi nhớ về món quà đặc biệt mà mình nhận được.
KT dạy có 2 loại ân điển: ân điển chung cho mọi người, dù là người không tin Chúa và ân điển đặc biệt chỉ cho người tin vào ĐCJC. Ân điển chung gồm sắc đẹp, thông minh, tài giỏi, óc sáng tạo cho mọi người, dù không tin Chúa. Ân điển đặc biệt như sự cứu rỗi, tha thứ tội, được nhận làm con ĐCT, sự ban cho ĐTL trong đời sống.
Ân điển khác với luật pháp. Luật pháp không thiên vị, theo khuôn khổ, đen trắng phân minh. Luật pháp xử người theo lý trí, lẽ thật. Ân điển là tiếng của con tim, của tình cảm. Dưới mắt luật pháp, cá nhân chỉ là một đối tượng để xét xử, buộc tội; dưới mắt ân điển, cá nhân là một con người bằng xương thịt đáng yêu thương, tha thứ. Luật pháp xử phạt, ân điển dung xóa.
Một xã hội không luật pháp là một xã hội bất an, mất trật tự, kỹ cương. Nhưng thiếu ân điển, xã hội ấy sẽ trở nên khắc nghiệt, vô nhân đạo và chỉ thích hợp cho người máy không tình cảm. Ân điển và luật pháp phải quân bình. Theo lý trí, chúng ta đòi hỏi luật pháp phải phân chính, công minh nhưng với con tim, chúng ta thèm khát sự dung thứ ngọt ngào của ân điển.
THỂ HIỆN VÀ VÀI VÍ DỤ VỀ ÂN ĐIỂN
Ân điển thể hiện, bày tỏ cụ thể, rõ ràng nhất trong ĐCJC, Đấng đầy ơn và lẽ thật. Thể hiện qua lời nói, thái độ, hành động, các cư xử với những người chung quanh. Dù là người hoàn toàn công chính, không hề phạm tội nhưng Chúa yêu thương, kiên nhẫn, nhân từ với những người có tội, đặc biệt là đối với phụ nữ, trẻ em, người góa bụa và người có tội và biết mình có tội. Như đối với người đàn bà xấu nết đến khóc, đổ thuốc thơm lên chân, rồi lấy tóc lau chân Ngài; người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình.
Ân điển trong ĐCJC thể hiện qua sự giáng sinh nơi thấp hèn, lớn lên tại Na-xa-rét, sống trong vòng những người dân dã lao động, tầm thường; sống trong vòng con người tội lỗi, điêu ngoa, lừa dối, thủ đoạn để cảm thông cho tầng lớp thấp hèn nhất trong xã hội. Thể hiện qua các phép lạ chửa bệnh – không một người bệnh nào gặp Chúa lại không được chửa lành.
Thể hiện qua sự khiêm nhường: Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. (Phi-líp 2:6-8)
Thể hiện qua lòng nhân từ, thương xót, trước khi người phạm tội thay đổi: 10Đức Chúa Jêsus ngước lên nói với người phụ nữ: “Nầy chị kia, họ đâu cả rồi? Không ai kết án chị sao?” 11Người phụ nữ đáp: “Thưa Chúa, không ai cả.” Đức Chúa Jêsus phán: “Ta cũng không kết án chị đâu; hãy đi, đừng phạm tội nữa.” (Giăng 8:10-11)
Không chỉ trong KTTU nhưng cả CỰU ƯỚC:
1. Sau khi A-đam, E-va phạm tội, chính ĐCT hứa sẽ có chương trình cứu rỗi và chính ĐCT may quần áo cho họ bằng da thú. Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam, và mặc lấy cho. (STK 3:21). Chính ĐCT mặc cho họ!
