Chúa và Người Thuận Hòa
Đến mùa GS hầu hết mọi người đều nghĩ về hòa bình, về sự bình an, hy vọng trong cuộc sống. Những bài hát GS, những tấm thiệp GS luôn nói về những gì êm đềm đêm thánh yên đềm, thậm chí thi vị hóa hình ảnh chuồng chiên máng cỏ. Đây cũng là điều cần thiết cho tất cả chúng ta sau một năm dài phải bương ba với việc làm, khó khăn trong quan hệ và phải đối diện với bao nhiều nan đề trong đời sống.
Dĩ nhiên GS đem đến bình an, hy vọng, nhưng không như chúng ta thường nghĩ. Chúng ta luôn có hai câu căn bản nhưng hỏi quan trọng về ý nghĩa GS. Câu hỏi thứ nhất là ĐCJC xuống thế gian thế nào? Câu hỏi thứ hai là Tại sao Ngài lại hạ thế xuống trần? Câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất là ĐCJC xuống thế gian qua sự nhập thể, tức giáng sinh làm người. Câu trả lời cho câu hỏi thứ hai là Chúa xuống thế gian để tội nhân được hòa giải cùng ĐCT.
Ba điều trong bài giảng sáng nay: 1) Sự cần thiết của sự hòa giải; 2) Con đường hòa giải; 3) Kết quả của sự hòa giải.
SỰ CẦN THIẾT CỦA SỰ HÒA GIẢI
Lu-ca đoạn 1 viết về một thầy tế lễ Xa-cha-ri. ĐCT hứa sẽ ban cho ông và vợ ông một con trai để dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Con trai đó là Giăng Báp-tít. Sau khi Giăng Báp-tít sinh ra, Xa-cha-ri nói về đứa con tương lai và việc con mình sẽ làm như sau: Còn con, hài nhi, con sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao. Vì con sẽ đi trước mặt Chúa, dọn đường cho Ngài, 77để cho dân Ngài biết sự cứu rỗi, bởi ơn tha tội, 78do lòng thương xót của Đức Chúa Trời chúng ta, bình minh từ trời cao sẽ tỏa sáng trên chúng ta, 79soi sáng cho những người ngồi trong cõi tối tăm và trong bóng sự chết, để dìu dắt bước chân chúng ta vào nẻo an bình. (Lu-ca 1:76-79).
Tại sao ĐCJC giáng sinh làm người? Để qua Ngài dân sự biết sự cứu rỗi, bởi ơn tha tội, để được dìu dắt bước chân vào nẻo an bình. Cứu tội để làm gì? Để con người có thể hòa thuận với ĐCT, để con người có thể nối lại quan hệ đã gãy vỡ với ĐCT vì tội lỗi của họ qua sự chịu chết chuộc tội và sống lại của ĐCJC, Đấng Cứu Thế giáng sinh làm người.
Chúng ta cũng thường nghe lời của một bài thánh ca GS quen thuộc “Kìa thiên binh cùng vang tiếng hát”: Kìa, thiên binh cùng vang tiếng hát, Chúc Thánh Đế mới sinh trên đất! Bình an ân trạch ban khắp cả, Chúa và người đôi bên thuận hòa. Trong bản bài hát nguyên thủy Anh ngữ câu Chúa và người đôi bên thuận hòa thật là Chúa và tội nhân, người có tội đôi bên thuận hòa (God and sinners reconciled).
Tại sao tội nhân phải cần được hòa giải cùng ĐCT? Vì tội lỗi mọi người vị phạm. Mọi người đều phạm tội thiếu mất sự vinh hiển của ĐCT. (Rô-ma 5:8) Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa. (Ê-sai 59:2) Giữa ĐCT và con người có một vực thẳm, hố sâu không đáy, một khoảng cách mênh mông, bao la mà không có công đức nào, việc lành nào, tôn giáo nào có thể nối lại.
