Có Chúa Ở Cùng
Tôi xin được hỏi bao nhiêu quý vị hiện diện đây nhận được quà giáng sinh năm qua? Bao nhiêu quý vị còn nhớ quà đó là gì? Bao nhiêu còn giữ cho đến hôm nay? Tất cả chúng ta đều thích nhận quà. Từ nhỏ đến nay mỗi người đã nhận biết bao nhiêu món quà. Có món đặc biệt chúng ta nhớ hoài. Nhưng cũng có nhiều món nhận được thì vui lắm nhưng vài ba ngày lại quên đi. Hồi còn nhỏ có ai đó cho tôi một cây súng giả bằng mủ với bán súng như mạ bạc. Tôi thích lắm và để súng ở gối nằm khi đi ngủ. Rồi thình lình một ngày cây súng quí báu của tôi biến mất, như mọc cánh mà bay đi! Tôi bỏ biết bao nhiêu thì giờ để tìm nhưng cũng không được. Không phải món quà nào, dù là vật quý báu nhất, cũng giữ được hoài, cũng còn từ năm này sang năm khác.
Giáng Sinh nhắc chúng ta về món quà vô giá mà Đức Chúa Trời đã ban cho loài người. Món quà đó là Ê-ma-nu-ên, có nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Đức Chúa Jê-sus Christ đã giáng sinh để ở cùng loài người chúng ta. Dù hai ngàn năm đã trôi qua, mọi người vẫn còn nhớ đến quà này. Và chúng ta chắc rằng hai ngàn năm tới nữa mọi người cũng sẽ còn nhớ. Buổi tối nay tôi muốn giải thích với quý vị về một điều kiện để có thể nhận được món quà mầu nhiệm này từ Thiên Chúa.
Trước khi giải thích về điều kiện để được Đức Chúa Trời ở cùng, tôi xin kể lại về bối cảnh của câu chuyện Chúa Jê-sus giáng sinh. Hơn 700 năm trước khi Jê-sus giáng sinh, một vị quan tên Ê-sai đã tiên đoán về sự ra đời của một đấng cứu rỗi. Theo lời Ê-sai, đấng cứu rỗi này không phải là vị tướng tài giỏi, hay một vị vua anh minh nhưng là Ê-ma-nu-ên, có nghĩa là chính Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Từ ở cùng đây cũng đồng một nghĩa với sinh sống với hay sinh sống trong vòng. Từ ở này không phải như chỉ ở trong sự suy nghĩ, trong trí tưởng mà là sự hiện diện mà mắt có thể thấy, tai có thể nghe, tay có thể sờ được. Như tôi và quý vị đang cùng hiện diện trong thánh đường này; chúng ta đang ở cùng trong ngôi thánh đường này.
300 năm trước khi Đức Chúa Jê-sus giáng sinh là một thời gian mà Đức Chúa Trời dường như im tiếng. Cũng trong thời kỳ này, La Mã trở nên một đế quốc vĩ đại nhất, hùng mạnh trong lịch sử nhân loại cho đến thời bấy giờ. Đến nỗi cho đến hôm nay chúng ta vẫn còn nghe câu nói: Đường nào cũng dẫn đến La Mã. Một ngày đại đế La Mã là Sê-sa Au-gút-tơ, là chúa của cả thế gian, có quyền hành trên hàng mấy triệu dân gồm cả dân Do Thái, ra lệnh cho toàn cả đế quốc phải kiểm tra dân số. Ngày đó đại đế Sê-sa cũng được người ta xem là trời; cũng như vua Trung hoa được gọi là "thiên tử " hay con trời. Lệnh thiên tử ban ra từ trung tâm của thế giới là thành La Mã thì cả thiên hạ đều phải tuân phục!