2. Chúa chọn Gia-cốp thay vì Ê-sau. ĐCT chọn dân Ỵ 7 Đức Giê-hô-va tríu mến và chọn lấy các ngươi, chẳng phải vì các ngươi đông hơn mọi dân khác đâu; thật số các ngươi là ít hơn những dân khác. 8 Nhưng ấy vì Đức Giê-hô-va thương yêu các ngươi, và giữ lời thề mà Ngài đã lập cùng tổ phụ các ngươi (PT 7:7-8). Tại sao Chúa chọn dân cứng cổ, mau trách móc, đổ lỗi, may phản nghịch (con bò vàng)? Vì yêu thương họ. Tại sao Chúa lại yêu thương dân này? Vì Chúa yêu họ!
3. Đám mây, trụ lửa trong đồng vắng, bánh, thịt, nước
4. Sách Quan Xét – 12 quan xét trong thời gian ~200 năm để dạy cho họ ăn năn.
Ân điển thể hiện trong KTTU:
PA Giăng có ghi lại 2 câu chuyện, 2 cuộc gặp gỡ của Chúa với 2 người hoàn toàn khác nhau. 2 câu chuyện cho thấy sự quân bình giữa lẽ thật và ân điển.
Giăng 3 – về cuộc gặp gỡ với Ni-cô-đem trong đêm. N. là thành viên tòa công luận, người nam, người Pha-ra-si, học thức, giàu có, quyền thế. Am hiểu tường tận luật pháp, người rất đạo đức, được mọi người kính trọng.
3Ðức Chúa Jesus trả lời và nói với ông, “Quả thật, quả thật, Ta nói với ngươi, nếu một người chẳng được sinh lại, người ấy không thể thấy vương quốc Ðức Chúa Trời.”… 10Ðức Chúa Jesus trả lời và nói với ông, “Ngươi là giáo sư của dân I-sơ-ra-ên mà không biết những điều ấy sao? (Giăng 3:3, 10)
Giăng 4 – cuộc gặp gỡ với người phụ nữ Sa-ma-ri. Lời chứng của người phụ nữ không giá trị trước tòa án. Sa-ma-ri là người dân lai, bị khinh dễ bởi người DT. Không học thức, bị người đồng xứ khinh dễ vì thiếu đạo đức.
7Một bà người Sa-ma-ri đi ra lấy nước. Ðức Chúa Jesus nói với bà, “Xin cho Ta uống ít nước.” 8Lúc đó các môn đồ Ngài đã vào trong thành để mua thức ăn. (Giăng 4:7-8)
9Người đàn bà Sa-ma-ri trả lời Ngài, “Làm sao ông, một người Do-thái, lại hỏi tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, để xin nước uống?” (Số là người Do-thái không giao thiệp với người Sa-ma-ri). 10Ðức Chúa Jesus trả lời và nói với bà, “Nếu bà biết tặng phẩm của Ðức Chúa Trời và biết người nói với bà, ‘Xin cho Ta uống ít nước’ là ai, có lẽ bà sẽ hỏi Người ấy, và Người ấy sẽ cho bà nước hằng sống.” (Giăng 4:9-10)
Qv có thể nghĩ thái độ, cư xử của ĐCJC với người phụ nữ Sa-ma-ri và tất cả các phụ nữ Ngài gặp ghi lại trong 4 PA từ 18-22 người không có gì đặc biệt để làm ví dụ về ân điển. Các thầy dạy KT (rabbi) tránh gặp và trò chuyện với phụ nữ nơi công cộng. Xem thấp giá trị, vai trò của phụ nữ trong xã hội. “He who teaches his daughter Torah teaches her folly” (m. Sotah 3:4) Daily prayers thanking God for not being born a woman (later standardized)
Ví dụ tương phản với hồi giáo khi buộc phụ nữ phải mặt áo trùm từ đầu đến chân chỉ để lộ 2 mắt: nếu sư tử thấy thịt người khác để bên ngoài nên ăn thì lỗi tại ai? Tại sư tử hay tại người để thịt?