Vì con người không thể tự cứu mình, nên trong tình yêu thương vô hạn, Ngôi Hai nhập thể để hòa giải quan hệ giữa Trời và tội nhân: Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới. 18 Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài, và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta. (2 Cô-rinh-tô 5:17-18)
Và cũng chính PL viết trong thư gửi cho HT Cô-lô-se: Trước kia, anh chị em đã bị xa cách với Đức Chúa Trời, tâm trí anh chị em thù nghịch với Ngài do công việc ác của mình, 22nhưng bây giờ nhờ Đức Con hy sinh thân báu, Đức Chúa Trời đã giải hòa với anh chị em để trình diện anh chị em trước mặt Ngài, là những người thánh sạch không tì vết, không ai chê trách được (Cô-lô-se 1:21-22 - BDM).
ĐCJC phán: Ta đến không phải để hủy bỏ luật pháp nhưng để làm trọn. GS là ứng nghiệm của lời hứa của ĐCT cùng dân sự về một Đấng Mê-si-a, Đấng Cứu Thế. Nếu chúng ta không tin vào lời hứa trong CU thì làm thế nào có thể tin vào lời hứa trong TU về sự Chúa trở lại.
KTTU là hình mà bóng trong KTCU; có nghĩa là khi đọc TU chúng ta mới hiểu rõ hơn CU. Như khi đọc lời PL viết trong Cô-lô-se 1: nhưng bây giờ nhờ Đức Con hy sinh thân báu, Đức Chúa Trời đã giải hòa với anh chị em đặng làm cho anh em đứng trước mặt Ngài cách thánh sạch không vết, không chỗ trách được, chúng ta mới hiểu rõ hơn lý do và mục đích của luật pháp Mô-se về các luật thanh tẩy, làm sạch trong KTTU khi dân sự đến với ĐCT nơi đền tạm.
Tội lỗi khiến con người trở nên không thánh khiết, đầy tì vết, ô nhơ trước ĐCT. Chính những nhơ bẩn, không thánh khiết này ngăn cách, khiến con người không thể đến với ĐCT hòa toàn thánh khiết. Nhưng trong CU dân sự vẫn có thể đến với ĐCT thánh khiết tại Đền Tạm qua việc thực hiện các luật thanh tẩy, làm sạch như viết trong Lê-vi-ký.
Theo luật pháp Mô-se dân sự không thể đến thờ phượng ĐCT hay dâng của lễ tại Đền Tạm khi họ bị ô uế. Một người có thể xem là ô uế khi thân thể dơ bẩn, dính bùn xình, bụi đất; ô uế khi chạm đến người chết, súc vật chết, thú vật không sạch (như heo, loài bò sát), hay khi người đó bị bệnh ngoài da, có máu mủ, bị phung cùi… Lê-vi-ký từ đoạn 11-15 viết rất nhiều chi tiết về những điều xem là ô uế và về các luật thanh tẩy, nếu qv muốn đọc.
Trước khi có thể đến thờ phượng ĐCT tại Đền Tạm, mọi người đều phải tắm rửa hoàn toàn sạch sẻ. Không ai dơ bẩn, ô uế có thể đến thờ phượng hay dâng của lễ thiêu tại Đền Tạm. Không chỉ tắm rửa thân thể nhưng còn phải giặc sạch cả quần áo. Giả như sau khi đã tắm rửa, quần áo đã giặt sạch nhưng trên đường đến Đền Tạm chạm phải vật ô uế, thì phải trở về nhà để tắm rửa lại, để giặt lại quần áo.
Qv có thể thấy rõ rằng không ai có thể chỉ tắm rửa thân thể, giặt giũ quần áo một lần là đủ. Những điều này chắc chắn phải được lập lại mỗi khi đến Đền Tạm để thờ phượng hay dâng của lễ cho ĐCT. Nhưng không chỉ giữ cho khỏi ô uế, dơ bẩn, nhưng người phung cùi, bịnh ngoài da, da có máu mủ, người xuất huyết, thậm chí người khuyết tật cũng không thể đến thờ phượng tại đền tạm.