Xứ Do Thái hay Y-sơ-ra-ên lúc bấy giờ là một thuộc địa của đế quốc La Mã. Cách La Mã mấy ngàn dặm về phía bắc của xứ Do Thái là một vùng quê mùa, lạc hậu có tên là Ga-li-lê. Tại vùng Ga-li-lê có một ngôi làng nhỏ tên Na-xa-rét. Làng Na-xa-rét tầm thường đến nỗi khi nghe đến có người chế diễu rằng có gì tốt, có gì hay từ làng đó mà ra! Sinh sống trong làng nhỏ quê mùa đó là một thiếu nữ tên Ma-ri. Ma-ri đã hứa hôn cùng một thanh niên tên Giô-sép, một người thợ mộc tầm thường. Nhưng trước khi hai người lấy nhau một sự việc lạ lùng đã xảy ra. Một thiên sứ hiện ra cùng Ma-ri, bảo với cô rằng cô sẽ có thai bởi Đức Thánh Linh. Một thiếu nữ đang hứa hôn mà thình lình mang thai thì thật là một điều tai tiếng. Chắc rằng cả làng nhỏ Na-xa-rét đều to nhỏ, xầm xì, biết đâu chừng có người mắng xéo ra mặt "con gái hư thân mất nết, chưa chồng mà đã chửa hoang!" Khi Giô-sép biết tin Ma-ri có thai, vì là người có nghĩa nên định âm thầm từ hôn rồi rứt bỏ với Ma-ri. Nhưng thiên sứ lại hiện ra cùng Giô-sép và bảo với ông đừng sợ mà hãy lấy Ma-ri làm vợ.
Đang lúc đó thì lệnh kiểm tra dân số của đại đế La-mã Augustus ban ra. Giô-sép thuộc dòng Đa-vít, quê quán ở làng Bết-lê-hem, một làng nhỏ cách thành lớn Jê-ru-sa-lêm 5 dặm phía Nam xứ Do Thái. Vì vậy nên ông và vợ là Ma-ri phải lặn lội từ làng Na-xa-rét về làng Bết-lê-hem. Chính tại ngôi làng nhỏ Bết-lê-hem đó mà Jê-sus Christ hạ sinh, ứng nghiệm lời tiên tri Ê-sai viết 700 năm trước đó về Ê-ma-nu-ên, Đức Chúa Trời sinh sống, hiện diện trong vòng loài người.
Nếu có dịp xem lại các thiệp giáng sinh đã nhận năm nay hay nhiều năm qua, chắc rằng quý vị sẽ nhận thấy cảnh của Mari, Giô-sép, các mục đồng, ba vua quây quần chung quanh hài nhi Jêsus nằm trong máng cỏ. Hay cảnh các thiên sứ với hào quang sáng rực trên trời cao, hay trên máng cỏ. Cảnh nào cũng như cảnh ấy, đều có vẻ êm đềm, bình an. Gương mặt của Mari, Giô-sép trên các thiệp, các hình này đều phản ánh một sự bình thản, vui thoả, không hề có một chút kinh ngạc, lo âu hay sợ hãi. Trong hình, dường như họ hiểu rất rõ rằng hài nhi Jê-sus là Cứu Tinh nhân loại, là Ê-ma-nu-ên, Đức Chúa Trời ở cùng loài người. Tuy nhiên, nếu chúng ta đọc trong hai sách Phúc Âm của Kinh Thánh Tân Ước là Ma-thi-ơ và Lu-ca, thì sự việc không xảy ra như trong các thiệp giáng sinh.