Ân điển Giáng Sinh: 12Nhưng hễ ai tin nhận Ngài, tức những ai tin vào danh Ngài, Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời. 13Ðó là những người được sinh ra không bởi huyết thống, không bởi dục vọng xác thịt, không bởi ý người, nhưng bởi Ðức Chúa Trời. (Giăng 1:12-13 – BD2011)
Một phú hộ có hai người con trai. Ngày nọ, người con thứ bảo với cha chia phần gia tài cho cậu. Ít ngày sau khi nhận lấy hết phần gia tài từ cha, người con thứ bỏ nhà ra đi đến một phương xa. — đó, cậu ăn chơi hoang đàng, tiêu sạch gia tài mình. Khi đã hết của cải, bè bạn xa lánh ruồng bỏ. Đồng thời trong xứ có một nạn đói lớn, người con thứ trở nên nghèo thiếu phải đi làm mướn, làm nghề chăn heo ngoài đồng, cho một người bổn xứ. Khi chăn heo, cậu đói quá đến nỗi muốn lấy vỏ đậu heo ăn mà ăn cho no nhưng chẳng ai cho.
Khi đó cậu tỉnh ngộ mà nhớ lại rằng trong nhà cha mình ngay người đầy tớ cũng đầy đủ thức ăn. Cậu quyết định trở về và tự nhủ khi gặp cha sẽ xưng nhận tội rằng: “Thưa cha, con đã đặng tội với trời và với cha, không đáng gọi là con của cha nữa; xin cha đãi con như người làm mướn của cha vậy”. Rồi cậu trở về cùng cha mình.
Từ lúc con ra đi, người cha ngày ngày luôn trông ngóng, mong đợi con mình trở về. Ngày người con thứ trở về, người cha thấy bóng dáng con từ đàng xa thì chạy vội ra ôm lấy con mà hôn. Cha lại bảo đầy tớ lấy áo tốt nhất cho con mặc, lấy nhẫn đeo vào tay, mang giày vào chân. Lại bảo bắt bò con mập làm thịt thết đãi, mướn người đàn ca hát xướng, mở tiệc linh đinh để mừng đứa con hoang đàng tưởng đã chết nay lại sống trở về (theo Lu-ca 15:11-31).
Câu chuyện trên là một ví dụ sâu sắc về ân điển của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Như người con thứ trác táng, hoang đàng, bội nghịch, loài người chúng ta cũng mang đầy tội lỗi, cố ý bất tuân Thượng Đế, đáng bị trừng phạt. Nhưng cánh tay từ ái của Cha Trên Trời vẫn mở rộng, chờ đón ngày chúng ta trở về. Ngày trở về, không những tội lỗi con được xóa bỏ nhưng trọn quyền làm con còn được hồi phục.
Theo luật pháp tuyệt đối của Thượng Đế, chúng ta đều mắc tội và đáng bị trừng phạt. Ai có thể vỗ ngực tự hào giữ trọn luật pháp của loài người hay sự nhắc nhở của lương tâm? Huống chi luật pháp tuyệt đối của một Thượng Đế toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ. Chúng ta có thể chạy thoát lưới luật pháp con người nhưng lưới Trời lồng lộng làm sao chúng ta đào tẩu.
Duy bởi ân điển chúng ta được Đức Chúa Trời tha thứ và nhận làm con trai, con gái của Ngài. Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. „y chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình (Ê-phê-sô 2:9).
Hơn thế nữa, ân điển của Đức Chúa Trời đối với loài người chúng ta tốn Ngài một giá rất đắt: chính mạng sống của Chúa Giê-Xu Christ trên cây thập tự. Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là ngưòi có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết (Rô-ma 5:8). Ân điển là khi tôi và quý vị còn là người có tội (chứ không phải đã là người hết tội hay đang là người bớt tội!), thì Chúa hy sinh chính thân Ngài để cứu chúng ta. Có giá gì trả cho hết; có công đức nào xứng với ân điển ấy