Khi mới đọc qua những chi tiết về sự ô uế và các luật pháp về sự thanh tẩy, chắc chắn hầu hết, nếu không nói tất cả đều không hiểu rõ lý do tại sao luật pháp Mô-se lại có những điều chi tiết, phức tạp, để làm gì, với mục đích gì. Mục đích là để nhắc dạy dân sự rằng ĐCT là Đấng hoàn toàn thánh khiết, không chấp nhận mọi ô uế, tì vết, khiếm khuyết dù có nhỏ đến đâu dưới mắt con người. Rằng dân sự không thể đến với ĐCT thánh khiết khi vẫn còn ô uế, dơ bẩn, khi có khuyết tật bởi vì Ngài là Đấng hoàn toàn thánh khiết.
Những lời dạy về luật thanh tẩy, làm sạch thật ra cũng là lẽ thường tình có thể thấy được trong cuộc sống hàng ngày. Không ai đến gặp một người nào khi dơ dái, bẩn thiểu, hôi hám. Điều này cho thấy ngay cả đối với con người, tất cả chúng ta đều không thể đến gặp một người khác trong tình trạng dơ bẩn, hôi hám, đầu tóc bù xù, ăn mặc không thích hơp. Thì làm thế nào con người tội lỗi, nhơ nhớp có thể trình diện trước ĐCT thánh khiết, cao trọng, Đấng chủ tể muôn loài?
Khi lớn lên tại VN (ngay cả tại đây) rất nhiều thanh niên, thiếu nữ gồm cả chính tôi cũng bị mụn, một nỗi khổ tâm vô cùng. Nếu người nào may mắn, chỉ có vài chấm đen trên mủi. Nhưng thường thì mụn rất nhiều; có khi làm mủ nhìn ghê lắm! Khi có nhiều mụn trên mặt qv nghĩ một thanh niên, thiếu nữ có muốn đi gặp người khác phái hay không? Dĩ nhiên là không. Bằng mọi cách phải cho hết hay bớt mụn nhiều mới có thể đi gặp người khác phái hay đến những nơi công cộng có nhiều người cùng lứa tuổi với mình. Cũng vậy ai muốn ra đường, đi làm hay gặp người trong hảng xưởng, tiệm tùng sau khi thức dậy mà không rửa mặt, tắm rửa, chải đầu, tha son đánh phấn.
Nhưng quan trọng hơn hết các luật pháp thanh tẩy nhằm để dạy dân sự rằng sự ô uế về thân thể, quần áo và sự thanh tẩy là hình ảnh của sự ô uế về tâm linh, trong tấm lòng con người. Dù có cố đến mấy để tắm rửa, thanh tẩy thân thể, quần áo bên ngoài nhưng ai có thể thanh tẩy những ý tưởng tội lỗi, nhơ nhớp, những mê đắm của dục vọng, thể xác bên trong suy nghĩ, tấm lòng, tâm linh một người? Một người bề ngoài có thể hoàn toàn thơm tho, sạch sẻ, nhưng ai biết được trong lòng họ nghĩ gì?
Vậy những luật pháp thanh tẩy, về những điều ô uế, về các lễ dâng chuộc tội nhằm để nhắc dân sự và cả chúng ta hôm nay về chính tội lỗi đã làm cho tấm lòng, tâm linh con người trở nên ô uế, không xứng đáng để đến với ĐCT thánh khiết.
Đây chính là ý nghĩa của lời PL dạy về sự hồi phục quan hệ qua ĐCJC: nhưng bây giờ nhờ Đức Con hy sinh thân báu, Đức Chúa Trời đã giải hòa với anh chị em đặng làm cho anh em đứng trước mặt Ngài cách thánh sạch không vết, không chỗ trách được. Cho những ai thật lòng, trọn lòng ăn năn, xưng nhận tội mình (ý thức về sự ô uế theo luật Mô-se), đặt trọn niềm tin cậy vào sự tha thứ, cứu tội của ĐCJC, họ được xưng là công bình, trở nên thánh sạch không vết, không phải vì họ nhưng nhờ chiếc áo công chính của ĐCJC để có thể đến với ĐCCha thiêng liêng, thánh khiết.
Đây chính là lý do con người tội lỗi cần phải được hòa giải cùng ĐCT qua sự giáng sinh, chịu chết chuộc tội và sự sống lại của ĐCJC.
CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI
Một số người nghĩ rằng ĐCT là Đấng yêu thương, mau tha thứ, chậm nóng giận nên sẽ tha thứ cho mọi người. Chuyện kể về một triết gia người Pháp, có thể là Voltaire, trước khi qua đời, người thân hỏi: ông có sợ khi phải đứng trước ĐCT hay không? Trả lời: Hoàn toàn không. Vì ĐCT sẽ tha thứ mọi tội. Đó là công việc của Ngài.
Thật là vô lý. Giả sử một người phá cửa vào nhà qv, đập phá đồ, lấy hết tiền bạc, vòng vàng. Sau khi bị bắt, người đó nói với qv, tôi xin lỗi! Xin lỗi không không đủ, kẻ phạm tội phải trả giá cho tội hắn phạm và phải bồi thường thiệt hại đã gây ra, phải trả lại tiền bạc, vàng bạc đã lấy cướp. Hắn sẽ phải ra trước tòa án, sẽ bị tuyên án, và vào tù. Khi con người vi phạm luật pháp còn phải trả giá cho vi phạm, thì huống chi khi con người vi phạm luật pháp ĐCT.
PL giải thích: và nhờ Ngài mà hòa giải muôn vật với chính mình, bởi huyết Ngài trên thập tự giá đem bình an đến cho cả những vật dưới đất và những vật trên trời. Còn anh em ngày trước vốn xa cách Đức Chúa Trời, trở nên thù nghịch với Ngài bởi những ý tưởng và hành động xấu xa của anh em, 22nhưng bây giờ Đức Chúa Trời đã hòa giải qua sự chết thân xác của Con Ngài, để trình diện anh em một cách thánh sạch, không tì vết, không chỗ chê trách được trước mặt Ngài (Cô-lô-se 1:21-22 – BHĐ)
Trở lại CU, khi đến đền tạm để thờ phượng, mọi người không đến tay không. Nhưng phải đem theo của lễ dâng, của lễ chuộc tội, chiên cừu. Khi người nào trong vòng các ngươi dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va, thì phải dâng súc vật, hoặc bò, hoặc chiên. 3 Nếu lễ vật của người là của lễ thiêu bằng bò, thì phải dùng con đực không tì vít, dâng lên tại cửa hội mạc, trước mặt Đức Giê-hô-va, để được Ngài đẹp lòng nhậm lấy. 4 Người sẽ nhận tay mình trên đầu con sinh, nó sẽ được nhậm thế cho, hầu chuộc tội cho người. (Lê-vi-ký 1:3-4)
Để có thể được chuộc tội, người đến đền tạm phải dâng của lễ hoặc bò, hoặc chiên đực hoàn toàn không tì vết. Rồi người sẽ đặt tay trên đầu con sinh tế nó sẽ được nhậm thế cho, hầu chuộc tội cho người. Hay dâng của lễ đó để làm sinh tế chuộc tội qua huyết của chiên cừu. Điều này có nghĩa gì? Khi một người ô uế chạm người đã thanh tẩy sạch sẻ thì người đó sẽ trở nên ô uế. Cũng vậy khi một người phạm tội đặt tay trên con chiên, bò không tì vết, tội của người đó sẽ thay thế cho sự ô uế của người phạm tội. Cũng vậy huyết chiên cừu nhằm để chuộc tội. Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ. (Hê-bơ-rơ 9:22)
Lê-vi-ký 16 viết về đại lễ chuộc tội (Day of Atonement). Trong ngày đó A-rôn, thầy tế lễ thượng phẩm, người duy nhất có thể vào nơi chí thánh để dâng của lễ chuộc tội cho toàn dân sự Y-sơ-ra-ên, là người duy nhất làm lễ. Thường ngày đền thờ nhộn nhịp đầy người, các thầy tế lễ, người đến dâng của lễ. Nhưng trong ngày đại lễ chuộc tội, chỉ một mình A-rôn là cử hành mọi nghi lễ. Hình ảnh A-rôn một mình cử hành lễ chuộc tội cho dân sự là bóng mà hình là ĐCJC phải trả qua mọi thương khó gồm cả cái chết trên thập giá.