Tất cả các nhân vật trong câu chuyện giáng sinh đều có sự lo âu, sợ hãi ngay khi họ nghe được tiếng phán của Thượng Đế. Giô-sép lo lắng về việc Ma-ri chịu thai bởi Đức Thánh Linh trước ngày cưới, về tiếng chê cười của gia đình khi lấy một cô gái không còn trinh tiết làm vợ. Đến nỗi thiên sứ của Đức Chúa Trời phải hiện ra và bảo với ông đừng lo sợ mà hãy lấy Ma-ri làm vợ. Ma-ri lo sợ về bầu thai mình đang mang; không biết tiếng đồn thị phị, lời xì xầm dị nghị từ bà con, làng xóm thế nào về mình, về chồng, về tương lai của con trẻ đang cưu mang. Ngay cả những người chăn chiên ngoài đồng đang thức đêm canh giữ bầy chiên khi được thiên sứ báo tin về Jê-sus hạ sinh thì Kinh Thánh qua lời của một bác sĩ tên Lu-ca cho biết rằng họ rất sợ hãi. Và lời đầu tiên thiên sứ phán cùng họ là “đừng sợ chi”.
Đức Chúa Trời không đòi hỏi chúng ta phải có đức tin cao như núi, rộng như sông khi đến với Ngài để được Chúa ở cùng. Chúa biết tình cảnh của mỗi quý vị ngay giờ phút này. Chúa biết mọi nỗi lo lắng, tâm trang hoang mang của quý vị như Chúa biết và cảm thông với nỗi lòng của Mari, Giô-sép, với những người chăn chiên nghèo khó khi Jêsus hạ sinh. Ngài phán với tất cả chúng ta qua lời thiên sứ: "Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một tin lành", một tin vui mừng, một tin hy vọng. Dù ngay trong giờ phút này quý vị có lo lắng, lưỡng lự, có tâm trạng hoang mang hay những nỗi lo âu, sợ hãi, thì tất cả đều có thể đến với Đức Chúa Trời để được nhận món quà vô giá, để được Chúa ở cùng với mình. Điều kiện để một người được Chúa ở cùng không phải là họ cần có đức tin mãnh liệt, dời sông đổi núi! Theo lời Kinh Thánh, điều kiện để được Chúa ở cùng rất đơn giản nhưng chỉ mỗi mình quý vị mới có thể làm được. Điều kiện đó là chính quý vị phải có chỗ cho Chúa trong cuộc đời mình. Phải có chỗ trong cuộc đời của mình thì mới có thể có Ê-ma-nu-ên, mới có thể được Đức Chúa Trời ở cùng mình.
Khi Jê-sus sinh ra, vợ chồng Ma-ri và Giô-sép phải rời làng Naxarét là nơi đang sinh sống để đến làng Bết-lê-hem gần thành Jêrusalem, bởi vì đại đế La Mã ra lệnh kiểm tra dân số cho cả xứ. Mọi người đều phải về quê hương của cha ông mình để lập lại sổ dân. Hai làng Bết-lê-hem và Na-xa-rét cách nhau độ 80 miles. Hôm nay chạy bằng xe trên đường xa lộ chỉ tốn độ gần hai tiếng đồng hồ. Nhưng ngày xưa khi phải đi bộ, bằng lừa thì phải mất hai hay ba ngày đường, đặc biệt khi Ma-ri đang mang thai và sắp đến ngày sanh nở. Khi đến Bết-lê-hem, thì ngôi làng nhỏ này không còn đủ phòng quán cho những người từ phương xa trở về theo lệnh kiểm tra dân số. Theo lời viết trong Kinh Thánh của bác sĩ Lu-ca: "Đang khi hai người ở nơi đó [Mari và Giô-sét ở thành Bết-lê-hem], thì ngày sanh đẻ của Ma-ri đã đến. Người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chỗ ở".