Trong ngày quan trọng đó, A-rôn sẽ chọn hai con dê đực để làm lễ chuộc tội và lễ thiêu. Rồi A-rôn sẽ đặt tay trên đầu một con và sẽ thả nó ra đồng vắng: đó là con chiên gánh tội. Còn con chiên kia sẽ làm của lễ dâng cho tội của chính ông và gia đình. Khi A-rôn đặt tay trên đầu con chiên chuộc tội, đó là hình ảnh chuyển nhận tội lỗi và không tì vết: A-rôn nhận sự không tì vết từ chiên và chiên nhận lấy tội lỗi của A-rôn. Còn con chiên là để chuộc tội cho A-rôn và cả gia đình ông trước khi ông có thể vào nơi chí thánh để dâng của lễ chuộc tội cho toàn dân sự Y-sơ-ra-ên.
Chỉ khi được chuộc tội A-rôn mới có thể vào nơi chí thánh để dâng của lễ qua huyết của con cừu hoàn toàn không tì vết để chuộc tội cho chính ông và toàn dân sự Y-sơ-ra-ên. Nhưng KT viết: Ngài đã bước vào nơi Chí Thánh một lần đủ cả, không dùng máu dê đực và bò con, nhưng dùng chính huyết mình để đem đến sự cứu chuộc đời đời cho chúng ta. (Hê-bơ-rơ 9:12) Không chỉ cứu chuộc đời đời nhưng còn để: Vì nhờ một sinh tế duy nhất, Ngài làm cho những người được thánh hóa trở nên toàn hảo mãi mãi. (Hê-bơ-rơ 10:12).
Đây chính là cách thức để con người được hòa giải với ĐCT. CU là bóng, TU là hình: ĐCJC, Con Chiên không tì vết, hoàn toàn thánh khiết, hoàn toàn vô tội chịu hy sinh, đổ huyết trên thập giá để chuộc tội cho con người. Khi tin nhận Chúa, sự thánh khiết của Ngài trở nên sự thánh khiết cho chúng ta, sự chuộc tội của Ngài khiến chúng ta được xưng công chính trước ĐCT.
KẾT QUẢ CỦA SỰ HÒA GIẢI
PL viết về kết quả của sự hòa giải như sau: Còn anh em ngày trước vốn xa cách Đức Chúa Trời, trở nên thù nghịch với Ngài bởi những ý tưởng và hành động xấu xa của anh em, 22nhưng bây giờ Đức Chúa Trời đã hòa giải qua sự chết thân xác của Con Ngài, để trình diện anh em một cách thánh sạch, không tì vết, không chỗ chê trách được trước mặt Ngài. (Cô-lô-se 1:21-22)
Từ tội nhân với những ý tưởng và hành động xấu xa, qua sự chết của ĐCJC trên thập giá để trả giá cho tội lỗi tôi và qv, khi tin nhận Chúa Giê-xu là Cứu Chúa đời sống sẽ được hòa giải với ĐCT. Như lời PL đã viết trong thư Rô-ma: Vì vậy, đã được xưng công chính bởi đức tin, chúng ta được bình an với Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta. (Rô-ma 5:1)
Sự bình an cho những người được hòa giải trong quan hệ với ĐCT là một bình an tuyệt đối, chắc chắn, bảo đảm, hoàn toàn không tùy thuộc vào hoàn cảnh, không ai có thể cướp lấy, không bao giờ mất đi dù trong đời này hay sau khi từ giả đời này.
Hơn thế nữa, ĐCJC còn ban cho những ai tin nhận Ngài sự bình an trong tâm hồn dù ngay trong những nghịch cảnh của đời sống: Ta để sự bình an lại cho các con; ta ban sự bình an ta cho các con; ta cho các con sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các con chớ bối rối và đừng sợ hãi. (Giăng 14:17).
Tại sao ĐCJC giáng sinh làm người, sinh ra trong chuồng chiên máng cỏ thấp hèn? Để hòa giải tội nhân với ĐCT, để ai tin Ngài có thể hồi phục lại quan hệ đã gãy vỡ với ĐCT và được mặc áo công chính của Đấng Christ để có thể được trình diện trước ĐCT cách thánh sạch, không tì vết, không chỗ chê trách.
Bình an ân trạch ban khắp cả, Chúa và người đôi bên thuận hòa.