Ma-ri không có thì giờ để dưỡng sức sau mấy ngày vất vả trên đường trước khi sanh con. Cũng khó mà tin rằng khi Ma-ri sinh nở thì Giô-sép đứng cạnh vợ mình mà động viên, an ủi. Việc sinh con ở vùng Trung Đông cũng giống như Á Châu ta là một kinh nghiệm khó nhọc và cô đơn cho các bà. Ngày xưa, các bà đến ngày sanh nở phải tự kêu xe taxi, xe xích-lô đến nhà rồi tự mình đi sanh con. Người Việt ta có câu: Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình là như vậy. Khi sanh Jê-sus, Mari không có được một phòng riêng nơi nhà trọ, mà phải sanh con đầu lòng nơi chuồng chiên, máng cỏ. Đau về thể xác đã đành nhưng chắc rằng Ma-ri còn mang một nỗi đau khác nữa trong lòng vì tủi hổ cho thân mình, chua xót cho con mình. Cũng có thể bà tự hỏi rằng tại sao thiên sứ báo tin con trẻ này là Ê-ma-nu-ên, là Đấng Cứu Rỗi cho nhân loại mà lại phải hạ sinh nơi chuồng chiên, máng cỏ thấp hèn này?
Nhìn các thiệp giáng sinh, chuồng chiên máng cỏ như có vẻ thơ mộng với những con thú rất dễ thương. Nhưng đây chỉ là một hình ảnh thi vị hoá bởi những người vẽ thiệp. Chuồng chiên máng cỏ là nơi dành cho súc vật; nơi tối tăm, ẩm thắp, hôi hám, hèn hạ. Chẳng có gì là thơ mộng, cũng không có gì là đẹp đẻ, dễ thương cả! Không một người mẹ nào lại muốn sinh con mình ra trong nơi máng cỏ, chuồng chiên, đặc biệt là con trai đầu lòng. Vậy đó mà Con Trời đã hạ sinh giữa vòng loài người chúng ta trong nơi chuồng chiên máng cỏ thấp hèn. Nếu có một từ để diển tả thì đó là từ khiêm nhường. Vâng Đức Chúa Trời muốn nhắc chúng ta rằng Ngài đến thế gian một cách khiêm nhượng và cho những ai có tấm lòng khiêm nhường. Đây là những người ý thức rằng tấm lòng, tâm hồn của họ cũng như chuồng chiên xưa kia tưởng như sạch sẻ nhưng thật sự chỉ là nơi tối tăm, cần được dọn rửa! Ngày xưa thập tự giá là hình ảnh của một sự trừng phạt kinh khiếp, man dã nhất nhưng hôm nay đã biến thành một biểu tượng của nhân đạo, cứu rỗi. Cũng vậy, chuồng chiên máng cỏ là nơi bần hèn nhất lại được chưng bày mỗi mùa lễ Giáng Sinh để nhắc loài người về phẩm hạnh khiêm nhường của Đức Chúa Jê-sus Christ, về tình yêu thương vô bờ bến của Thượng Đế đối với những người sống nơi tối tăm nhất, bần hàn nhất của xã hội. Quý vị có tấm lòng khiêm nhường trước Chúa hay không? Có ý thức rằng tấm lòng tôi cũng như chuồng chiên tối tăm kia cần được Jê-sus đến để ngự vào.
Theo lời Kinh Thánh thì “vì nhà quán không có đủ chỗ ở”, nên Jê-sus Christ phải hạ sinh nơi chuồng chiên máng cỏ thấp hèn. Trong đêm đông giá lạnh, nhà quán, phòng trọ, hay khách sạn là nơi tạm chân ấm áp cho người từ phương xa đến. Nhưng đêm Jê-sus chào đời, mọi nhà quán, phòng trọ tại làng Bết-lê-hem nhỏ bé đều không còn chỗ trống. Như chuồng chiên tượng trưng cho tấm lòng của những người khiêm nhượng, thì hình ảnh nhà quán tượng trưng cho những cuộc đời quá đầy đủ, bận rộn với đời sống đến nỗi không còn chỗ cho Đức Chúa Trời. Dân sự bấy giờ bận rộn về việc kiểm tra dân số theo lệnh của đại đế La Mã. Lệnh của đại đế phán ra, có ai dám làm trái lại; đây là một việc khẩn cấp. Nhưng trong lúc thiên hạ bận rộn về việc khẩn cấp, về lệnh của đại đế thì Con Trời âm thầm giáng sinh. Đây không phải là một ngẫu nhiên nhưng là một sứ điệp cho thiên hạ: rằng chúng ta đừng quá bận rộn, lo lắng về những đòi hỏi của loài người mà quên đi Thượng Đế.
Thường thì sự đòi hỏi của vật chất, của thế gian chiếm hết thì giờ trong ngày, trong tuần. Tiếng gọi của xác thịt át đi tiếng gọi của Thượng Đế. Ngày này qua ngày nọ, năm này qua năm khác, chạy đuổi theo nhu cầu, đòi hỏi của cuộc sống mỗi ngày, chúng ta quên dần đi nhu cầu về đời sống tâm linh, về sự cần thiết của Thượng Đế trong cuộc sống. Không ai còn có chỗ cho Đức Chúa Trời trong đời sống mình.
Chỉ có vài người có chỗ cho Đức Chúa Trời khi Jê-sus giáng sinh. Ma-ri có chỗ cho Đức Chúa Trời. Bà cam chịu mọi tiếng đồn đãi, thị phi, mọi nhọc nhằn để cưu mang con trẻ cho đến ngày sinh nở. Giô-sép có chỗ cho Chúa bởi vì ông tin lời phán dạy của thiên sứ lấy Ma-ri làm vợ dù biết hôn thê mình đang mang thai. Rồi chấp nhận con trẻ Jê-sus như chính con trai mình, nuôi dưỡng cho đến khi khôn lớn. Những người mục đồng có chỗ cho Đức Chúa Trời. Dù đang phải chăn chiên ngoài đồng vào lúc giữa đêm lạnh lẽo, họ tin lời thiên sứ, tạm ngừng công việc để vào làng Bết-lê-hem mà tôn thờ Con Trời vừa mới hạ sinh. Các bác sĩ từ đông phương có chỗ cho Chúa. Họ không ngại đường xá xa xôi từ phương xa đem theo những của vật quý báu đến tìm nơi con trẻ mới sinh để thờ lạy. Đối với những người này Đức Chúa Trời có một chỗ quan trọng trong đời sống, trong tâm hồn của họ. Không phải họ không thực tế, bỏ quên công việc hằng ngày hay chỉ sống trong mộng tưởng, nhưng đây là người ý thức về giá trị của đời sống tâm linh. Như thánh đồ Phao Lô viết: “Những gì thấy được chỉ là tạm bợ, những gì không thấy được mới là vĩnh viễn”. Người có chỗ cho Chúa là người hiểu rằng bên cạnh đời sống vật chất hữu hình, tạm bợ này còn có một đời sống tâm linh đời đời dù vô hình nhưng rất thật. Vì niềm tin đó, họ bỏ thời gian, công sức để chăm sóc, nuôi dưỡng đời sống tâm linh.
Còn quý vị thì sao? Quý vị có chỗ nào trong đời sống của chính mình để Chúa ở cùng hay không? Hay quý vị quá bận rộn, bôn ba với công việc, với những đòi hỏi của vật chất trước mắt mà không còn một chỗ nào cho Chúa. Nếu cuộc đời của chúng ta có thể ví như một căn nhà với nhiều phòng, có phòng nào quý vị dành cho Thượng Đế. Hay như trong đêm Jê-sus Christ giáng sinh, tất cả nhà quán đều không còn phòng trống, thì căn nhà rộng lớn của quý vị có bản cắm trước sân: không còn chỗ cho Chúa, tất cả phòng đều đầy, hãy đến nhà khác.
Quý vị cũng có thể hỏi: có chỗ cho Thiên Chúa trong đời sống có nghĩa gì? Với một số, có chỗ cho Chúa là chân thành tin nhận Đức Chúa Jê-sus Christ là cứu Chúa của cuộc đời mình. Hãy để Ngài giáng sinh trong tâm hồn của quý vị. Ý thức rằng đời sống tâm linh của tôi cũng tăm tối như chuồng chiên máng cỏ cần được ánh sáng Trời chiếu dọi vào. Với một số khác cần sự ăn năn, thay đổi; đây là những người dù đã có lần tin nhận Chúa nhưng vẫn còn đang để cho đời sống vật chất, tiếng gọi của xác thịt cai trị đời sống mình. Hãy mời Chúa đến làm chủ đời sống; hãy mở tất cả các cửa phòng, ngõ ngách để Đức Thánh Linh có thể xem xét rồi giúp dọn dẹp những rơm rác, bụi bậm. Có thể đó là một căn phòng cố ý khóa kín vì có những bí mật đen tối mà quý vị không muốn cho ai biết; hay là một căn phòng mà mỗi lần bước vào thì lại thấy đau buồn vì những kỷ niệm hay mất mát ngày xưa mà như mới hôm qua. Hãy để Chúa ngự và làm chủ nhà, quý vị sẽ kinh nghiệm được sự thay đổi kỳ diệu trong cuộc đời mình.
Chúa không ép buộc chúng ta phải có chỗ cho Ngài trong cuộc sống. Kinh Thánh viết rằng Đức Chúa Jê-sus đang đứng ngoài cửa lòng của chúng ta mà gõ, nếu ai nghe tiếng Ngài mà mở cửa nhà thì Ngài sẽ vào và cùng ăn tối với chúng ta. Mỗi người phải tự nguyện mở cửa lòng mình để Thiên Chúa ngự vào. Ngài không ngại chuồng chiên, máng cỏ thấp hèn, chỉ e rằng nhà quán không có chỗ cho Ngài.
Có người viết những lời hết sức ý nghĩa: “Bản lề của nhân loại nằm nơi cửa chuồng chiên Jê-sus hạ sinh”. Quả thật vậy, sự giáng sinh của Jê-sus Christ thay đổi cả lịch sử của nhân loại. Nhưng Ngài không chỉ đến để thay đổi lịch sử nhân loại mà để thay đổi cuộc đời của mỗi người tin nhận với Ngài. Chúng ta có thể hát mừng Chúa giáng sinh, nhưng bài hát đó có ý nghĩa gì nếu cá nhân chúng ta không biết Chúa là ai và tại sao Ngài lại đến thế gian? Chúng ta có thể tặng quà cho nhau, nhưng nếu quên rằng món quà lớn nhất, quan trọng nhất, giá trị nhất trong mùa lễ là sự giáng thế của con Trời, thì quà tặng cũng không trọn vẹn ý nghĩa. Quả như lời thiên sứ đã phán cùng các mục đồng: “Vì này ta báo cho các người một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa".
Ê-ma-nu-ên, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Nhưng mỗi người cần có chỗ cho Chúa trong cuộc đời mình. Tôi tha thiết kêu gọi quý vị sẽ suy nghĩ về một câu hỏi vô cùng quan trọng đến sự sống đời đời: quý vị có chỗ cho Đức Chúa Jê-sus Christ trong cuộc đời, trong tâm hồn mình hôm nay hay không. Tôi cũng tha thiết kêu gọi quý vị không chỉ suy nghĩ nhưng hãy quyết định trong đêm nay, ngay giờ phút này, mở cửa lòng mình ra để mời Chúa đến ngự vào. Chúa không ngại chuồng chiên, máng cỏ tối tăm, nghèo hèn, dơ bẩn đâu, chỉ sợ rằng nhà quán không còn chỗ cho Ngài. Với một số con cái Chúa, xin hãy xem lại các phòng trong cuộc đời mình để xem có phòng nào quá bí mật, đóng kín cho đến nay vẫn chưa để Chúa vào. Hãy mở cửa phòng đó ra để Ngài đến ở. Chúa sẽ biến căn phòng ấy trở thành nơi sáng sủa, sạch sẻ, thánh khiết.
